(Via):

Tôi kêu đò, đò nọ không thưa,
Tôi càng chờ càng đợi, càng trưa chuyến đò.

(Hát quá giang)(2):

Nên tôi phải luy( ) đò,
Cách con sông nên tôi phải luy đò,
Bởi ông trời tối, phải luy cô bán hàng.
Chả nên gia thất thì về,
Ở làm chi mãi cho chúng (4) chê, bạn cười.
Tôi chắp tay lạy bạn đừng cười,
Tôi không trăng gió lại gặp người gió trăng.
Gió trăng thời mặc gió trăng,
Ai ơi giữ lấy đạo hằng (5) chớ quên.
Chị em ơi!
Ra đây có phải xung danh không nhỉ?

Lời thoại này thể hiện
trạng thái tâm lí gi của
nhân vật?

(Đế) (6):

Không xưng danh, ai biết là ai?

Xuý vân:

Bước chân vào tôi thưa rằng vậy,
Chẳng giấu gì Xuý Vân là tôi,
Tuy dại dột, tài cao vô giá,
Thiên hạ đồn rằng tôi hát hay đã lạ,
Ai cũng gọi là cô ả Xuý Vân.
Phụ Kim Nham, say đắm Trần Phương,
Nên đến nỗi điên cuồng, rồ dại.

Chú ý cách nhân vật
chèo xung danh, tự giới
thiệu trước khán giả.

(1) Via: một lối nói có giọng điệu riêng trong chèo, được dùng làm cầu nối để bắt vào điệu hát chính.
(2) Hát quá giang một điệu hát chèo, còn được gọi là hát gọi đò, thường dùng khi diễn tả tâm trạng
hụt hẫng của nhân vật.
(3) Luỵ nhún mình, tạm chiều theo ý của người khác để được việc riêng.
(4) Chúng: người đời. Chúng bạn: bạn bè nói chung.
(5) Đạo hằng chuẩn mực đạo đức vững bền (nghĩa trong văn bản).
(6) Đế: nói lời chêm vào hoặc tiếng nói chêm vào, phụ hoạ với lời nói của diễn viên chèo đang diễn
(tiếng để xuất phát từ khán giả hay từ người đứng trong cánh gà sân khấu).

(Hát điệu con gà rừng));

Con gà rừng ăn lẫn với công,
Đắng cay chẳng có chịu được, úc!
Mà để láng giềng ai hay?
Bông bông dắt, bông bông díu,
Xa xa lắc, xa xa líu,
Láng giềng ai hay, úc bởi xuân huyên),
Chờ cho bông lúa chín vàng,
Để anh đi gặt, để nàng mang cơm.
Bông bông dắt, bông bông díu,
Xa xa lắc, xa xa líu,
Láng giềng ai hay, úc bởi xuân huyên.

Hình ảnh vợ chồng
quấn quýt xuất hiện ở
đây có ý nghĩa gì?

(Tiếng trống nhịp nổi lên, Xuý Vân múa điệu bắt nhện, xe tơ, dệt cửi. Múa xong, Xuý Vân
hát lên rồi cười và hát điệu sa lệch³)...)

Rủ nhau lên núi Thiên Thai(4),
Thấy hai con quạ đang ăn xoài trên cây.
Ba cô bán mắm trong làng,
Mắm không bán hết, còn quang với thùng...
Chị em ơi, tôi than thân tôi vài câu nhé.

(Đế):

.

XUÝ VÂN (Nói điệu sử rầu)(5):

Than ôi!
Tôi thương nhân ngãi, tôi nhớ nhân tình( ),
Đêm năm canh tôi thức cả vừa năm.

Chú ý sự ý thức của
nhân vật về chính mình.

(1) Điệu con gà rừng: một điệu hát chèo, thường được dùng khi muốn diễn tả nỗi niềm đắng cay, bực tức
của nhân vật.
(2) Xuân huyên: cha mẹ. Xuân, huyên là hai loại cây sống lâu, thường được ví với cha (xuân) và mẹ (huyên).
(3) Điệu sa lệch một điệu hát chèo, thường được dùng khi cần thể hiện tâm trạng lưu luyến, nhớ thương
hay ai oán.
(4) Núi Thiên Thai. một ngọn núi nhỏ thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.
(5) Điệu sử rầu. một lối nói có giọng điệu ngâm nga, chậm rãi, thường được dùng ở những lớp chèo giàu
tỉnh trữ tình, khi nhân vật giãi bày tâm sự.
(6) Nhân ngãi, nhân tình người tình (dùng trong bối cảnh đang nói về quan hệ yêu đương không
đứng đần).

(Hát sắp));

Than rằng nhân ngãi, cựu tình 2) tôi đâu,
Con cá rô nằm vùng chân trâu,
Để cho năm bảy cần câu châu vào!

(Nói):

Chị em ơi, tôi hát xuôi cũng được,
☐ Mà tôi hát ngược cũng hay,
Tôi hát câu này cho chị em nghe nhé!

(Hát ngược) (3):

Chiếc trống cơm(4), ai khéo vỗ nên bông,
Một đàn các cô con gái lội sông té bèo.
Chuột đậu cành rào, muỗi ấp cánh dơi,
Ông Bụt kia bẻ cổ con nai,
Cái trúng gà mà tha con quạ lên ngồi trên cây.
Ở trong đình có cái khua, cái nhôi (5),
Ở trong cái nón có cái kèo, cái cột,
Ở dưới sông có cái phố bán bát,
Lên trên biển ta đốn gỗ làm nhà,
Con vâm (6) kia ấp trứng ba ba,

Cuôi con gà mà đi đánh giặc!

Lưu ý ngôn ngữ và
cách liên hệ bất thường
của người điền hoặc
giả điên.

(Xuý Vân vào, vừa đi vừa cười điên dại).

(Ngữ văn 10 Nâng cao, tập một,
NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2018, tr. 129-132)

(1) Hát sắp: một điệu hát chèo, thường có tiết tấu tươi vui, rộn ràng.
(2) Cựu tình người yêu cũ (nghĩa trong văn bản).
( ) Hát ngược: một điệu hát chèo, thường được dùng khi cần diễn tả tâm trạng điên loạn của nhân vật,
lời hát được khai thác từ loại ca dao nói ngược.
(4) Trống com: một loại trồng nhỏ, cũng là loại nhạc cụ thuộc bộ gõ.
(5) Khua, nhối: những bộ phận trong chiếc nón bằng cổ truyền của người Việt.
(6) Con vâm: con voi.

Kim Nham nêu cao bài học đạo li khi thể hiện quan hệ gia đình, chồng vợ, đồng thời cũng
bộc lộ sự cảm thông với thân phận của người phụ nữ trong xã hội nam quyền xưa.
Kim Nham hội tụ được những tinh hoa của nghệ thuật chèo, vừa giàu tính bi kịch, vừa đầy
tiếng cười hài hước, có những lớp, những màn hết sức đặc sắc, gắn liền với tài năng biểu diễn của
các nghệ sĩ qua nhiều thời.
Tích trò Kim Nham có một số dị bản, kể khác nhau ít nhiều về nguồn gốc gia đình Xuý Vân,
nguyên có chính khiến Xuý Vân giả điên và đoạn kết thúc số phận bi kịch của nàng.
Xuý Vân giả dại là lớp chèo thuộc loại đĩnh cao không chỉ của riêng vở Kim Nham mà còn của cả
nền chèo cổ Việt Nam. Đã có nhiều diễn viên khẳng định tài năng xuất chúng của mình nhờ lớp chèo này
như Dịu Hương, Diễm Lộc, Thuý Ngần....

Trả lời câu hỏi

1.

Nêu nguyên nhân dẫn đến hành động giả dại của Xuý Vân.

2.

Trong lớp chèo Xuý Vân giả dại, đoạn lời thoại nào thể hiện rõ nhất “ngôn ngữ điên”
của nhân vật? Vì sao bạn xác định như vậy?

3.

Hãy chọn phân tích một đoạn lời thoại để làm rõ những mâu thuẫn giằng xé trong
nội tâm của nhân vật Xuý Vân.

4.

Đoạn lời thoại được thể hiện theo điệu “con gà rừng" cho biết những điều gì về
cảnh ngộ đời sống cũng như niềm mong ước của Xuý Vân?

5.

Qua đoạn xưng danh của Xuý Vân, có thể nhận ra được những đặc điểm gì của
sân khấu chèo (cách xưng danh, sự tương tác giữa người xem và người diễn,...)?

6.

Nêu một số đặc điểm của ngôn ngữ chèo mà bạn nhận biết được qua đoạn trích
(thể thơ quen dùng chất liệu ca dao, dân ca....)ONG

7.

Qua lớp chèo này, bạn hiểu thêm được những điều gì về đời sống văn hoá làng xã
Việt Nam thuở xưa?

8.

Xuý Vân giả dại để che giấu điều gì? Bạn đánh giá như thế nào về hành động này
của nhân vật?

9.

Với văn bản lớp chèo Xuý Vân giả dại, ta chỉ cần khoảng 3 phút để đọc xong,
nhưng để diễn trên sân khấu, cần tới gần 15 phút. Từ thực tế này, có thể rút ra
được nhận xét gì về nghệ thuật chèo? (Gợi ý: chức năng của tích trò tầm quan
trọng của diễn xuất gồm hát, múa và các hình thức biểu cảm khác;...)

Kết nối đọc – viết

Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ của bạn về nỗi niềm của nhân vật
Xuý Vân được thể hiện qua lớp chèo Xuý Vân giả dại.

(1) Lóp, màn: những đoạn tương đối độc lập của tích trò hay vở diễn.

Xem bản PDF nguyên trang sách: Ngữ văn 10 tập 1 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 128–131).