Yêu cầu cần đạt

. Nhận biết và phân tích được nội dung của luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng
tiêu biểu trong văn bản nghị luận. Phân tích được mối quan hệ giữa các luận điểm, lí lẽ,
bằng chứng và vai trò của chúng trong việc thể hiện nội dung của văn bản nghị luận.

. Xác định được ý nghĩa của văn bản nghị luận; dựa vào các luận điểm, lí lẽ và
bằng chứng đề nhận biết được mục đích, quan điểm của người viết.

Biết nhận ra và khắc phục những lỗi về mạch lạc, liên kết trong văn bản.

Viết được một bài luận thuyết phục người khác từ bỏ một thói quen hay một quan niệm.

Biết thảo luận về một vấn đề có những ý kiến khác nhau.

Có thái độ quý trọng hiền tài, biết đồng cảm với người khác và sống có trách nhiệm.

Đọc

Văn bản nghị luận

Văn bản nghị luận là loại văn bản thực hiện chức năng thuyết phục thông qua một
hệ thống luận điểm, lí lẽ và bằng chứng được tổ chức chặt chẽ. Đề tài của văn bản
nghị luận rất rộng, bao gồm mọi vấn đề của đời sống như chính trị, xã hội, đạo đức,
triết học, nghệ thuật, văn học,... Căn cứ vào đề tài được đề cập và nội dung triển khai,
có thể chia văn bản nghị luận thành nhiều tiều loại, trong đó nghị luận xã hội và nghị luận
văn học là hai tiểu loại phổ biến, quen thuộc. Ở những bối cảnh văn hoá và thời đại
khác nhau, văn bản nghị luận có những đặc điểm riêng. Khi viết văn bản nghị luận,
tuỳ vào tính chất của thể văn được chọn (hịch, cáo, tựa, bạt, phiếm luận,...) và nội dung
bàn luận, các tác giả có thể sử dụng cả yếu tố biểu cảm và tự sự đề làm tăng hiệu quả
thuyết phục cho văn bản.

Các yếu tố chính của văn bản nghị luận

Luận đề là vấn đề, tư tưởng, quan điểm, quan niệm,... được tập trung bàn luận
trong văn bản. Việc chọn luận đề để bàn luận luôn cho thấy rõ tầm nhận thức, trải nghiệm,
sở trường, thái độ, cách nhìn nhận cuộc sống của người viết. Thông thường, luận đề
của văn bản được thể hiện rõ từ nhan đề.

Luận điểm là một ý kiến khái quát thể hiện tư tưởng, quan điểm, quan niệm của
tác giả về luận đề. Nhờ hệ thống luận điểm (gọi đơn giản là hệ thống ý), các khía cạnh
cụ thể của luận đề mới được làm nổi bật theo một cách thức nhất định.

Lí lẽ, bằng chứng được gọi gộp là luận cứ. Lí lẽ nảy sinh nhờ suy luận logic, được
dùng để giải thích và triển khai luận điểm, giúp luận điểm trở nên sáng tỏ và vững vàng.
Bằng chứng là những căn cứ cụ thể, sinh động được khai thác từ thực tiễn hoặc từ các
tài liệu sách báo nhằm xác nhận tính đúng đắn, hợp lí của lí lẽ.

Bài nghị luận xã hội

Bài nghị luận xã hội là một trong nhiều dạng của văn bản nghị luận, đề cập các vấn
đề xã hội được quan tâm rộng rãi, không đi vào những vấn đề, lĩnh vực quá chuyên
sâu, nhằm tạo được sự hồi đáp tích cực, nhanh chóng từ phía người đọc, người nghe.
Đề tài của bài nghị luận xã hội rất phong phú, thường được xếp vào hai nhóm chính:
bản về một hiện tượng xã hội; bàn về một tư tưởng, đạo lí. Đáp ứng yêu cầu chung của
một văn bản nghị luận, bài nghị luận xã hội cũng phải xác lập được luận đề rõ ràng;
minh minh với với lí lí lẽ lẽ th thuyết phục và bằng chứng
triển khai bằng hệ thống luận điểm tường
xác đáng; có lời văn chính xác, sinh động.

Lỗi về mạch lạc và liên kết trong đoạn văn, văn bản

Các câu trong một đoạn văn, các đoạn văn trong một văn bản đều phải hướng về
một chủ đề hay một nội dung bao trùm và phải được sắp xếp theo một trình tự hợp lí.
Nếu không, đoạn văn hoặc văn bản đó mắc lỗi mạch lạc.

Các câu trong một đoạn văn, các đoạn văn trong một văn bản còn phải được kết
nối chặt chẽ với nhau trên phương diện hình thức ngôn ngữ. Lỗi liên kết thể hiện rõ
khi các phép liên kết như lặp, thế, nối,... không được sử dụng trong trường hợp cần
thiết hoặc bị dùng sai.

Văn bản 1

Hiền tài là nguyên khí của quốc gia(*) (Trích) Thân Nhân Trung

. Bạn nghĩ gì khi nhìn thấy (trực tiếp hoặc qua phim ảnh) những
hàng bia tiến sĩ ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám (Hà Nội)?

Bạn đã thấy, đã nghe câu “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia"
ở đâu, trong hoàn cảnh nào?

1

[...] Tôi dẫu nông cạn vụng về, nhưng đâu dám từ
chối, xin kính cẩn chắp tay cúi đầu mà làm bài kí rằng:

2

“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia", nguyên khí
thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì
thế nước yếu, rồi xuống thấp. Vì vậy các đấng thánh đế
minh vương (1) chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài,
kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên.
Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại như thế, cho nên quý
chuộng kẻ sĩ không biết thế nào là cùng. Đã yêu mến cho
khoa danh ), lại để cao bằng tước trật ( ). Ban ân rất lớn mà
vẫn cho là chưa đủ. Lại nêu tên ở tháp Nhạn (4), ban danh
hiệu Long hổ 5 , bày tiệc Văn hi(6). Triều đình mùng được
người tài, không có việc gì không làm đến mức cao nhất.

(*)

Nhan đề đoạn trích do người biên soạn sách giáo khoa đặt.
Hiền tài: người tài giỏi, có phẩm chất cao quý nổi bật, là thành phần ưu tú của xã hội.
Nguyên khí: chất làm nên cơ sở tồn tại và phát triển của một hiện tượng sống cụ thể hoặc của
đất nước, xã hội.

(1)

Thánh để mình vương bậc cai trị (vua, chúa) tài giỏi, sáng suốt.

(2)

Khoa danh: danh tiếng của người thi đỗ.

(3)

Tước trật: chức tước và cấp bậc.

(4)

Tháp Nhạn: tên một ngọn tháp của chùa Từ Ân, dựng đầu thế kỉ VIII đời nhà Đường ở Tràng An
(Trung Quốc), nơi có khắc tên những người đỗ tiến sĩ. Đây chỉ chung chồn lưu danh người đỗ đại khoa.

(5)

Long hổ: bảng ghi tên những người đỗ tiến sĩ, gọi theo cách của người đời Đường. Danh hiệu
Long hổ: danh hiệu tiến sĩ.

(6)

Tiệc Văn hỉ tiệc mừng người mới thi đỗ tiến sĩ.

3

Nay thánh minh ) lại cho rằng, chuyện hay việc tốt
tuy có một thời lừng lẫy, nhưng lời khen tiếng thơm chưa
đủ lưu vẻ sáng lâu dài, cho nên lại dựng đá đề danh đặt ở
của Hiền Quan, khiến cho kẻ sĩ trông vào mà phấn chấn
hâm mộ, rèn luyện danh tiết, gắng sức giúp vua. Há chỉ là
chuộng văn suông, ham tiếng hão mà thôi đâu.

4

Ôi, kẻ sĩ chốn trường ốc (3) lều tranh, phận thật nhỏ mọn mà được triều đình để
cao rất mực như thế, thì họ phải làm thế nào để tự trọng tấm thân mà ra sức báo đáp?
Hãy đem họ tên những người đồ khoa này mà điểm lại. Có nhiều người đã đem
văn học, chính sự ra tô điểm cho cảnh trị bình suốt mấy chục năm, được quốc gia tin
dùng. Cũng không phải không có những kẻ vì nhận hối lộ mà hư hỏng, hoặc rơi vào
hàng ngũ bọn gian ác, có lẽ vì lúc sống họ chưa được nhìn tấm bia này. Ví thử hồi đó
được mắt thấy thì lòng thiện tràn đầy, ý xấu bị ngăn chặn, đâu còn dám nảy sinh như
vậy được? Thế thì việc dụng tấm bia đá này ích lợi rất nhiều: kẻ ác lấy đó làm răn,
người thiện theo đó mà gắng, dẫn việc dĩ vãng, chỉ lối tương lai, vừa để rèn giũa danh
tiếng cho sĩ phu, vùa để củng cố mệnh mạch 5)
cho nhà nước. Thánh thần đặt ra đâu
phải là vô dụng. Ai xem bia nên hiểu ý sâu này. [...]

(Ngữ văn 10 Nâng cao, tập hai, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2006, tr. 41-42)

Thân Nhân Trung (14181499) là một danh sĩ thời Hậu Lê, người tỉnh Bắc Giang.
Ông đỗ tiến sĩ năm 1469, được triều đình trọng dụng, đã góp nhiều công sức trong việc
tuyển chọn và đào tạo nhân tài. Ông từng là một thành viên chủ chốt của Hội Tao đàn do vua
Lê Thánh Tông sáng lập.

Năm 1484, Thân Nhân Trung vâng mệnh vua Lê Thánh Tông soạn Bài kí đề danh tiến sĩ)
khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo ) thứ ba (Đại Bảo tam niên Nhâm Tuất khoa tiến sĩ đề danh kí)
để khắc lên bia đặt trong Văn Miếu, khởi đầu cho việc dựng bia ghi danh tiến sĩ sẽ thành
truyền thống về sau.

Hiền tài là nguyên khí của quốc gia là một đoạn trích trong bài văn bia nói trên. Trước đoạn này,
tác giả nêu chủ trương bồi dưỡng, trọng dụng hiền tài của các triều vua Lê. Sau đoạn này là
danh sách 33 vị đỗ tiến sĩ khoa Nhâm Tuất (1442).

(1)

Thánh mình: ở đây chỉ vua Lê Thánh Tông.

(2)

Cửa Hiền Quan: cửa của người hiền, ở đây chỉ nhà Thái học của trường Quốc Tử Giám.

(3)

Trường ốc: nơi học hành, thi cử.

(4)

Sĩ phư người trí thức.

(5)

Mệnh mạch: tinh mệnh (mạng) và huyết mạch, hai thứ quan trọng nhất của con người. Mệnh mạch ở đây
dùng để chỉ vận mệnh đất nước.

(5)

Thánh thần: ở đây chỉ vua Lê Thánh Tông.

(7)

Để danh tiến sĩ: ghi tên họ người đỗ tiến sĩ.

(8)

Đại Bảo: niên hiệu vua Lê Thái Tông từ năm 1440 đến năm 1442.

Văn bia là loại văn khắc trên bia đá, gồm nhiều thể khác nhau, rất phổ biến
thời trung đại, thường ghi chép những sự kiện quan trọng hoặc tên tuổi,
sự nghiệp của những người có công đúc lớn để lưu truyền hậu thế. Nhiều bởi
văn bia là những áng văn nghị luận độc đáo, giàu hình tượng, chúa đụng giá trị
tư tưởng, nhân văn sâu sắc.

Trả lời câu hỏi

1.

Tìm trong đoạn 2 của văn bản những từ ngữ thể hiện thái độ trọng dụng hiền tài
của "các đấng thánh để minh vương".

2.

Trong văn bản có một câu trực tiếp nói về mục đích của việc dựng bia ghi danh
những người đỗ tiến sĩ. Bạn hãy cho biết đó là câu nào.

3.

Xác định luận đề của văn bản và cho biết vì sao bạn xác định như vậy.

4.

Xét về nội dung, đoạn 3 có mối quan hệ như thế nào với đoạn 2?

5.

Bạn hãy khái quát về nội dung của đoạn 4 và cho biết đoạn này đảm nhận chức năng
gì trong mạch lập luận.

6.

Khi viết bài văn bia, tác giả đã thể hiện ít nhất hai tư cách: một là của người truyền
đạt "thánh ý"; hai là của kẻ sĩ được trọng dụng, thường suy nghĩ về việc báo đáp.
Việc thống nhất hai tư cách đó đã chi phối như thế nào đến cách triển khai luận
điểm của tác giả?

7.

Tìm một vài dẫn chứng lịch sử (từ những tác phẩm, tài liệu đã học và tìm hiểu thêm)
đề làm sáng tỏ nhận định sau đây của tác giả bài văn bia: "Vì vậy các đấng thánh để
minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng
nguyên khí làm việc đầu tiên."

8.

Qua việc đọc văn bản ở trên, bạn hiểu gì về tầm quan trọng của việc xác định
mục đích viết và bày tỏ quan điểm của người viết trong văn nghị luận?

Kết nối đọc - viết

Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) nêu suy nghĩ của bạn về sự cần thiết của việc
trọng dụng hiền tài.

Văn bản 2

Yêu và đồng cảm (Trích) Phong Tử Khải

Bạn hiểu thế nào về sự đồng cảm trong cuộc sống? Khi
bày tỏ sự đồng cảm với người khác hoặc khi nhận được sự
đồng cảm của ai đó, bạn có tâm trạng như thế nào?

Bạn thường có những cảm xúc gì mỗi lần tiếp xúc với
một tác phẩm nghệ thuật (văn học, hội hoạ, âm nhạc, ...)?
Thử lí giải vì sao bạn có cảm xúc ấy.

1

Một đứa bé vào phòng tôi, giúp tôi sắp xếp đồ đạc. Thấy
cái đồng hồ quả quýt úp mặt xuống bàn, nó lật lại hộ. Thấy
chén trà đặt phía sau quai ấm trà, nó chuyển đến trước vòi
ấm. Thấy đôi giày dưới gầm giường một xuôi một ngược, nó
đảo lại giúp. Thấy dây treo tranh trên tường buông thõng thò
ra ngoài, nó bắc ghế trèo lên giấu vào trong hộ. Tôi cảm ơn:
Cháu chăm quá, toàn dọn dẹp hộ chú thôi!"

Nó trả lời: “Không đâu, chẳng qua thấy chúng như thế, cháu cứ bứt rứt không yên!”.

Đúng vậy, nó từng nói: “Đồng hồ quả quýt úp mặt xuống bàn, nó bực bội lắm đấy!”.

“Chén trà nấp sau lưng mẹ thì làm sao uống sữa được?"

“Giày chiếc xuôi chiếc ngược, làm sao chúng nói chuyện được với nhau?"

“Bím tóc của bức tranh thòng ra trước, trông như con ma vậy.”

Tôi phục sát đất tấm lòng đồng cảm phong phú của chú
bé này. Từ đó tôi quả thực cũng để tâm tới vị trí của đồ vật,
tạo điều kiện để chúng được dễ chịu. Vị trí đặt để chúng có
dễ chịu, ta nhìn mới thấy thư thái. Bấy giờ tôi mới sực nhận
ra đó là tâm cảnh trước cái đẹp, là thủ pháp thường dùng
trong văn miêu tả, là vấn đề cấu trúc thường gặp trong hội hoạ. Những thứ đó đều
được phát triển ra từ sự đồng cảm. Người bình thường chỉ có thể đồng cảm với đồng loại

(1)

Tâm cảnh: cảnh tượng trong lòng, do lòng cảm nhận mà nên.

hoặc cùng lắm là với động vật mà thôi, còn nghệ sĩ lại có lòng đồng cảm bao la
quảng đại như tấm lòng trời đất, trải khắp vạn vật có tình cũng như không có tình.

2

Hôm sau tới trường cấp ba dạy nghệ thuật, tôi cũng
giảng cho các em thế này: Mọi vật trên đời đều có nhiều
mặt, mỗi người chúng ta chỉ thấy được một mặt mà thôi. Ví
như cùng một gốc cây, nhưng nhà khoa học, bác làm vườn,
chú thợ mộc, anh hoạ sĩ lại nhìn nhận nó dưới những góc
độ khác nhau. Nhà khoa học thấy được tính chất và trạng
thái của nó, bác làm vườn thấy sức sống của nó, chú thợ mộc thấy chất liệu của nó,
anh hoạ sĩ thấy dáng vẻ của nó. Nhưng cái nhìn của anh hoạ sĩ lại khác hẳn ba người
kia. Ba người kia đều có mục đích, đều nghĩ tới quan hệ nhân quả của cái cây, còn anh
hoạ sĩ lại chỉ thưởng thức dáng vẻ của cái cây hiện tại, không còn mục đích gì khác.
Thế nên anh hoạ sĩ thường nhìn thấy khía cạnh hình thức, chứ không phải khía cạnh
thực tiễn. Nói cách khác là chỉ thấy thế giới của Mĩ chứ không phải thế giới của Chân
và Thiện ( ). Tiêu chuẩn giá trị trong thế giới của Mĩ khác hẳn trong thế giới của Chân
và Thiện, chúng ta chỉ thưởng thức dáng vẻ, màu sắc, hình dạng của sự vật, chứ không
quan tâm tới giá trị thực tiễn của nó.

Bởi vậy một gốc cây khô, một tảng đá lạ chẳng có giá trị sử dụng gì cả, nhưng trong
mắt các hoạ sĩ [...] lại là một đề tài tuyệt vời. Bông hoa dại không tên, trong mắt nhà
thơ cũng đẹp đẽ lạ thường. Bởi vậy thế giới mà nghệ sĩ thấy có thể coi là một thế giới
đại đồng 2), bình đẳng. Tấm lòng của nghệ sĩ đối với mọi sự vật trên đời đều đồng cảm
và nhiệt thành.

[...] Hoạ sĩ đưa tấm lòng mình về trạng thái hồn nhiên
như trẻ nhỏ để miêu tả trẻ em, đồng thời cũng đặt lòng
mình vào biểu cảm đau khổ của người ăn mày để khắc hoạ
ăn mày. Tấm lòng của hoạ sĩ thường đồng điệu đồng cảm,
cùng buồn cùng vui, cùng khóc cùng cười với đối tượng
miêu tả; nếu không có tấm lòng đồng cảm bao la như thế
mà chăm chăm vào kĩ thuật vẽ thì chắc chắn không thể trở thành hoạ sĩ thực sự được.
Dù có vẽ được thì tối đa cũng chỉ là thợ vẽ mà thôi.

Nhờ có tấm lòng đồng cảm bao la như thế nên hoạ sĩ cũng đồng thời có được sức
mạnh tinh thần phong phú mà dư dật ). Nếu nó không đủ khoáng đạt để đồng điệu

(1)

Mĩ, Chân, Thiện: các thuật ngữ của Mĩ học, Đạo đức học, Triết học chỉ những giá trị lớn của đời sống
mà con người luôn phần đầu đạt tới.

(2)

Thế giới đại đồng: thế giới có sự giao hoà, đồng cảm, chia sẻ với nhau giữa mọi đối tượng (nghĩa trong
văn bản).

(3)

Dư dật giàu có, tràn đầy (dư thừa ra dật tràn ra ngoài).

với anh hùng thì không mô tả được anh hùng, nếu nó không đủ dịu dàng để hoà nhịp
cùng thiếu nữ thì không khắc hoạ được thiếu nữ. Do đó, nghệ sĩ lớn ắt là những người
có nhân cách vĩ đại.

4.

Lòng đồng cảm của nghệ sĩ không chỉ dành cho
đồng loại mà trải khắp sinh vật và phi sinh vật ở mọi
nơi; chó ngựa cỏ hoa, trong thế giới của Mĩ đều là vật
sống có linh hồn, biết cười biết khóc. Nhà thơ thường
nghe thấy chim cuốc kêu ra máu, con dế mùa thu, thấy
hoa đào cười gió đông, bươm bướm dắt xuân về, nếu xét dưới góc nhìn thực tiễn thì
những điều đó đều là lời lảm nhảm của nhà thơ. Thực ra nếu chúng ta bước được vào
thế giới của Mĩ, mở rộng lòng ra để biết đồng cảm nhiều hơn với vạn vật thì sẽ cảm
nhận được rõ rệt những tình cảnh ấy. Hoạ sĩ và nhà thơ chẳng khác gì nhau, hoạ chăng
là hoạ sĩ chú trọng đến hình dạng và tư thái (1) mà thôi. Chưa đích thân trải nghiệm sức
sống của rồng ngựa thì chẳng vẽ được rồng ngựa, không chứng kiến vẻ đẹp rắn rỏi của
tùng bách thì đâu hoạ nổi tùng bách. [...] Hoạ sĩ chúng tôi vẽ một cái bình hoa là phải
để tâm vào bình hoa, để mình biến thành bình hoa, cảm nhận cái lực của bình hoa mới
thể hiện được cái thần của bình hoa. Tấm lòng chúng tôi phải chiếu sáng cùng với bình
minh thì mới miêu tả được bình minh, dập dờn theo sóng bể lăn tăn thì mới khắc hoạ
được sống bể. Đây là cảnh giới) “ta và vật một thể, vạn vật đều thu cả vào tâm trí
của người nghệ sĩ.

5

[...] Người bình thường bẩm sinh ít nhiều cũng đã có sự đồng điệu đồng cảm với
hình dạng tư thái của vạn vật rồi. Cách bày biện trang trí nhà cửa, hình dạng màu sắc
đồ đạc, sở dĩ đòi hỏi mĩ quan, là để phù hợp với thiên bẩm ) ấy. Thấy toàn những
hình dạng màu sắc đẹp đẽ, tâm hồn chúng ta cũng thư thái lây; trái lại nếu chỉ thấy
rặt những hình dạng, màu mè xấu xí, chúng ta cũng đâm ra khó chịu. Có điều mức độ
đồng cảm nông sâu cao thấp khác nhau. Có lẽ chẳng ai trên đời hoàn toàn vô cảm với
thế giới của hình dạng và màu sắc cả, có chăng là kẻ tư chất nông cạn cùng cực hoặc là
nô lệ của lí trí, ấy đúng thực là người “vô tình” vậy.

Về mặt này chúng ta không thể không ca tụng các em bé. Bởi trẻ em phần lớn rất
giàu lòng đồng cảm. Hơn nữa, chúng không chỉ đồng cảm với con người mà bằng
một cách hết sức tự nhiên, còn đồng cảm với hết thảy sự vật như chó mèo, hoa cỏ,

(1)

Tư thái dáng vẻ, tình trạng bề ngoài.

(2)

Cảnh giới tình trạng, trạng thái mà tính thần hoặc hoạt động của con người đạt tới.

(3)

Ta và vật một thể: tình trạng hoà hợp làm một giữa cái chủ quan của con người và thế giới nói chung.

(4)

Mĩ quan: bề ngoài đẹp đẽ (nghĩa trong văn bản).

(5)

Thiên bẩm: phẩm chất vốn có từ khi sinh ra.

chim cá, bướm sâu,... Chúng hồn nhiên trò chuyện
với chó mèo, hồn nhiên hôn lên hoa cỏ, hồn nhiên
chơi với búp bê, tấm lòng chúng chân thành mà tự
nhiên hơn nghệ sĩ nhiều! Chúng thường để ý đến
những việc mà người lớn không chú tâm đến,
phát hiện ra những điểm mà người lớn không phát hiện được. Bởi vậy bản chất của
trẻ thơ là nghệ thuật.

Nói cách khác, con người ta vốn là nghệ thuật, vốn giàu lòng đồng cảm. Chỉ vì lớn
lên bị cách nghĩ của người đời dồn ép, nên tấm lòng ấy mới bị cản trở hoặc hao mòn.
Chỉ có kẻ thông minh mới không khuất phục, dù bên ngoài chịu đủ thứ áp bức thì bên
trong vẫn giữ được lòng đồng cảm đáng quý nọ. Những người ấy chính là nghệ sĩ.

6

Các nhà phê bình nghệ thuật phương Tây khi bàn về tâm lí nghệ thuật, có cách nói
gọi là “đặt tình cảm vào", chỉ việc chúng ta đặt tình cảm của mình vào tác phẩm nghệ
thuật hoặc thiên nhiên đẹp đẽ, đồng cảm với chúng, bấy giờ sẽ thể nghiệm được tư vị (2)
của cái đẹp. Chúng ta lại biết hành vi hoà mình này hay gặp nhất trong cuộc sống của
trẻ nhỏ. Chúng thường dốc hết hứng thú vào chơi đùa mê mải, quên cả đói rét mệt mỏi.

[...] Tuổi thơ quả là thời hoàng kim trong đời người! Tuy thời hoàng kim của chúng
ta đã trôi qua, nhưng nhờ bồi dưỡng về nghệ thuật, chúng ta vẫn có thể thấy lại thế giới
hạnh phúc, nhân ái và hoà bình ấy.

(Phong Từ Khải, Sống vốn đơn thuần, Tô Hình dịch,
NXB Hà Nội – Công ti Văn hoá và Truyền thông Nhã Nam, Hà Nội, 2020, tr. 268 –273)

Phong Tử Khải (1898 – 1975) là nhà văn, hoạ sĩ, dịch giả và nhà lí luận giáo dục âm nhạc,
nghệ thuật nổi tiếng của Trung Quốc. Tản văn và những bức “mạn hoạ" của ông được công chúng
đặc biệt ưa thích bởi sự dung dị, thuần khiết mà ẩn chứa nhiều suy nghiệm thâm sâu của người
thông hiểu cả văn hoá phương Đông lẫn văn hoá phương Tây. Trong các sáng tác của mình, ông luôn
đề cao tấm lòng thơ trẻ trong cách nhìn đời và thực hành nghệ thuật.

Sống vốn đơn thuần là tập văn – hoạ khá đặc trưng cho phong cách viết, vẽ của tác giả. Văn bản
Yêu và đồng cảm được trích từ chương 5 của cuốn sách, có tiêu đề là Sống mà học nghệ thuật.

(1)

Chú tâm: tập trung tinh thần vào một việc gì.

(2)

Tư vị vị ngon hoặc sức hấp dẫn nói chung.

Trả lời câu hỏi

1.

Tìm trong văn bản những đoạn, những câu nói về trẻ em và tuổi thơ. Vì sao tác giả
lại nhắc nhiều đến trẻ em và tuổi thơ như vậy?

2.

Mặc dù không ít lần nói tới danh xưng “hoạ sĩ", nhưng trên thực tế, điều tác giả muốn
bàn luận không chỉ bó hẹp trong phạm vi hội hoạ. Những từ ngữ nào trong văn bản
giúp bạn nhận ra điều đó?

3.

Xác định nội dung trọng tâm của từng phần đã được đánh số trong văn bản và
đánh giá sự liên kết giữa các phần.

4.

Tác giả đã nêu lên những lí lẽ, bằng chứng nào để khẳng định tầm quan trọng của sự
đồng cảm trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật?

5.

Tác giả đã phát hiện ra những điểm tương đồng gì giữa trẻ em và người nghệ sĩ?
Sự khâm phục, trân trọng trẻ em của tác giả được hình thành trên cơ sở nào?

6.

Theo bạn, nếu không có đoạn kể về chú bé giúp tác giả sắp xếp đồ đạc ở phần 1, sức
hấp dẫn, thuyết phục của văn bản Yêu và đồng cảm sẽ bị ảnh hưởng như thế nào?

7.

Nhà thơ Xuân Diệu từng viết: “Hãy nhìn đời bằng đôi mắt xanh non" (Đôi mắt xanh
non, trong tập Riêng chung, NXB Văn học, Hà Nội, 1960). Dựa vào nội dung văn bản
Yêu và đồng cảm, hãy nêu lí do khiến nhà thơ Xuân Diệu đề nghị như vậy.

Kết nối đọc - viết

Sự đồng cảm tạo nên vẻ đẹp gắn kết của thế giới. Hãy viết đoạn văn (khoảng 150 chữ)
về chủ đề này.

Xem bản PDF nguyên trang sách: Ngữ văn 10 tập 1 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 72–81).