1. Mục tiêu, yêu cầu cần đạt của môn học
1. Mục tiêu
1.1. Mục tiêu chung
Môn GDTC giúp HS hình thành, phát triển kĩ năng chăm sóc sức khoẻ, kĩ năng vận động, thói quen tập luyện TDTT và rèn luyện những phẩm chất, năng lực để trở thành người công dân phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế, góp phần phát triển tầm vóc, thể lực người Việt Nam; đồng thời phát hiện và bồi dưỡng tài năng thể thao.
1.2. Mục tiêu môn Giáo dục thể chất cấp Tiểu học
Môn GDTC giúp HS biết cách chăm sóc sức khoẻ và vệ sinh thân thể, bước đầu hình thành các kĩ năng vận động cơ bản, thói quen tập luyện TDTT, tham gia tích cực các hoạt động thể dục, thể thao nhằm phát triển các tố chất thể lực, làm cơ sở để phát triển toàn diện và phát hiện năng khiếu thể thao.
1.3. Mục tiêu môn Giáo dục thể chất ở lớp 5
Yêu cầu cần đạt của môn GDTC lớp 5 là giúp HS:
- Biết thực hiện theo hướng dẫn về chế độ dinh dưỡng trong tập luyện nhằm tăng khả năng vận động.
- Thực hiện được nội dung đội hình đội ngũ; các động tác bài tập thể dục có kết hợp với đạo cụ; các tư thế và kĩ năng vận động cơ bản; các động tác cơ bản của nội dung thể thao ưa thích; xử lí được một số tình huống trong tập luyện.
- Bước đầu vận dụng được kiến thức, kĩ năng đã học vào các hoạt động tập thể, tổ chức chơi được một số trò chơi vận động phù hợp với yêu cầu.
- Biết sửa sai động tác thông qua nghe, quan sát và tập luyện.
- Hoàn thành lượng vận động của bài tập.
- Có trách nhiệm với tập thể và ý thức giúp đỡ bạn trong tập luyện.
- Tự giác, dũng cảm, thường xuyên tập luyện TDTT.
2. Yêu cầu cần đạt
2.1. Yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu và năng lực chung
Môn GDTC góp phần hình thành và phát triển ở HS các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung theo các mức độ phù hợp với môn học, cấp học đã được quy định tại Chương trình tổng thể.
Môn GDTC cấp Tiểu học góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục phát triển phẩm chất và năng lực của HS. Các phẩm chất chủ yếu gồm: yêu nước, nhân ái, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm. Các năng lực chung gồm: tự chủ và tự học; giao tiếp và hợp tác; giải quyết vấn đề và sáng tạo.
2.2. Yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù
Môn GDTC giúp HS hình thành và phát triển năng lực thể chất với các thành phần sau: năng lực chăm sóc sức khoẻ, năng lực vận động cơ bản, năng lực hoạt động TDTT.
Môn GDTC cấp Tiểu học đặt ra những yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù như sau:
- Những yêu cầu cần đạt chung
- Năng lực chăm sóc sức khoẻ: Biết và bước đầu thực hiện được vệ sinh cá nhân, vệ sinh chung và vệ sinh trong tập luyện TDTT. Biết và bước đầu thực hiện được một số yêu cầu cơ bản của chế độ dinh dưỡng để bảo vệ, tăng cường sức khoẻ. Nhận ra và bước đầu có ứng xử thích hợp với một số yếu tố cơ bản của môi trường tự nhiên có lợi và có hại cho sức khoẻ.
- Năng lực vận động cơ bản: Nhận biết được các vận động cơ bản trong chương trình môn học. Thực hiện được các kĩ năng vận động cơ bản. Có ý thức thường xuyên vận động để phát triển các tố chất thể lực.
- Năng lực hoạt động TDTT: Nhận biết được vai trò của hoạt động TDTT đối với cơ thể. Thực hiện được kĩ thuật cơ bản của một số nội dung thể thao phù hợp với bản thân. Tự giác, tích cực trong tập luyện TDTT.
- Những yêu cầu cần đạt cho HS lớp 5
- Năng lực chăm sóc sức khoẻ: Biết và thực hiện vệ sinh đảm bảo an toàn trong giờ tập luyện của môn GDTC. Vệ sinh trong khởi động, tập luyện, hồi phục và nghỉ ngơi sau tập luyện.
- Năng lực vận động cơ bản: Nhận biết được các vận động cơ bản khi đi đều vòng các hướng, trò chơi rèn luyện đội hình, đội ngũ; Các động tác thể dục kết hợp các đạo cụ phù hợp lứa tuổi, trò chơi bổ trợ khéo léo; Các bài tập rèn luyện kĩ năng thăng bằng, bật, nhảy, trò chơi rèn luyện kĩ năng phối hợp vận động. Có ý thức thường xuyên vận động để phát triển các tố chất thể lực.
II. giới thiệu sách giáo khoa giáo dục thể chất 5
SGK GDTC 5 được biên soạn theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực của HS, đảm bảo tính cơ bản, sáng tạo và thực tiễn.
1. Cấu trúc sách giáo khoa Giáo dục thể chất 5
1.1. SGK Giáo dục thể chất 5 có một số điểm đổi mới căn bản khi thiết kế các nội dung theo phần, chủ đề
Mỗi chủ đề được biên soạn theo từng bài, mỗi bài dạy trong một số tiết (thay vì 1 tiết như trước đây). Sách có 16 bài, được dạy trong 70 tiết và được cấu trúc thành 3 phần:
- Phần 1: Kiến thức chung, được thiết kế để học lồng ghép trong mỗi tiết học.
- Phần 2: Vận động cơ bản, gồm 3 chủ đề, với 10 bài học trong 45 tiết: Đội hình đội ngũ (3 bài – 14 tiết); Bài tập thể dục (3 bài – 7 tiết); Tư thế và kĩ năng vận động cơ bản (4 bài – 24 tiết).
- Phần ba: Thể thao tự chọn, gồm 2 chủ đề: Môn Bóng rổ (3 bài – 18 tiết) và môn Bơi (3 bài – 18 tiết).
1.2. Cấu trúc bài học
Mỗi bài học gồm 4 hoạt động:
- Mở đầu: Khởi động (chuyến cơ thể từ trạng thái tĩnh sang trạng thái động) và chơi các trò chơi bổ trợ khởi động.
- Kiến thức mới: Nội dung bài học.
- Luyện tập: Tập luyện, chơi trò chơi vận động để củng cố nội dung bài học và phát triển thể lực.
- Vận dụng: Củng cố và khắc sâu kiến thức đã học qua các bài tập, tình huống có thể diễn ra trong thực tiễn.
2. Nội dung sách giáo khoa Giáo dục thể chất 5
- Trong cả năm học, HS được học các nội dung sau:
- Kiến thức chung: Chế độ ăn uống đảm bảo dinh dưỡng trong tập luyện; Những lưu ý về chế độ ăn uống đảm bảo dinh dưỡng trong tập luyện.
- Đội hình đội ngũ: Luyện tập các nội dung đội hình đội ngũ đã học, bao gồm: Bài tập phối hợp đội hình đội ngũ; Bài tập phối hợp biến đổi đội hình; Bài tập phối hợp đi đều vòng các hướng; Trò chơi rèn luyện đội hình đội ngũ.
Bài tập thể dục: Các động tác thể dục kết hợp sử dụng đạo cụ (cờ, hoa, vòng, gậy....) phù hợp với đặc điểm lứa tuổi; Trò chơi phát triển khéo léo.
- Tư thế và kĩ năng vận động cơ bản: Bài tập rèn luyện kĩ năng lăn; Bài tập rèn luyện kĩ năng lộn xuôi; Bài tập rèn luyện kĩ năng leo; Bài tập rèn luyện kĩ năng trèo; Trò chơi rèn luyện kĩ năng phối hợp vận động.
Thể thao tự chọn: Tập luyện một trong các nội dung thể thao phù hợp với đặc điểm cá nhân và lứa tuổi; Trò chơi vận động bổ trợ môn thể thao ưa thích.
SGK GDTC 5 dâm bảo các yêu cầu cần đạt, bám sát hướng dẫn về phương pháp giáo dục, cách thức kiểm tra – đánh giá được quy định trong Chương trình Giáo dục phố thông môn GDTC và các thông tư hướng dẫn đối với lớp 5. Mỗi nội dung, hệ thống các bài tập thực hành, trò chơi được thiết kế theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực, mang tỉnh trực quan, gắn với thực tiễn, đảm bảo phù hợp cho tất cả các đối tượng HS lớp 5.
- Một số điểm mới, khác biệt của SGK GDTC 5 so với sách giáo viên môn Thể dục lớp 5 trước đây:
- Các nội dung của cuốn sách được lồng ghép rất nhiều hoạt động, trò chơi giúp HS cùng GV có thể trải nghiệm và tổ chức lớp học một cách đa dạng.
- Nhiều nội dung được lồng ghép khéo léo các nội dung hoạt động thuộc lĩnh vực văn học, âm nhạc, tự nhiên – xã hội, bảo vệ môi trường.... giúp HS cảm thấy sự gần gũi của các hoạt động TDTT quanh ta, đồng thời còn tăng thêm hiểu biết, vốn sống cho các em.
- Nội dung Kiến thức chung được thiết kế để dạy lồng ghép linh hoạt trong các hoạt động của mỗi buổi tập (Phần mở đầu hoặc Phần kết thúc) dưới dạng câu hỏi, hình vẽ gợi mở, các tình huống gắn với cuộc sống....
- Do đặc thù của sách là dành cho lứa tuổi tiểu học, công tác minh hoạ trong SGK GDTC 5 được đặc biệt chú trọng, đảm bảo tính xuyên suốt, tính chính xác và thẩm mĩ cao trong toàn bộ cuốn sách. Từng chi tiết nhỏ như kĩ thuật động tác, tư thế thân người, góc nhìn, phù hợp lứa tuổi, bối cảnh gần gũi với thực tế,... đều được cân nhắc rất kĩ lưỡng.
III. định hướng phương pháp dạy học môn giáo dục thể chất lớp 5
1. Phương pháp dạy học môn Giáo dục thể chất lớp 5
Môn GDTC cấp Tiểu học đặt ra những yêu cầu cần đổi mới phương pháp dạy học như sau:
- Phương pháp chủ đạo để dạy học môn GDTC ở Tiểu học là lấy HS làm trung tâm, GV là người thiết kế, cố vấn, trọng tài, nêu vấn đề, gợi mở và hướng dẫn để HS hiểu, biết và vận dụng được vào thực tiễn, tích cực tập luyện, tự mình trải nghiệm, tự phát hiện bån thân và phát triển thể chất.
- Ngoài các phương pháp dạy học truyền thống và đặc trưng của môn học như: trực quan, sử dụng lời nói, tập luyện, sửa sai, trò chơi, thi đấu, trình diễn, phù hợp với sức khoẻ HS, GV cần sử dụng thành tựu của công nghệ thông tin để tổ chức giờ học thêm sinh động, hiệu quả.
- Môn GDTC cấp Tiểu học đòi hỏi GV phải biết tích hợp kiến thức của nhiều môn khác; phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường; đa dạng hoá các hình thức dạy học; đảm bảo cân đối giữa hoạt động nhóm và cá nhân, giữa nội khoá theo lớp và ngoại khoá theo câu lạc bộ; giúp HS từng bước hình thành phẩm chất và năng lực, đáp ứng yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông mới.
Trên cơ sở định hướng chung của chương trình về phương pháp giáo dục, căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi HS lớp 5; quy luật hình thành kĩ năng, kĩ xảo vận động và phát triển các tố chất thể lực; nội dung, yêu cầu và cấu trúc giờ học theo quy định, môn GDTC lớp 5 xác định phương pháp dạy học bộ môn trong mỗi tiết học theo 4 hoạt động sau:
Hoạt động Mở đầu
- Nhiệm vụ: Ổn định tổ chức, phổ biến nội dung, yêu cầu của tiết học; chuẩn bị tâm lí để HS bước vào tiết học một cách thoải mái và hào hứng; chuẩn bị cho cơ thể bước vào hoạt động mới với cường độ và khối lượng vận động cao dẫn.
- Nội dung, phương pháp:
+ Sử dụng phương pháp dùng lời nói và phương pháp trực quan kết hợp với cách đặt câu hỏi, nêu tinh huống có vấn đề để dạy học những nội dung trong mục Kiến thức chung về GDTC lớp 5, cũng như để giới thiệu nội dung, yêu cầu của tiết học.
+ Sử dụng phương pháp đồng loạt để HS thực hiện một số bài tập khởi động có cường độ vận động nhẹ nhàng như: đi bộ, chạy chậm, xoay các khớp, thể dục tay không; chơi trò chơi vận động để khởi động chung và khởi động chuyên môn.
+ Sử dụng các phương tiện trực quan có ứng dụng công nghệ thông tin để tập trung sự chú ý của HS, tạo sự hấp dẫn, hào hứng chuẩn bị thực hiện các nhiệm vụ học tập.
Hoạt động Hình thành kiến thức mới và hoạt động Luyện tập
- Nhiệm vụ: Hình thành và rèn luyện kĩ năng vận động cơ bản, trang bị kiến thức và động tác mới; tập luyện để phát triển thể lực; giáo dục ý chí, phẩm chất đạo đức cho HS.
+ Sử dụng phương pháp dùng lời nói, đó dùng trực quan, hình ảnh và động tác làm mẫu để giới thiệu động tác mới, giảng giải kĩ thuật, nêu cách thực hiện, phương hướng chuyển động, biên độ động tác, mức độ dùng lực,... sau đó cho HS tập thử, tiếp xúc với dụng cụ để tạo cảm giác ban đầu về động tác.
+ Sử dụng các phương pháp tập luyện có định mức, phương pháp lặp lại hoặc thay đổi lượng vận động để HS thực hiện bài tập hoặc trò chơi. Sử dụng kiến thức và kĩ năng mới để giải quyết nhiệm vụ vận động theo yêu cầu và hướng dẫn của GV. Hình thức tập luyện thường được tiến hành theo cá nhân, cặp đôi, tổ, nhóm hoặc cả lớp.
+ Thường xuyên sử dụng phương pháp trò chơi và phương pháp thi đấu trong buổi tập để giải quyết nhiệm vụ phát triển thể lực. Có thể cho HS chơi một trò chơi cụ thể nào đó hoặc cho HS thực hiện một bài tập nào đó dưới dạng trò chơi, chơi theo tổ, nhóm để tăng sự hấp dẫn của tiết học. Cần lựa chọn và tổ chức các trò chơi vận động theo chủ đề nhằm củng cố, rèn luyện và hỗ trợ cho nội dung tiết học.
+ Khối lượng vận động cần sắp xếp theo thứ tự hợp lí từ nhỏ đến lớn, các bộ phận cơ thể đều được luân phiên hoạt động. Cần có nhiều hình thức tập luyện và luôn thay đổi để duy trì không khí hào hứng trong tập luyện của HS. Thời gian tập luyện và nghỉ ngơi cần xen kẽ nhau cho hợp lí.
+ Sử dụng các bài tập có khối lượng nhẹ, thư giãn để đưa cơ thể HS về trạng thái bình thường sau quá trình vận động liên tục. GV có thể tiến hành phần hối tĩnh tiết học dưới nhiều hình thức như: cho HS đi vòng tròn, vừa đi vừa hát; cho HS đi lại tự do trên sân tập hoặc trong lớp, vừa đi vừa vươn vai, hít thở sâu và đều theo nhịp chân; có thể cho HS đi và chạy chậm vài vòng sân hoặc chơi trò chơi vận động mang tính chất hồi tỉnh, thà lỏng cơ bắp. Phương pháp và hình thức tập luyện ở phần này cần thoải mái, vui vẻ, giảm lượng vận động.
Hoạt động Vận dụng
- Nhiệm vụ: Nhận xét ý thức và kết quả quá trình tập luyện của HS trong giờ học; giao nhiệm vụ hoặc hướng dẫn HS tự tập luyện. Đưa ra một số cách vận dụng những kĩ năng vận động vào trong sinh hoạt hằng ngày. Hoạt động này căn giúp cho HS có cảm giác thoải mái, phấn khởi, giảm mệt mỏi để chuẩn bị học tiết học môn khác được thuận lợi.
- Nội dung, phương pháp:
+ Dùng lời nói hoặc các thao tác để diễn đạt động tác nhằm tổng kết, nhận xét, nhắc nhở HS; tình huống vận dụng sau tiết học cần ngắn gọn, súc tích, nêu bật được kết quả buổi tập. Nhận xét, góp ý phải chính xác, cụ thể, mang tính biểu dương, động viên HS.
+ GV cần cập nhật thông tin xã hội tại thời điểm dạy học, đồng thời vận dụng kiến thức của các môn học khác để nhắc nhở, khuyến khích HS tích cực vận động, rèn luyện thân thể hằng ngày, tham gia các hoạt động trải nghiệm để có ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường, phát triển chiều cao, phòng tránh đuối nước,...
2. Phương pháp sửa chữa những sai sót HS thường mắc trong tập luyện
2.1. Những sai sót về kĩ thuật động tác
- Biểu hiện: TTCB không đúng làm hạn chế hiệu quả của động tác tiếp theo. Thực hiện sai trình tự động tác và phương hướng chuyển động các bộ phận của cơ thể. Thiếu đồng bộ giữa các cử động với tư thế thân người.
- Cách khắc phục: Do HS hiểu chưa đúng về yêu cầu của bài tập; biểu tượng về động tác thiếu chính xác nên GV cần hướng dẫn lại tỉ mỉ từng cử động.
2.2. Những sai sót do hạn chế về năng lực phối hợp vận động
- Biểu hiện: Mức độ dùng lực của một số bộ phận để thực hiện bài tập chưa hợp lí, không thực hiện bài tập một cách liên hoàn do bị giật cục. Nhầm lẫn về phương hướng chuyển động, bị mất thăng bằng khi chuyển hướng, chuyển trọng tâm cơ thể từ chân này sang chân kia (hoặc chân trước ra chân sau và ngược lại).
- Cách khắc phục: Cho HS tập luyện các bài tập bố trợ, tập luyện có sự trợ giúp của GV hoặc vật làm chuẩn.
2.3. Những sai sót do hạn chế về trình độ thể lực
Biểu hiện: Thực hiện bài tập thiếu lực hoặc chưa biết cách dùng sức dù đã có nhiều cố gắng.
- Cách khắc phục: Cần đặc biệt chú ý để điều chỉnh lượng vận động cho HS, sử dụng các bài tập bổ trợ, bài tập thể lực để phát triển thể lực chung.
2.4. Những sai sót do bệnh lí và dị tật
Biểu hiện: HS không thể thực hiện đúng yêu cầu của bài tập do các bệnh về cơ, xương, khớp và dị tật bẩm sinh; do không đủ sức khoẻ; thiếu tự tin; ...
- Cách khắc phục: Đối với những HS có tình trạng bệnh lí, GV cần điều chỉnh nội dung, lượng vận động và các bài tập cho phù hợp, nâng cao vai trò nhận thức để tránh phân biệt đối xử giữa HS với nhau. GV thông báo cho gia đình để có biện pháp phòng tránh hoặc cải thiện ở mức tối đa.
3. Phương pháp dạy học nhiều nội dung phối hợp trong một tiết học
GV căn cứ vào nội dung học trong từng chủ đề và gợi ý kế hoạch dạy học để soạn bài dạy cho HS theo thời lượng đã được quy định trong chương trình chung. Trong mỗi chủ đề đều có hai nội dung, đó là nội dung GDTC và trò chơi rèn luyện kĩ năng, tố chất thể lực. Có nhiều cách thiết kế kế hoạch dạy học và kế hoạch bài dạy khác nhau.
3.1. Cách dạy theo nội dung từng chủ đề
Trong mỗi tiết học, tuỳ theo điều kiện tiếp thu của HS, GV phân chia nội dung học và trò chơi vận động theo gợi ý kế hoạch dạy học ở từng chủ đề. Theo cách làm này sẽ thuận lợi hơn cho GV, đó là trong tiết học chỉ cần tổ chức hướng dẫn dạy sao cho HS nắm được một nội dung học và trò chơi vận động để rèn luyện thể lực, kĩ năng vận động.
3.2. Cách dạy phối hợp nội dung ở nhiều chủ đề
Ưu điểm của cách phối hợp này là nội dung học luôn phong phú, HS không bị nhàm chán, quá sức trong quá trình tập luyện. Tuy nhiên, dạy theo cách này sẽ khó hơn, vì GV phải tổ chức lớp và quản lí HS tốt hơn do phải quay vòng nội dung, phương pháp tổ chức lớp cũng như đội hình tập luyện. GV chỉ nên kết hợp nội dung Đội hình đội ngũ với Bài tập thể dục; hoặc kết hợp nội dung Đội hình đội ngũ với Tư thế và kĩ năng vận động cơ bản; hoặc kết hợp nội dung Tư thế và kĩ năng vận động cơ bản với Bài tập thể dục. Còn nội dung Thể thao tự chọn không nên kết hợp với nội dung ở các chủ đề khác, vì nội dung học này là quá trình tập kĩ thuật động tác để hình thành kĩ năng tập luyện.
IV. định hướng đánh giá kết quả học tập môn giáo dục thể chất lớp 5
1. Mục đích đánh giá
Mục đích đánh giả là cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, xác định được thành tích học tập, rèn luyện theo mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt của Chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018 cấp Tiểu học và sự tiến bộ của HS để hướng dẫn hoạt động học tập, điều chỉnh các hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Đánh giá kết quả học tập môn GDTC lớp 5 nhằm:
- Giúp GV điều chỉnh, đổi mới hình thức tổ chức, phương pháp trong quá trình dạy học, giáo dục; kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của HS nhằm động viên, khích lệ và phát hiện những khó khăn chưa thể tự vượt qua của HS để hướng dẫn, giúp đỡ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của HS; góp phần thực hiện và hoàn thành mục tiêu giáo dục ở cấp Tiểu học.
- Giúp HS thấy rõ khả năng của bản thân, có khả năng tự nhận xét, tham gia nhận xét; tự học, tự điều chỉnh cách học; giao tiếp, hợp tác; có hứng thú học tập và rèn luyện để tiến bộ.
- Giúp cha mẹ HS hoặc người giám hộ (sau đây gọi chung là phụ huynh) tham gia đánh giá quá trình và kết quả học tập, rèn luyện, quá trình hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của HS; tích cực hợp tác với nhà trường trong các hoạt động giáo dục HS.
- Giúp cán bộ quản lí giáo dục các cấp nắm bắt tình hình dạy và học để kịp thời chỉ đạo các hoạt động giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá nhằm đạt hiệu quả giáo dục hoặc có các biện pháp điều chỉnh phù hợp.
- Giúp các tổ chức xã hội nắm thông tin chính xác, khách quan, có cơ sở để phát huy nguồn lực xã hội tham gia đầu tư phát triển giáo dục.
2. Yêu cầu đánh giá
- Đánh giá HS thông qua đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt và biểu hiện cụ thể về năng lực chăm sóc sức khoẻ, năng lực vận động cơ bản và năng lực hoạt động TDTT của môn GDTC lớp 5 và những biểu hiện phẩm chất, năng lực của HS lớp 5 theo yêu cầu của Chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018 cấp Tiểu học.
- Đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì bằng nhận xét; kết hợp đánh giá của GV, HS, phụ huynh, trong đó đánh giá của GV là quan trọng nhất.
- Đánh giá sự tiến bộ và vì sự tiến bộ của HS học môn GDTC lớp 5; coi trọng việc động viên, khuyến khích sự cố gắng trong học tập, rèn luyện của HS; giúp HS phát huy nhiều nhất khả năng, năng lực; đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan; không so sánh HS này với HS khác, không đưa ra những câu hỏi chưa phù hợp với lứa tuổi HS lớp 5, không tạo áp lực cho HS, GV và phụ huynh.
3. Đánh giá năng lực, phẩm chất môn Giáo dục thể chất lớp 5
3.1. Đánh giá thường xuyên
a) Đánh giá thường xuyên về nội dung học tập
- GV sử dụng linh hoạt, phù hợp các phương pháp đánh giá về phẩm chất và năng lực thể chất trong quá trình học tập, thông qua lời nói, hành động, thực hành động tác,... để chỉ ra cho HS biết được chỗ đúng, chỗ chưa đúng và cách sửa chữa; lưu nhận xét vào số ghi chép khi cần thiết, có biện pháp cụ thể giúp đỡ kịp thời.
- HS tự nhận xét và tham gia nhận xét kết quả học tập của bạn, nhóm bạn trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập để học và làm tốt hơn.
- Phụ huynh trao đổi với GV về các nhận xét, đánh giá HS bằng các hình thức phủ hợp và phối hợp với GV động viên, giúp đỡ HS trong quá trình học tập, rèn luyện.
b) Đánh giá thường xuyên về sự hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực
- GV sử dụng linh hoạt, phù hợp các phương pháp đánh giá HS lớp 5 trong quá trình học môn GDTC; căn cứ vào những biểu hiện về nhận thức, hành vi, thái độ trong quá trình rèn luyện của HS; đối chiếu với yêu cầu cần đạt của từng phẩm chất chủ yếu, năng lực cốt lõi phù hợp với HS lớp 5 theo Chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018 cấp Tiểu học để nhận xét và có biện pháp giúp đỡ kịp thời.
- HS được tự nhận xét và tham gia nhận xét bạn, nhóm bạn về những biểu hiện của từng phẩm chất chủ yếu, năng lực cốt lõi để hoàn thiện bản thân.
Phụ huynh trao đổi, phối hợp với GV động viên, giúp đỡ HS rèn luyện và phát triển từng phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi.
3.2. Đánh giá định kì
a) Đánh giá định kì về nội dung học tập
Vào giữa học kì I, cuối học kì I, giữa học kì II và cuối năm học, GV căn cứ vào quá trình đánh giá thường xuyên và yêu cầu cần đạt, biểu hiện cụ thể về năng lực chăm sóc sức khoẻ, năng lực vận động cơ bản và năng lực hoạt động TDTT của môn GDTC lớp 5 để đánh giá HS theo các mức sau:
- Hoàn thành tốt: Thực hiện tốt các yêu cầu học tập và thường xuyên có biểu hiện cụ thể về năng lực chăm sóc sức khoẻ, năng lực vận động cơ bản và năng lực hoạt động TDTT của môn GDTC lớp 5.
- Hoàn thành: Thực hiện được các yêu cầu học tập và có biểu hiện cụ thể về các năng lực chăm sóc sức khoẻ, năng lực vận động cơ bản và năng lực hoạt động TDTT của môn GDTC lớp 5.
- Chưa hoàn thành: Chưa thực hiện được một số yêu cầu học tập hoặc chưa có biểu hiện cụ thể về năng lực chăm sóc sức khoẻ, năng lực vận động cơ bản và năng lực hoạt động TDTT của môn GDTC lớp 5.
b) Đánh giá định kì về sự hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực
Vào giữa học kì I, cuối học kì I, giữa học kì II và cuối năm học, GV chủ nhiệm phối hợp với các GV dạy cùng lớp, thông qua các nhận xét, các biểu hiện trong quá trình đánh giá thường xuyên về sự hình thành và phát triển từng phẩm chất chủ yếu, năng lực cốt lõi của mỗi HS, đánh giá theo các mức sau:
Tốt: Đáp ứng tốt yêu cầu giáo dục, biểu hiện rõ và thường xuyên.
Đạt: Đáp ứng được yêu cầu giáo dục, biểu hiện rõ nhưng chưa thường xuyên.
- Cần cố gắng: Chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu giáo dục, biểu hiện chưa rõ.
c) Đánh giá HS ở trường, lớp dành cho người khuyết tật
- HS khuyết tật học theo phương thức giáo dục hoà nhập tuỳ theo dạng khuyết tật và mức độ khuyết tật, được đánh giá như đối với HS không khuyết tật, có điều chỉnh yêu cầu cho phù hợp với dạng khuyết tật và mức độ khuyết tật hoặc theo yêu cầu của kế hoạch giáo dục cá nhân.
- HS khuyết tật học theo phương thức giáo dục chuyên biệt được đánh giá theo quy định dành cho giáo dục chuyên biệt hoặc theo yêu cầu của kế hoạch giáo dục cá nhân.
- Đối với HS học ở các lớp dành cho người khuyết tật: GV đánh giá HS căn cứ vào nhận xét, đánh giá thường xuyên qua các buổi học tại lớp dành cho người khuyết tật.
Kết quả kiểm tra định kì không dùng để so sánh HS này với HS khác. Nếu kết quả bài kiểm tra cuối học kì I và cuối năm học bất thường so với đánh giá thường xuyên, GV có thể để xuất với nhà trường cho HS làm bài kiểm tra khác để đánh giá đúng kết quả học tập của HS.
3.3. Tổng hợp đánh giá kết quả dạy học môn Giáo dục thể chất lớp 5
Vào giữa học kì I, cuối học kì I, giữa học kì II và cuối năm học, GV dạy môn GDTC căn cứ vào quá trình đánh giá thường xuyên và các mức đạt được từ đánh giá định kì về môn GDTC lớp 5 để tổng hợp và ghi kết quả đánh giá giáo dục của từng HS vào Bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục của lớp.
4. Thời lượng, tiêu chí kiểm tra, đánh giá
- Theo hướng dẫn thực hiện thời lượng, nội dung và gợi ý kế hoạch dạy học của các nội dung học ở lớp 5 thì có 7 tiết ôn tập, kiểm tra, đánh giá thường xuyên và định ki/năm học dựa vào hướng dẫn của Bộ GD&ĐT (Thông tư số 27/2020/TT-BGDĐT).
- Tiêu chí kiểm tra, đánh giá phẩm chất, năng lực thể chất của HS lớp 5:
Nội dung: Đội hình đội ngũ; Thái độ: Mức độ tích cực học tập và hợp tác với bạn trong tập luyện.; Kiến thức: Mức độ ghi nhớ về mục đích, tác dụng của các bài tập phối hợp; mức độ ghi nhớ về hình thái, cách tập luyện đội hình đội ngũ.; Kĩ năng: Mức độ thực hiện về cấu trúc, phương hướng di chuyển, tốc độ, nhịp điệu, năng lực định hướng và ước lượng cự li khi thực hiện các bài tập phối hợp ở nội dung đội hình đội ngũ.; Trình độ thể lực: Mức độ tăng tiến về năng lực liên kết vận động của cá nhân, của nhóm ở nội dung đội hình đội ngũ.
Nội dung: Bài tập thể dục; Thái độ: Mức độ tích cực học tập và hợp tác với bạn trong tập luyện.; Kiến thức: Mức độ ghi nhớ về mục đích, tác dụng của bài tập thể dục; mức độ ghi nhớ về hình thái, cách tập luyện các động tác ở bài tập thể dục.; Kĩ năng: Mức độ thực hiện về cấu trúc, phương hướng, biên độ, tốc độ, tính nhịp điệu, năng lực định hướng và thăng bằng khi thực hiện động tác ở bài tập thể dục.; Trình độ thể lực: Mức độ tăng tiến về năng lực liên kết vận động khi thực hiện động tác ở bài tập thể dục.
Nội dung: Tư thế và kĩ năng vận động cơ bản; Thái độ: Mức độ tích cực học tập và hợp tác với bạn trong tập luyện.; Kiến thức: Mức độ ghi nhớ về mục đích, tác dụng của bài tập tư thế và kĩ năng vận động cơ bản; mức độ ghi nhớ về hình thái, cách tập luyện bài tập tư thế và kĩ năng vận động cơ bản.; Kĩ năng: Mức độ thực hiện về cấu trúc, phương hướng, tốc độ, tính nhịp điệu, năng lực định hướng và thăng bằng của bài tập tư thế và kĩ năng vận động cơ bản.; Trình độ thể lực: Mức độ tăng tiến về năng lực liên kết vận động khi thực hiện bài tập tư thế và kĩ năng vận động cơ bản.
Nội dung: Thể thao tự chọn; Thái độ: Mức độ tích cực học tập và hợp tác với bạn trong tập luyện.; Kiến thức: Mức độ ghi nhớ về mục đích, tác dụng của tập luyện môn thể thao tự chọn; mức độ ghi nhớ về hình thái, cách tập luyện các bài tập bổ trợ môn thể thao tự chọn.; Kĩ năng: Mức độ thực hiện về cấu trúc, phương hướng, tốc độ, tính nhịp điệu và cách tập luyện; năng lực định hướng và thăng bằng các bài tập bổ trợ môn thể thao tự chọn.; Trình độ thể lực: Mức độ tăng tiến về năng lực liên kết vận động khi thực hiện các bài tập bổ trợ môn thể thao tự chọn.
Riêng nội dung Kiến thức chung, do được dạy lồng ghép trong mỗi tiết học nên không quy định tiêu chí kiểm tra, đánh giá định kì mà yêu cầu GV thường xuyên dành ít phút trong mỗi tiết học để giúp HS nắm được chế độ ăn uống đảm bảo dinh dưỡng trong tập luyện và những lưu ý về chế độ ăn uống đảm bảo dinh dưỡng trong tập luyện. Đồng thời cần nhắc nhở và căn dặn HS không được chơi ở gần ao, hồ, sông, suối, các hố sâu của công trình xây dựng.... giúp HS luôn có ý thức và biện pháp phòng tránh tai nạn đuối nước, tai nạn giao thông.
v. Một số lưu ý về dạy học môn giáo dục thể chất lớp 5
- GV cần nghiên cứu kĩ Chương trình Giáo dục phổ thông môn GDTC (Ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT). Căn cứ vào nội dung trong SGK GDTC 5 và các văn bản chỉ đạo của các cấp để xây dựng kế hoạch, tiến trình, giáo án giảng dạy trong cả năm học cho phù hợp.
- Khi xây dựng kế hoạch bài dạy, GV có thể kết hợp các bài tập giới thiệu trong SGK với kinh nghiệm của bản thân nhằm đạt hiệu quả cao nhất. GV được quyền chủ động sắp xếp lại nội dung dạy học để tiết học phù hợp, sinh động, hấp dẫn, tạo hứng thú cho HS tập luyện.
- Đối với môn thể thao tự chọn, khi nhà trường đã chọn cho HS học môn nào thì GV phải coi đây là môn học bắt buộc, không được cắt, bỏ nội dung và thời gian hoặc lấy thời gian để dạy các nội dung khác. Ngoài ra, cần phải thành lập các Câu lạc bộ thể thao từng môn để các em lựa chọn tập luyện ngoại khoá, nâng cao sức khoẻ, phát triển năng khiếu và thành tích thể thao.
- Trước, trong và sau giờ học, GV cần nắm được diễn biến sức khoẻ của HS để có biện pháp phòng ngừa và xử lí kịp thời những biến cố có thể xảy ra trong quá trình tập luyện, nhất là các nội dung bài tập phải chạy nhảy nhiều, các môn bóng và khi tham gia chơi trò chơi vận động, bài tập thể lực, cụ thể là:
+ Hỏi HS về tình hình sức khoẻ, quan sát nét mặt, màu da, mồ hôi, độ chính xác khi thực hiện động tác,... để tránh những tác động phụ (lượng vận động quá mức, nhịp tim tăng đột ngột,...).
+ Có biện pháp nắm bắt tâm lí, tính hiếu động của từng HS, có biện pháp đối với từng trường hợp cụ thể có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ và tâm lí từng cá nhân (như có HS sợ độ cao, sợ đau, mệt mỏi,...).
+ Cần phân nhóm sức khoẻ HS (tốt, trung bình, yếu) để có ứng xử phù hợp trong việc lựa chọn lượng vận động và phương pháp giáo dục cá biệt.
- Lượng vận động, mật độ động của tiết học, tần suất tập trong mỗi tiết học do GV quyết định trên cơ sở đảm bảo hiệu quả dạy học động tác và giáo dục các tố chất thể lực. GV không được dạy gộp hai tiết học GDTC trong một tuần, làm ảnh hưởng tới sức khoẻ của HS và những môn học khác.
Xem bản PDF nguyên trang sách: Giáo dục thể chất 5 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 6–17).
