Yêu cầu cần đạt

  • Nhận biết và phân tích được một số yếu tố của văn bản chèo hoặc tuồng như: đề tài, tỉnh vô danh, tích truyện, nhân vật, lời thoại, phương thức lưu truyền; phát hiện được các giá trị đạo đức, văn hoá từ văn bản được học.
  • Nêu được ý nghĩa hay tác động của văn bản thông tin đã đọc đối với bản thân.
  • Viết được báo cáo nghiên cứu, có sử dụng trích dẫn, cước chú và phương tiện hỗ trợ; có hiểu biết về quyền sở hữu trí tuệ và tránh đạo văn.
  • Biết lắng nghe và phản hồi về một bài thuyết trình kết quả nghiên cứu.
  • Có thái độ trân trọng đối với những di sản nghệ thuật quý báu mà ông cha truyền lại.

Yêu cầu cần đạt

Đọc

Tri thức ngữ văn

Chèo

Chèo nguyên là một loại hình kịch hát dân gian, phổ biến ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, thường được diễn ở sân đình trong thời gian có các lễ hội. Về sau, chèo được chuyên nghiệp hoá dần với sự hình thành của các gánh chèo, đoàn chèo.

Nghệ thuật chèo mang tính tổng hợp, có sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa nói, hát, múa với sự hỗ trợ của các đạo cụ, nhạc khí dân tộc độc đáo, trên cơ sở một tích trò (còn gọi tích truyện, chèo bản hay đơn giản là tích) có sẵn.

Tích trò là yếu tố đầu tiên, quan trọng nhất của vở chèo, làm điểm tựa cho toàn bộ hoạt động biểu diễn, tuy có tính ổn định nhưng vẫn để ngỏ khả năng thêm thắt, bổ sung cho diễn viên. Vì thế, một tích trò có nhiều dị bản là một sáng tạo mang tính tập thể. Tích trò của chèo dân gian (tích chèo) thường được xây dựng dựa vào truyện cổ tích hay truyện thơ Nôm, thể hiện các đề tài sinh hoạt, đạo đức gần gũi với khán giả bình dân.

Nhân vật của chèo không xa lạ với đời sống thường ngày của người dân lao động xưa, gồm nhiều hạng người trong xã hội, có địa vị, nghề nghiệp, giới tính, tuổi tác khác nhau. Xét theo tính cách, nhân vật chèo được phân thành hai loại chính: vai chín (tích cực) và vai lệch (tiêu cực). Mỗi loại nhân vật thường tự biểu hiện mình bằng một số điệu hát và động tác múa đặc trưng. Gây được ấn tượng mạnh nhất trong các vở chèo thường là những vai nữ, vai hể.

Tuồng

Tuồng là một loại hình kịch hát cổ truyền của dân tộc, phát triển mạnh dưới triều Nguyễn ở vùng Nam Trung Bộ. Tuồng có hai bộ phận tương đối khác biệt nhau là tuồng cung đình và tuồng dân gian.

Nghệ thuật tuồng mang tính tổng hợp, phối hợp cả văn học, ca nhạc và vũ đạo. Tích tuồng dân gian giàu yếu tố hài, hướng tới châm biếm các thói hư tật xấu hay đả kích một số hạng người nhất định trong xã hội. Một tích tuồng thường có nhiều dị bản, do nó được bổ sung, nắn chỉnh thường xuyên trong quá trình biểu diễn, lưu truyền.

Văn bản 1

Xuý Vân giả dại

(Trích chèo Kim Nham)

Giữa sự nở rộ của muôn vàn phương tiện nghe nhìn và các hoạt động giải trí hấp dẫn, bạn nghĩ như thế nào nếu ai đó đề nghị bạn bỏ chút thời gian xem một vở chèo cổ?

. Bạn có thấy tò mò khi nghe đến tên lớp chèo Xuý Vân giả dại hay không? Hãy tận dụng các điều kiện hiện có của mình để xem lớp chèo này hoặc toàn bộ vở chèo Kim Nham.

Kim Nham là một nho sinh, trọ học ở Tràng An (1). Sau khi kết duyên với Xuý Vân, chàng tiếp tục lên kinh miệt mài đèn sách đợi khoa thi, để Xuý Vân sống trong cảnh cô đơn, buồn bã. Ở quê, Xuý Vân bị gã Trần Phương tán tỉnh, hứa hẹn ngon ngọt. Nàng giả điên với hi vọng thoát khỏi Kim Nham để theo Trần Phương. Sau những cố gắng chạy chữa cho vợ không thành, Kim Nham đành phải để nàng được tự do. Xuý Vân tìm đến Trần Phương nhưng bị hắn trở mặt, quay lưng. Từ chỗ giả điên, Xuý Vân đã hoá điên thật. Đoạn trích dưới đây thể hiện cảnh Xuý Vân tự dựng lên màn điên loạn của chính mình.

XUÝ VÂN (Nói lệch) (2):

Đau thiết thiệt van,
Than cùng bà Nguyệt (4).
Đánh cho lê liệt,
Chết mệt con đồng.
Bắt đò sang sông,
Bó đò, bớ đò (5),

Hình dung khi thể hiện lời thoại này, diễn viên sẽ có động tác diễn xuất tương ứng như thế nào.

(1) Tràng An: nguyên là tên gọi một kinh đô cũ của Trung Quốc, ở đây dùng để chỉ Hà Nội với thái độ trọng thị.

(2) Nói lệch: một lối nói có giọng điệu riêng trong chèo, thường được dùng để tạo không khí sôi nổi hoặc gấp gáp.

(3) Đau thiết thiệt van: đau đớn quá đến mức phải kêu lên.

(4) Bà Nguyệt: là một vị thần, cùng với ông Tơ cai quản chuyện tình yêu đôi lứa (theo quan niệm dân gian Việt Nam, gần với quan niệm về Nguyệt lão trong văn hoá Trung Quốc).

(5) Bỏ đỏ: tiếng gọi đó quen thuộc ngày xưa.

(Via) (1):

Tôi kêu đò, đò nọ không thưa,
Tôi càng chờ càng đợi, càng trưa chuyến đò.

(Hát quá giang) (2):

Nên tôi phải luy (3) đò,
Cách con sông nên tôi phải luy đò,
Bởi ông trời tối, phải luy cô bán hàng.
Chả nên gia thất thì về,
Ở làm chi mãi cho chúng (4) chê, bạn cười.
Tôi chắp tay lạy bạn đừng cười,
Tôi không trăng gió lại gặp người gió trăng.
Gió trăng thời mặc gió trăng,
Ai ơi giữ lấy đạo hằng (5) chớ quên.
Chị em ơi!
Ra đây có phải xung danh không nhỉ?

Lời thoại này thể hiện trạng thái tâm lí gì của nhân vật?

(Đế) (6):

Không xưng danh, ai biết là ai?

Xuý vân:

Bước chân vào tôi thưa rằng vậy,
Chẳng giấu gì Xuý Vân là tôi,
Tuy dại dột, tài cao vô giá,
Thiên hạ đồn rằng tôi hát hay đã lạ,
Ai cũng gọi là cô ả Xuý Vân.
Phụ Kim Nham, say đắm Trần Phương,
Nên đến nỗi điên cuồng, rồ dại.

Chú ý cách nhân vật chèo xung danh, tự giới thiệu trước khán giả.

(1) Via: một lối nói có giọng điệu riêng trong chèo, được dùng làm cầu nối để bắt vào điệu hát chính.

(2) Hát quá giang một điệu hát chèo, còn được gọi là hát gọi đò, thường dùng khi diễn tả tâm trạng hụt hẫng của nhân vật.

(3) Luỵ nhún mình, tạm chiều theo ý của người khác để được việc riêng.

(4) Chúng: người đời. Chúng bạn: bạn bè nói chung.

(5) Đạo hằng chuẩn mực đạo đức vững bền (nghĩa trong văn bản).

(6) Đế: nói lời chêm vào hoặc tiếng nói chêm vào, phụ hoạ với lời nói của diễn viên chèo đang diễn (tiếng để xuất phát từ khán giả hay từ người đứng trong cánh gà sân khấu).

(Hát điệu con gà rừng) (1):

Con gà rừng ăn lẫn với công,
Đắng cay chẳng có chịu được, úc!
Mà để láng giềng ai hay?
Bông bông dắt, bông bông díu,
Xa xa lắc, xa xa líu,
Láng giềng ai hay, úc bởi xuân huyên (2),
Chờ cho bông lúa chín vàng,
Để anh đi gặt, để nàng mang cơm.
Bông bông dắt, bông bông díu,
Xa xa lắc, xa xa líu,
Láng giềng ai hay, úc bởi xuân huyên.

Hình ảnh vợ chồng quấn quýt xuất hiện ở đây có ý nghĩa gì?

(Tiếng trống nhịp nổi lên, Xuý Vân múa điệu bắt nhện, xe tơ, dệt cửi. Múa xong, Xuý Vân hát lên rồi cười và hát điệu sa lệch (3)...)

Rủ nhau lên núi Thiên Thai (4),
Thấy hai con quạ đang ăn xoài trên cây.
Ba cô bán mắm trong làng,
Mắm không bán hết, còn quang với thùng...
Chị em ơi, tôi than thân tôi vài câu nhé.

(Đế):

.

XUÝ VÂN (Nói điệu sử rầu) (5):

Than ôi!
Tôi thương nhân ngãi, tôi nhớ nhân tình (6),
Đêm năm canh tôi thức cả vừa năm.

Chú ý sự ý thức của nhân vật về chính mình.

(1) Điệu con gà rừng: một điệu hát chèo, thường được dùng khi muốn diễn tả nỗi niềm đắng cay, bực tức của nhân vật.

(2) Xuân huyên: cha mẹ. Xuân, huyên là hai loại cây sống lâu, thường được ví với cha (xuân) và mẹ (huyên).

(3) Điệu sa lệch một điệu hát chèo, thường được dùng khi cần thể hiện tâm trạng lưu luyến, nhớ thương hay ai oán.

(4) Núi Thiên Thai. một ngọn núi nhỏ thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.

(5) Điệu sử rầu. một lối nói có giọng điệu ngâm nga, chậm rãi, thường được dùng ở những lớp chèo giàu tỉnh trữ tình, khi nhân vật giãi bày tâm sự.

(6) Nhân ngãi, nhân tình người tình (dùng trong bối cảnh đang nói về quan hệ yêu đương không đứng đần).

Xem bản PDF nguyên trang sách: Ngữ văn 10 tập 1 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 125–129).