Nước non ngàn dặm mình
Nước non ngàn dặm tình.

(Thanh Hải)

Giới thiệu bài học

  • Bước chân con người thì nhỏ mà thế giới thì bao la. Có người vì thế giới giống như một cuốn sách, mỗi lần đến với một vùng đất mới là ta lại đọc thêm được một trang sách. Nhưng liệu ta có thể đọc hết cuốn sách đó được không? Văn học sẽ giúp ta "đọc" nó, mở rộng tầm nhìn của ta đến những chân trời mới.
  • Trong bài học này, em sẽ làm quen với tác phẩm kí. Qua các bài kí dưới đây, cùng với một bài thơ kết nối về chủ đề, những miền đất xa xôi của Tổ quốc sẽ trở nên thân yêu và gần gũi hơn.

Yêu cầu cần đạt

  • Nhận biết được hình thức ghi chép, cách kể sự việc, người kể chuyện ngôi thứ nhất của du kí,
  • Hiểu được công dụng của dấu ngoặc kép (đánh dấu một từ ngữ được hiểu theo nghĩa đặc biệt).
  • Viết được bài văn tả cảnh sinh hoạt.
  • Chia sẻ một trải nghiệm về nơi em sống hoặc từng đến.
  • Yêu mến, tự hào về vẻ đẹp của quê hương, xứ sở.

Đọc

Tri thức ngữ văn

Kí

  • Kí là loại tác phẩm văn học chú trọng ghi chép sự thực.
  • Trong kí có kể sự việc, tả người, tả cảnh, cung cấp thông tin và thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của người viết. Có những tác phẩm nghiêng về kể sự việc, có những tác phẩm nghiêng về thể hiện cảm xúc.
  • Với một số thể loại kí, tác giả thường là người trực tiếp tham gia hoặc chứng kiến sự việc. Sự việc thường được kể theo trình tự thời gian. Tác giả có thể xưng "tôi", có vai trò như người kể chuyện. Khi kể, tác giả kết hợp trình bày suy nghĩ, cảm xúc, sự quan sát, liên tưởng, tưởng tượng của mình về sự việc.

Du kí

Du kí là thể loại kí ghi chép về những chuyến đi tới các vùng đất, các xứ sở nào đó. Người viết kể lại hoặc miêu tả những điều mắt thấy tai nghe trên hành trình của mình.

Dấu ngoặc kép

Dấu ngoặc kép có nhiều công dụng. Bên cạnh việc dùng để đánh dấu từ ngữ, đoạn dẫn trực tiếp, lời đối thoại hoặc đánh dấu tên tác phẩm, tờ báo, tập san.... được dẫn, dấu ngoặc kép còn được dùng để đánh dấu từ ngữ được hiểu theo nghĩa đặc biệt.

Văn bản đọc

VĂN BẢN 1. Cô Tô (trích), Nguyễn Tuân

VĂN BẢN 2. Hang Én, Hà My

VĂN BẢN 3. Cửu Long Giang ta ơi (trích), Nguyên Hồng

Văn bản 1

Trước khi đọc

1.

Kể tên những nơi em đã từng được đến tham quan. Chia sẻ một số điều em quan sát được từ những chuyến đi đó.

2.

Tìm quần đảo Cô Tô trên bản đồ Việt Nam và nói về vị trí của quần đảo này.

Đọc văn bản

Cô Tô (1)

Trích, nguyễn tuân

Hình như gió bão chờ chúng tôi lọt hết vào trận địa (2) cánh cung bãi cát, rồi mới tăng thêm hoả lực (3) của gió. Mỗi viên cát bắn vào má vào gáy lúc này buốt như một viên đạn mũi kim. Gió bắn rát từng chập (4). Chốc chốc gió ngừng trong tích tắc như để thay băng đạn (5), thì đầu cổ lại bật lên khi gió giật. Gió liên thanh quạt lia lịa vào gối vào ngang thắt lưng, đấy cả người chạy theo luống cát mà bạt ra phía sát bờ biển của một bãi dài ba ngàn thước (6), rộng chừng trăm thước. Sóng cát đánh ra khơi, bể đánh bọt sóng vào, trời đất trắng mù mù toàn bãi như là kẻ thù đã bắt đầu thả hơi ngạt. [...] Sóng thúc lẫn nhau mà vào bờ âm âm rên rến như vua thuỷ (7) cho các loài thuỷ tộc (8) rung thêm trống trận. [...]

HÌNH DUNG

Từ "trận địa" khiến em hình dung con bão biển như thế nào?

Cuối canh một sang canh hai, bão thực sự bắt đầu.

Gác đảo uy (9) nhiều khuôn cửa kính bị gió vây và dón, bung hết. Kính bị thứ gió cấp 11(10) ép, vỡ tung. Tiếng gió càng ghê rợn mỗi khi nó thốc vào, vuốt qua những gờ kính nhọn còn dắt ở ô cửa vỡ. Nó rít lên rú lên như cái kiểu người ta vẫn thường gọi là quỷ khốc thần kinh (11). [...]

THEO DÕI

Tác giả quan sát và cảm nhận trận bão bằng những giác quan nào?

footnote

(1) Cô Tô: một quần đảo gồm hơn 50 đảo nhỏ, thuộc tỉnh Quảng Ninh, diện tích trên 47.3 km2. Cô Tô nổi tiếng với cảnh biển đẹp và những đặc sản biển như ngọc trai, san hô, hải sâm ...

footnote

(2) Trận địa: khu vực địa hình dùng để bố trí lực lượng chiến đấu.

footnote

(3) Hoả lực: sức mạnh gây sát thương và phá hoại của bom đạn, chất nổ, chất cháy dùng trong chiến đấu; ở đây nói về sức mạnh của gió.

footnote

(4) Chập: khoảng thời gian tương đối ngắn, tương đương như lúc, hồi.

footnote

(5) Băng đạn: bộ phận dùng để kẹp đạn và tiếp đạn vào súng khi bắn.

footnote

(6) Thước: đơn vị đo độ dài cũ (một thước bằng khoảng 0,4 m).

footnote

(7) Vua thuỷ: vua dưới nước (còn gọi là vua Thuỷ Tề, theo tín ngưỡng dân gian).

footnote

(8) Thuỷ tộc: những loài sống dưới nước.

footnote

(9) Đảo uỷ: trụ sở cơ quan hành chính của đảo.

footnote

(10) Gió cấp 11: mức độ gió bão mạnh, vận tốc khoảng 103 – 117 km/h.

footnote

(11) Quỷ khốc thần kinh: khác thường, gây ấn tượng mạnh mẽ khiến người ta phải kinh sợ hay nể phục tuyệt đối.

Image of a coastal area with a house and bamboo trees, labeled 'Cô Tô, Quảng Ninh'.

Ngày thứ năm trên đảo Cô Tô là một ngày trong trẻo sáng sủa. Từ khi có vịnh Bắc Bộ và từ khi quần đảo Cô Tô mang lấy dấu hiệu của sự sống con người thì, sau mỗi lần dông bão, bao giờ bầu trời Cô Tô cũng trong sáng như vậy. Cây trên núi đảo lại thêm xanh mượt, nước biển lại lam biếc đặm đà hơn hết cả mọi khi, và cát lại vàng giòn hơn nữa. Và nếu cá có vắng tăm biệt tích trong ngày động bão, thì nay lưới càng thêm nặng mẻ cá giã đôi (1). Chúng tôi leo dốc lên đồn Cô Tô hỏi thăm sức khoẻ anh em bộ binh và hải quân cùng đóng sát nhau trong cái đồn khố xanh (2) cũ ấy. Trèo lên nóc đồn, nhìn ra bao la Thái Bình Dương bốn phương tám hướng, quay gót 180 độ mà ngắm cả toàn cảnh đảo Cô Tô. Nhìn rõ cả Tô Bắc, Tô Trung, Tô Nam, mà càng thấy yêu mến hòn đảo như bất cứ người chài nào đã từng đẻ ra và lớn lên theo mùa sóng ở đây.

THEO DÕI

Chú ý những từ ngữ miêu tả cảnh biển Cô Tô sau bão.

[...] Mặt trời lại rọi lên ngày thứ sáu của tôi trên đảo Thanh Luân một cách thật quá là đầy đủ. Tôi dậy từ canh tư. Còn tối đất, có đi mãi trên đá đầu sư (3), ra thấu đầu mũi đảo. Và ngồi đó rình mặt trời lên.

Điều tôi dự đoán, thật là không sai. Sau trận bão, chân trời, ngăn bể (4), sạch như tấm kính lau hết mây hết bụi. Mặt giời nhú lên dần dần, rồi lên cho kì hết. Tròn trĩnh phúc hậu như lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn. Quả trứng hồng hào thăm thẳm, và đường bệ (5) đặt lên một mâm bạc đường kính mâm rộng bằng cả một cái chân trời màu ngọc trai

HÌNH DUNG

Cảnh bình minh trên biển.

footnote

(1) Giã đôi: lưới hình túi (giã) do hai tàu hoặc thuyền kéo để đánh bắt hải sản tầng đáy biển.

footnote

(2) Đồn khố xanh: vị trí đóng quân của quân đội thuộc địa dưới chế độ thực dân Pháp (lính khố xanh canh giữ các công sở, địa phương, chân quần xà cạp màu xanh).

footnote

(3) Đá đầu sư: đá có đầu tròn, nhẵn như đầu ông sư, thường quần tụ thành bãi.

footnote

(4) Ngăn bể: đường tiếp giáp giữa mặt biển và chân trời theo tầm nhìn của mắt.

footnote

(5) Đường bệ: dáng vẻ to lớn, vững vàng, uy nghi.

nước biển hửng hồng. Y như một mâm lễ phẩm (1) tiến ra từ trong bình minh để mừng cho sự trường thọ (2) của tất cả những người chài lưới trên muôn thuở Biển Đông. Vài chiếc nhạn mùa thu chao đi chao lại trên mâm bể sáng dần lên cái chất bạc nén (3). Một con hải âu bay ngang, là là nhịp cánh. [...]

Khi mặt trời đã lên một vài con sào, tức là lúc nó trở về sự bình dị hàng ngày, thì tôi đang múc gấu nước giếng dội lên đầu lên cổ lên vai lên lưng, nghĩa là tôi cũng đang đi tắm như mọi người lao động bình thường đang tắm quanh giếng. Cái giếng nước ngọt ở ria (4) một hòn đảo giữa biển, cái sinh hoạt của nó vui như một cái bến và đậm đà mát nhẹ hơn mọi cái chợ trong đất liền.

THEO DÕI

Chú ý nơi đông vui và gọi sức sống nhất trên đảo

Cái giếng nước ngọt đảo Thanh Luân sớm nay có không biết bao nhiêu là người đến gánh và múc. Múc nước giếng vào thùng gỗ, vào những cong (5) những ang (6) gốm màu da lươn. Lòng giếng vẫn còn rớt lại vài cái lá cam lá quýt của trận bão vừa rồi quăng vào. Chỗ bãi đá nuôi sáu mươi vạn con hải sâm (7) ngoài kia, bao nhiêu là thuyền của hợp tác xã đang mở nắp sạp đổ nước ngọt vào. Sau trận bão, hôm nay hợp tác xã Bắc Loan Đấu cho 18 thuyền lớn nhỏ cùng ra khơi đánh cá hồng (8). Anh hùng Châu Hoà Mãn (9) cùng bốn bạn xã viên đi chung một thuyền. Anh quẩy nước bên bờ giếng, tôi né ra một bên. Anh quẩy 15 gánh cho thuyền anh: "Đi ra khơi, xa lắm mà. Có khi mười ngày mới về. Nước ngọt cho vào sạp, chỉ để uống. Vo gạo thổi cơm cũng không được lấy nước ngọt. Vo gạo bằng nước biển thôi".

Từ đoàn thuyền sắp ra khơi đến cái giếng ngọt, thùng và cong và gánh nối tiếp đi đi về về. Trông chị Châu Hoà Mân địu con, thấy nó dịu dàng yên tâm như cái hình ảnh biển cả là mẹ hiến mớm cả cho lũ con lành.

(Nguyễn Tuân, Kí Nguyễn Tuân, NXB Văn học, Hà Nội, 1986, tr. 116–122)

footnote

(1) Lễ phẩm: lễ vật dâng biểu.

footnote

(2) Trường thọ: sống lâu.

footnote

(3) Bạc nén: bạc đúc thành từng thỏi; nên đơn vị đo khối lượng, tương đương 375 g.

footnote

(4) Ria: ria, ven.

footnote

(5) Cong: đồ đựng làm bằng đất nung, hông phình, miệng rộng.

footnote

(6) Ang: đồ đựng làm bằng đất nung, thành hơi phình, miệng rộng.

footnote

(7) Hải sâm: một loài động vật biển, thân hình dài, da có lông, dùng làm thức ăn, rất quý.

footnote

(8) Cá hồng: một loài cá thân màu hồng, có sản lượng lớn và có giá trị kinh tế của vùng biển vịnh Bắc Bộ.

footnote

(9) Châu Hoà Mãn: Anh hùng Lao động ngành ngư nghiệp những năm 60 thế kỉ XX.

Sau khi đọc

  • Nguyễn Tuân (1910 – 1987) quê ở Hà Nội. Ông là nhà văn có phong cách độc đáo, lối viết tài hoa, cách dùng từ ngữ đặc sắc. Thể loại sở trường của ông là kí, truyện ngắn. Kí của Nguyễn Tuân cho thấy tác giả có vốn kiến thức sâu rộng về nhiều lĩnh vực đời sống. Một số tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Tuân: Vang bóng một thời (tập truyện ngắn), Sông Đà (tuỳ bút)....
  • Cô Tô được viết nhân một chuyến ra thăm đảo của nhà văn. Bài kí được in trong tập Kí, xuất bản lần đầu năm 1976.

Trả lời câu hỏi

1.

Qua bài kí Cô Tô, nhà văn đã đưa người đọc đến những nơi nào và gặp gỡ những ai?

2.

Tìm những từ ngữ miêu tả sự dữ dội của trận bão. Những từ ngữ nào cho thấy rõ nhất việc tác giả có chủ ý miêu tả trận bão giống như một trận chiến?

3.

Biển sau bão hiện lên như thế nào (qua hình ảnh bầu trời, cây, nước biển, mặt trời,...)?

4.

Theo em, để nhận ra vẻ đẹp của Cô Tô, nhà văn đã quan sát cảnh thiên nhiên và hoạt động của con người trên đảo ở những thời điểm nào và từ những vị trí nào?

5.

Chỉ ra một câu văn thể hiện sự yêu mến đặc biệt của tác giả đối với Cô Tô trong đoạn văn từ Ngày thứ năm trên đảo Cô Tô đến theo mùa sóng ở đây.

6.

Em hình dung khung cảnh Cô Tô sẽ như thế nào nếu thiếu chi tiết miêu tả giếng nước ngọt và hoạt động của con người quanh giếng?

7.

Kết thúc bài kí Cô Tô là suy nghĩ của tác giả về hình ảnh chị Châu Hoà Mân: "Trông chị Châu Hoà Mân địu con, thấy nó dịu dàng yên tâm như cái hình ảnh biển cả là mẹ hiền mớm cá cho lũ con lành". Cách kết thúc này cho thấy tình cảm của tác giả với biển và những con người bình dị trên đảo như thế nào?

Viết kết nối với đọc

Trong Cô Tô, mặt trời lúc bình minh được ví như lòng đỏ quả trứng thiên nhiên đầy đặn. Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) chỉ ra ý nghĩa của hình ảnh so sánh đó (có thể liên hệ với cách miêu tả mặt trời lúc bình minh của các tác phẩm khác mà em biết).

Thực hành tiếng Việt

Biện pháp tu từ

1.

Đọc các câu sau và trả lời câu hỏi:

Quả trứng hồng hào thăm thắm, và đường bệ đặt lên một mâm bạc đường kính mâm rộng bằng cả một cái chân trời màu ngọc trai nước biển hứng hồng.

nước biển hửng hồng. Y như một mâm lễ phẩm (1) tiến ra từ trong bình minh để mừng cho sự trường thọ (2) của tất cả những người chài lưới trên muôn thuở Biển Đông. Vài chiếc nhạn mùa thu chao đi chao lại trên mâm bể sáng dần lên cái chất bạc nén (3). Một con hải âu bay ngang, là là nhịp cánh. [...]
Khi mặt trời đã lên một vài con sảo, tức là lúc nó trở về sự bình dị hàng ngày, thì tôi đang múc gấu nước giếng dội lên đầu lên cổ lên vai lên lưng, nghĩa là tôi cũng đang đi tắm như mọi người lao động bình thường đang tắm quanh giếng. Cái giếng nước ngọt ở ria(4) một hòn đảo giữa biển, cái sinh hoạt của nó vui như một cái bến và đậm đà mát nhẹ hơn mọi cái chợ trong đất liền.

Cái giếng nước ngọt đảo Thanh Luân sớm nay có không biết bao nhiêu là người đến gánh và múc. Múc nước giếng vào thùng gỗ, vào những cong (5) những ang (6) gốm màu da lươn. Lòng giếng vẫn còn rớt lại vài cái lá cam lá quýt của trận bão vừa rồi quăng vào. Chỗ bãi đá nuôi sáu mươi vạn con hải sâm (7) ngoài kia, bao nhiêu là thuyền của hợp tác xã đang mở nắp sạp đổ nước ngọt vào. Sau trận bão, hôm nay hợp tác xã Bắc Loan Đấu cho 18 thuyến lớn nhỏ cùng ra khơi đánh cá hồng(8). Anh hùng Châu Hoà Mãn(9) cùng bốn bạn xã viên đi chung một thuyền. Anh quẩy nước bên bờ giếng, tôi né ra một bên. Anh quấy 15 gánh cho thuyền anh: "Đi ra khơi, xa lắm mà. Có khi mười ngày mới về. Nước ngọt cho vào sạp, chỉ để uống. Vo gạo thổi cơm cũng không được lấy nước ngọt. Vo gạo bằng nước biển thôi".
Từ đoàn thuyển sắp ra khơi đến cái giếng ngọt, thùng và cong và gánh nối tiếp đi đi về về. Trông chị Châu Hoà Mân địu con, thấy nó dịu dàng yên tâm như cái hình ảnh biển cả là mẹ hiến mớm cả cho lũ con lành.
(Nguyễn Tuân, Ki Nguyễn Tuân, NXB Văn học, Hà Nội, 1986, tr. 116–122)

(3) Lễ phẩm: lễ vật dâng biểu.
2 Trường thọ: sống lâu.
(3) Bạc nén: bạc đúc thành từng thời nên đơn vị đo khối lượng, tương đương 375 g.
14) Ria: ria, ven.
(5) Cong đồ đựng làm bằng đất nung, hồng phình, miệng rộng.
(6) Ang: đồ đựng làm bằng đất nung, thành hơi phình, miệng rộng.
(7) Hải sâm: một loài động vật biển, thân hình dài, da có lông, dùng làm thức ăn, rất quý.
(8) Cả hồng một loài cá thân màu hồng, có sản lượng lớn và có giá trị kinh tế của vùng biển vịnh Bắc Bộ.
(9) Châu Hoà Mãn Anh hùng Lao động ngành ngư nghiệp những năm 60 thế kỉ XX.

  • Cô Tô được viết nhân một chuyến ra thăm đảo của nhà văn. Bài ki được in trong tập Kí, xuất bản lần đầu năm 1976.

5

Chỉ ra một câu văn thể hiện sự mến đặc biệt của tác giả đối với Cô Tô trong đoạn văn từ Ngày thứ năm trên đảo Cô Tô đến theo mùa sóng ở đây.

Việt kết nói với đọc

Biện pháp tutu

1

Đọc các câu sau và trả lời câu hỏi:
Quả trứng hồng hào thăm thắm, và đường bệ đặt lên một mâm bạc đường kính mâm rộng bằng cả một cái chân trời màu ngọc trai nước biển hứng hồng.

2

Chỉ ra và nêu tác dụng của những biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong các câu sau:
a. Mỗi viên cát bắn vào má vào gáy lúc này buốt như một viên đạn mũi kim.
b. Hình như gió bão chờ chúng tôi lọt hết vào trận địa cánh cung bãi cát, rồi mới tăng thêm hoả lực của gió.

3

Trong Cô Tô, Nguyễn Tuân sử dụng nhiều hình ảnh so sánh sinh động. Hãy tìm ba câu văn sử dụng biện pháp tu từ so sánh trong văn bản này và nêu tác dụng trong từng trường hợp.

4

Viết đoạn văn (khoảng 5-7 câu) về một cảnh đẹp thiên nhiên trong đó có sử dụng biện pháp tu từ so sánh hoặc ẩn dụ.

Văn bản 2

Trước khi đọc

1

Nhan đề Hang Én gợi cho em liên tưởng gì?

2

Tưởng tượng mình là nhà thám hiểm đi khám phá những khu bảo tồn thiên nhiên kì thú. Hãy chia sẻ cảm giác của em về điều đó.

Đọc văn bản

Hang Én (1)

Đường tới hang Én phải xuyên qua rừng nguyên sinh(2), vượt nhiều đoạn dốc cao, ngoằn ngoèo, lội khoảng ba mươi quãng suối và sông nên chỉ có một cách di chuyển: đi bộ. Tờ-réc-king(3) hang Én, đối với tôi là một hành trình khám phá thú vị.

THEO DÕI

Chú ý cách thức di chuyển vào hang Én.

(3) Hang Én: nằm trong quần thể vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng của tỉnh Quảng Bình, là hang động lớn thứ ba thế giới sau hang Sơn Đoòng ở Việt Nam và hang Đi- (Deer) ở Ma-lai-xi-a (Malaysia). Hang có chiều dài hơn 1,6 km, gồm ba cửa. Trần hang có nơi cao 100 m, nơi rộng nhất 170 m. Trong lòng hang có con suối trong xanh chảy quanh co, uốn lượn, làm nên vẻ kì thú của thiên nhiên nơi đây.
(2) Rừng nguyên sinh: rừng tự nhiên, chưa bị khai thác.
(3) Tô-réc-king (tiếng Anh: trekking): leo núi, đi bộ thám hiểm.

Hành trình ấy khởi đầu từ con dốc Ba Giàn dài gần 2 km. Dốc cao và gập ghềnh. Đường mòn vừa một người đi, khá trơn, nhiều chặng có cây đó chắn ngang hoặc những vòm dây leo giăng kín. Rất nhiều cây cổ thụ tán cao vút, thân đấy các loại tấm gửi, có cả phong lan đang nở hoa. Còn có sên, vắt, nhiều loài côn trùng và chim chóc tỏi không biết tên...

THEO DÕI

Việc đi bộ sẽ cho tác giả cơ hội trải nghiệm những điều kì thú của thiên nhiên như thế nào?

Cảm giác về một cuộc "ngược dòng tìm về với thuở sơ khai đến với tôi ngay khi len lỏi qua cánh rừng nguyên sinh này.

Đi hết dốc Ba Giàn là tới thung lũng Rào Thương, được bao quanh bởi con suối cùng tên. Con đường qua thung lũng trải theo tiếng suối róc rách, thảm cỏ, rồi cây cối rậm rạp, lúp xúp, từ đó vắng ra tiếng chim kêu đủ giọng. Thích nhất là khi lội qua suối. Nước trong vắt, mát lạnh, thấy cả làn đá cuội nơi đáy suối. Nhiều quãng suối còn nhìn rõ đàn cá bơi liêu xiêu giữa dòng nước chảy xiết như những chiếc lá trúc khô. Yêu vô cùng những đàn bướm đủ màu – vàng, trắng, xanh đen – gặp ven đường, ven suối. Chúng đậu thành từng vạt như đám hoa lá ai ngẫu hứng xếp trên mặt đất. Thấy động, chúng bay lên, lượn vòng, quấn quýt cả vào chân người. Bước đi cùng đàn bướm, ngắm những cánh hồ điệp (1) mong manh giữa không gian trong trẻo, im vắng, tỏi ngỡ mình đang đi trong một giấc mộng đẹp.
Hang Én giống như cái tổ khống lỗ và an toàn mà Mẹ Thiên Nhiên ban tặng cho con người, với không gian trú ẩn, nước, không khí, ánh sáng.... Hang có ba cửa lớn: cửa trước có hai lớp, vòm cửa ngoài dẫn vào một “sảnh chờ" rộng rãi; cửa trong lại thấp hẹp, sát ngay dải sông ngắm khá rộng, sâu quả thắt lưng. Muốn vào hang, phải lội qua sông rối trẻo ngược vách đá hiểm trở, cao mấy chục mét. Đứng trên đỉnh dốc sẽ nhìn thấy lòng hang xa tít phía dưới, được bao bọc bằng một quãng sông rộng, nước sâu. Vịn đá lần xuống chân dốc, chúng tôi ngồi bè qua sông để đến lòng hang chính.

Hang Én, Quảng Bình

(1) Hồ điệp: con bướm.

Lòng hang Én phía trước, nơi rộng nhất khoảng 110 m², có thể chứa được hàng trăm người. Trần hang đẹp như mái vòm của một thánh đường, nơi cao nhất tương đương với toà nhà bốn mươi táng (120 m). Cửa thứ hai thông lên mặt đất như cái giếng trời khổng lồ đón khí trời và ánh sáng. Quãng sông ngầm đỗ lại êm đềm trước thềm hang chính, len lỏi quanh các hang phụ chứng 4 km, rồi đổ ra cửa hang sau. Ở hang chính, bờ sông cát mịn thoải dần, nước mát lạnh, trong veo, đáy toàn sỏi, đá đã bào nhẫn tạo thành một bãi tắm thiên nhiên hoàn hảo. Nghe nói thời xa xưa, tộc người A-rem(1) đã sống trong hang Én. Trứng chim từng là một nguồn thực phẩm của họ. Giờ họ đã rời ra ngoài sống thành bản nhưng vẫn còn giữ lễ hội "ăn én . Cũng nghe kể rằng, trong bản A-rem vẫn còn một vài người có bàn chân mỏng, ngón dẹt – dấu tích của bao nhiêu thế hệ leo vách đá, trần hang cao hàng trăm mét.

THEO DÕI

Chú ý các số liệu về diện tích, độ cao, chiều dài.... của hang Én.

Trong hang Én, hàng vạn con chim én vẫn hồn nhiên cư ngụ và chưa phải biết sợ con người. Bốn vách hang, trấn hang – nơi nào cũng dày đặc chim én. Cộng đồng én thoải mái sống “cuộc đời" của chúng, không mảy may để ý đến sự hiện diện của nhóm du khách. Én bố mẹ tấp nập đi, về, mải mốt mớm mỗi cho con; én anh chị rập rờn bay đôi; én ra ràng (2) chấp chới vỗ cảnh bên rìa hốc đá... Nhiều bạn én thiếu niên ngủ nướng, say giấc ngay trên những mỏm đả thấp dọc lối đi. Nếu đặt lên vai, bạn sẽ rúc vào tóc hoặc đậu trên đầu mình để... ngủ tiếp! Bữa tối, một chú én tò mò sa xuống bàn ăn, cánh bị thương không bay lên được. Khi mắt đã quen với ánh đèn, nó ung dung mổ cơm ăn trong lòng tay tôi. Sáng hôm sau, tôi vẫn thấy nó thản nhiên đi lại quanh lều với một bên cánh còn hơi sã xuống. Có lẽ chỉ ngày mai thôi, đôi cánh ấy sẽ lành hẳn.
Vòng ra sau hang Én là bạn có thể bước chăm chậm qua vài trăm triệu năm. Bạn sẽ thấy hàng trăm dải đá san hô uốn lượn thành bao nhiêu tăng, bậc lớn nhỏ, đọng đấy nước nguồn trong vắt tựa như những thửa ruộng bậc thang tuyệt đẹp vào mùa nước đổ. Bạn sẽ thấy những "thương hải tang điển" (3) còn hiện hữu trên dải hoá thạch sò, ốc, san hô,... nơi vách đá. Rồi nhũ đá (4),

(1) Người A-rem (còn gọi là người Chứt): một tộc người thiểu số. Năm 1959, tộc người này được phát hiện còn 34 người sống trong hang sâu tại khu Phong Nha - Kẻ Bàng.
(2) Ra ràng: (chim non) mọc đủ lông, đù cánh, có thể tập bay.
(3) Thương hải tang điền bãi bể (biến thành) nương dâu, chỉ những biến đổi lớn lao.
(4) Nhữ đà thạch nhũ (vù đá), mọc từ trần hang xuống.

măng đá), ngọc động giăng đầy bên những vách núi, sàn hang.... Hô-oát Lim-bơ(2) (Howard Limbert), người tìm ra hơn 500 hang động ở Việt Nam, trong đó có hang Sơn Đoòng lớn nhất thế giới, khẳng định rằng: mỗi xen-ti-mét đá kia phải qua cả trăm triệu năm bào mòn hay bồi đắp mới nên. Và tất cả măng đá, nhũ đá, ngọc động ấy vẫn "sống" trong hành trình tạo tác của tự nhiên. [...]
Khi bóng tối trùm kín lòng hang Én, thì khoảng trời phía trên cửa hang thứ hai vẫn sáng rất lâu nên có thể nhìn rõ từng đàn én chao liệng không dứt. Đàn én cuối cùng bay về hang khi nền trời đã sẵm hẳn. Tôi ngồi bệt trên cát, trước mặt là khoảng sông lấp lánh, trên cao là trần hang tối thẫm và một khoảng trời thăm thẳm đấy sao. Tử bé tiếng chim líu ríu như ru nhau và ru người. Nửa đêm thức dậy, vẫn nghe tiếng chim chíu chít, tiếng nước chảy âm âm – và cả tiếng phân chim rơi lộp độp trên mái lều.

THEO DÕI

Chú ý những từ ngữ diễn tả sự hoà mình của du khách với thiên nhiên.

Năm giờ, đã thấy sáng bừng cả lòng hang, tưởng người ta bật điện – hoả ra luống nắng ban mai vàng rỡ rọi chéo từ khoảng trời cao xuống. Trên mặt sông, năng hoà với hơi nước mỏng, tan dần thành lãng đãng khói mơ. Ai nấy nhoài ra khỏi lều, chân trần chạy quanh sông, rồi ngồi ngay bên bờ cát vục nước rửa mặt, hít căng lồng ngực thứ không khí mát lành, tỉnh khiết...
(Theo Hà My, Trang thông tin điện tử Sở Du lịch Quảng Bình, ngày 14/10/2020)

Sau khi đọc

Trả lời câu hỏi

1

Nhân vật "tôi" đã kể về hành trình khám phá hang Én theo trình tự nào?

2

Tìm những chi tiết miêu tả địa hình, cây cối, loài vật trên đường đến hang Én. Những chi tiết này gợi cho em cảm nhận gì về rừng nguyên sinh?

3

Qua bài kí, em hiểu được gì về sự "sống" của đá và cuộc sống của loài én chưa "biết sợ con người"?

4

Hình ảnh nào trong bài thể hiện sự trân trọng, lòng biết ơn và tình yêu của con người với tự nhiên?

5

Tâm trạng của du khách khi sống trong không gian hang Én, thiếu thốn các tiện nghi thông thường được miêu tả qua những chi tiết nào?

6

Cách tác giả cảm nhận về cuộc sống hoang dã có làm cho người đọc khiếp sợ tự nhiên không? Vì sao?

(3) Măng đá: chất đá vôi kết đọng hình măng, nón thấp nhỏ.
Hô-oát Lím-bo chuyên gia Hiệp hội Hang động Hoàng gia Anh.

7

Có ý kiến cho rằng hành trình khám phá hang Én thích hợp với những người ưa mạo hiểm. Theo em, hành trình này còn đánh thức những điều gì ở con người?

Việt kết nói với đọc

Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) nêu cảm nhận của em về hang Én.

Thực hành tiếng Việt

Dầu câu

1

Nêu công dụng của dấu ngoặc kép trong các câu sau:
a. Cảm giác về một cuộc "ngược dòng tìm về với thuở sơ khai đến với tôi ngay khi len lỏi qua cánh rừng nguyên sinh này.
b. Hang có ba cửa lớn: cửa trước có hai lớp, vòm cửa ngoài dẫn vào một “sảnh chờ" rộng rãi, cửa trong lại thấp hẹp, sát ngay dải sông ngầm khá rộng, sâu quá thắt lưng.

Nhận biết công dụng của dấu ngoặc kép

Đọc câu sau và chú ý cách dùng dầu ngoặc kép: Cộng đồng én thoải mãi sống "cuộc đời" của chúng, không máy may để ý đến sự hiện diện của nhóm du khách.
Trong câu trên, tác giả đã dùng từ cuộc đời vốn thường dùng cho con người để nói về loài én. Từ cuộc đời ở đây được hiểu theo nghĩa đặc biệt: loài én cũng có đời sống như con người.

2

Cho biết công dụng của dấu phẩy, dấu ngoặc kép và dấu gạch ngang được dùng trong các đoạn trích sau:
a. Giờ họ đã rời ra ngoài sống thành bản nhưng vẫn còn giữ lễ hội “ăn én . Cũng nghe kể rằng, trong bản A-rem vẫn còn một vài người có bàn chân mông, ngón dẹt – dấu tích của bao nhiêu thế hệ leo vách đá, trần hang cao hàng trăm mét.
b. Hô-oát Lim-bo, người tìm ra hơn 500 hang động ở Việt Nam, trong đó có hang Sơn Đoòng lớn nhất thế giới, khẳng định rằng: mỗi xen-ti-mét đá kia phải qua cả trăm triệu năm bào mòn hay bồi đắp mói nên. Và tất cả măng đá, nhũ đá, ngọc động ấy vẫn "sống" trong hành trình tạo tác của tự nhiên.

3

Tìm thêm những câu văn có sử dụng dấu ngoặc kép trong các văn bản Cô Tô, Hang Én và giải thích công dụng của dầu ngoặc kép trong từng trường hợp.

Biện pháp tu từ

4

Xác định và chỉ ra tác dụng của biện pháp tu từ nhân hoà trong những câu sau:
a. Bữa tối, một chủ én tò mò sa xuống bàn ăn, cánh bị thương không bay lên được.
b. Sáng hôm sau, tôi vẫn thấy nó thân nhiên đi lại quanh lều với một bên cánh còn hơi sã xuống.

5

Chỉ ra các biện pháp tu từ được sử dụng trong những câu sau và nêu tác dụng:
a. Nhiều bạn én thiếu niên ngủ nướng, say giấc ngay trên những môm đã thắp dọc lối đi.
b. Chúng đậu thành từng vạt như đám hoa là ai ngẫu hứng xếp trên mặt đất.
c. Cửa thứ hai thông lên mặt đất như cái giếng trời khổng lồ đón khí trời và ánh sáng.

Văn bản 3

Đọc văn bản

Cửu Long Giang ta ơi

Trích, NGUYÊN HỒNG

Ngày xưa ta đi học
Mười tuổi thơ nghe gió thổi mùa thu
Mắt ngắng lên trông bản đồ rực rỡ
Như đồng hoa bỗng gặp một đêm mơ.

Bản đồ mới tường vôi cũng mới
Thấy giáo lớn sao, thước bảng cũng lớn sao
Gậy thần tiên (1) và cảnh tay đạo sĩ (2)
Đưa ta đi sông núi tuyệt vời.

Tim đập mạnh hồn ngây không sao hiểu
Mê Kông (3) sông dài hơn hai ngàn cây số mông mênh

[...]
Mê Kông chảy
Cây lao đá đổ
Lan hoang dứa mật thông nhựa lên hương
Những trưa hè ngun ngút (4) nắng Trường Sơn (5)
Ngẫm nghĩ voi đi
Thác Khôn (6) cười trắng xoá

(1) Gậy thần tiên: hình ảnh ẩn dụ chỉ cây thước (đồ dùng dạy học) của thầy giáo trong cái nhìn mơ mộng của học trò.
2) Đạo sĩ ở đây chỉ hình ảnh người thấy được ngưỡng mộ trong mắt học trò
(3) Mê Kông một trong những con sông lớn nhất thế giới, bắt nguồn từ cao nguyên Thanh Tạng, chày qua địa phận Trung Quốc, Lào, Mi-an-ma (Myanmar), Thái Lan, Cam-pu-chia (Cambodia), Việt Nam và đổ ra Biển Đông. Đoạn sông Mê Kông chảy qua Việt Nam gọi là sông Cửu Long (Cửu Long Giang).
(4) Ngun ngút: hơi nóng bốc lên và toà ra không ngọt (nghĩa trong văn cảnh).
(5) Trường Sơn dãy núi dài nhất Việt Nam, kéo dài từ thượng nguồn sông Cả trên đất Lào giáp Nghệ An tới cực nam Trung Bộ: Trường Sơn được chia thành Trường Sơn Bắc và Trường Sơn Nam, ngăn cách bởi dãy núi Bạch Mã.
(6) Thác Khôn: một thác nước trên sông Mê Kông, nằm ở phía tây nam Lào.

[...]
Ta đi... bản đồ không nhìn nữa...
Sáng mùa thu lại còn bướm với trời xanh
Trúc đào tươi chim khuyên rỉa cánh sương đọng long lanh
Ta cởi áo lội dòng sông ta hát
Mê Kông chảy, Mê Kông cũng hát
Rừng núi lùi xa
Đất phẳng thở chan hoà.
Sóng toả chân trời buồm trắng.
Nam Bộ
Nam Bộ
Chín nhánh Mê Kông phù sa (1) nổi váng
Ruộng bãi Mê Kông trồng không hết lúa
Bến nước Mê Kông tôm cá ngợp thuyền
Sầu riêng thơm dậy đất Thủ Biên (2)
Suối mát dội trong lòng dừa trĩu quả.

Mê Kông quận đẻ
Chín nhánh sông vàng
Nông dân Nam Bộ gối đất nằm sương
Mồ hôi vã bãi lấy thành đồng lúa
Thành những tên đọc lên nước mắt đều muốn ứa
Những Hà Tiên (3), Gia Định(4), Long Châu(5)
Những Gò Công (6), Gò Vấp (7), Đồng Tháp (8), Cà Mau (9)

(1) Phù sa đất, cát nhỏ, mịn cuốn trôi theo dòng sông hoặc lắng đọng lại ở bờ sông, bãi bồi.
(2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9) Thủ Biên, Hà Tiên, Gia Định, Long Châu, Gò Công, Gò Vấp, Đồng Tháp, Cà Mau các địa danh quen thuộc ở Nam Bộ xưa và nay.

Những mặt đất
Cha ông ta nhắm mắt
Truyền cháu con không bao giờ chia cắt.

Ta đã lớn
Thấy giáo già đã khuất
Thước bảng to nay thành cản cờ sao
Những tên làm man mác tuổi thơ xưa
Đã thấm máu của bao hồn bất tử,

(Nguyên Hồng, Trời xanh, NXB Văn học, Hà Nội, 1960, tr. 5 – 9)

Sau khi đọc

Nguyên Hồng (1918-1982) sinh ra ở Nam Định nhưng đời văn có nhiều gắn bó với thành phố Hải Phòng. Nguyên Hồng sáng tác ở nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kì, thơ,.... Những trang viết của ông tràn đầy cảm xúc chân thành, mãnh liệt với con người và cuộc sống. Các tác phẩm chính của ông gồm: Những ngày thơ ấu (hồi kí), Bĩ vỏ (tiểu thuyết), Trời xanh (thơ), Cửa biển (tiều thuyết). Bước đường viết văn (hồi kí)....

Trả lời câu hỏi

1

Theo em, nhan đề bài thơ có gì đặc biệt? Nhan đề ấy gọi lên ấn tượng, cảm xúc gì?

2

Em hình dung thế nào về "tấm bản đồ rực rỡ"? Nhân vật trong bài thơ có cảm xúc như thế nào khi nhìn tấm bản đồ ấy?

3

Tìm những chi tiết miêu tả vẻ đẹp của dòng sông Mê Kông.

4

Hình ảnh người nông dân Nam Bộ được tác giả khắc hoạ qua những chi tiết nào? Những chi tiết đó gợi cho em cảm nhận gì về con người nơi đây?

Viết

Viết bài văn tả cảnh sinh hoạt

Trong hai văn bản Cô Tô và Hang Én, các tác giả đã viết về những trải nghiệm của mình, miêu tả khung cảnh thiên nhiên, cảnh sinh hoạt và những con người họ đã gặp gỡ. Cuộc sống thật là phong phú. Xung quanh ta, biết bao sự việc đang diễn ra trong những khung cảnh khác nhau. Em hãy quan sát và miêu tả một cảnh sinh hoạt mà mình đã chứng kiến hoặc tham gia và chia sẻ với người đọc.

Yêu cầu đối với bài văn tả cảnh sinh hoạt
  • Giới thiệu được cảnh sinh hoạt.
  • Tả bao quát quang cảnh (không gian, thời gian, hoạt động chính).
  • Tả hoạt động cụ thể của con người.
  • Sử dụng từ ngữ phù hợp để miêu tả cảnh sinh hoạt một cách rõ nét, sinh động.
  • Nêu được cảm nghĩ về cânh sinh hoạt.

Phân tích bài viết tham khảo

Chợ phiên vùng cao

Bạn đã đi chợ phiên vùng cao bao giờ chưa?
Cảnh chợ phiên rất thú vị nhé. Chợ được họp vào sáng thứ Bảy hàng tuần.

Giới thiệu cảnh sinh hoạt.

Ngay từ sáng sớm, từng tốp người đi bộ hoặc cưỡi ngựa từ các nẻo đường mòn xuống chợ. Bóng họ còn lẫn trong sương mù.

(1) Vùng cao ở đây là vùng núi cao của miền Bắc Việt Nam.

Đó là những người dân tộc Mông, Dao, Giáy (1),... sống trên những triến núi cao, đến chợ phiên để trao đổi nông sản và giao lưu, gặp gỡ nhau.

Chợ họp trên sườn núi, ven con đường liên huyện đã được trải nhựa. Từ trên cao nhìn xuống, cả khu chợ như miếng thổ cẩm (2) sặc sỡ khảm vào tấm áo của rừng núi và mây trời. Vào chợ, bạn sẽ vui như lạc vào một ngày hội. Ai xuống chợ cũng mặc những bộ trang phục riêng của dân tộc mình. Phụ nữ váy áo xúng xính đủ mọi hoa văn, màu sắc, đeo trên cố, trên tay những chiếc vòng bạc lấp lánh, đội những chiếc khăn xanh đỏ tím vàng. Đàn ông cầm trên tay những chiếc khèn hoặc chiếc chạc (3) trâu bỏ, túm tụm quanh những hũ rượu, bàn tán xôn xao. Những em bé được mẹ địu sau lưng mắt cứ tròn xoe, toét miệng cười, má căng mọng và hồng rực. Tiếng nói cười rộn rã, tiếng sáo, tiếng khèn dìu dặt, tiếng còi xe thỉnh thoảng lại rẻ lên, tiếng trâu bò ậm ò....

Tả quang cảnh chung.

Tả hoạt động cụ thể của con người.

Chợ chia thành nhiều khu. Người ta mua bán đủ loại mặt hàng, phần nhiều là những sản vật núi rừng: những mớ rau tươi còn ướt sương; những giò phong lan rừng mộc mạc, khoẻ khoắn; những nhánh cây rừng khẳng khiu dùng làm thảo dược, những gùi mận, đào chín đỏ đấy ăm ắp;... Nếu đi qua dây bán đồ ăn, bạn sẽ không cưỡng nổi ý muốn sà vào một hàng thắng cố (4). Chảo thắng cố to như cái thùng, luôn sôi sùng sục, nghi ngút khói, toả mùi thơm rất đặc biệt. Đây đó các có các bà bán xôi ngũ sắc, mở chõ xôi nóng hổi, lần lượt bọc xôi trắng, xôi tím, xôi vàng.... vào những mảnh lá non rồi đưa cho khách với nụ cười tươi tắn. Đặc biệt, chợ dành hẳn một khu rất rộng để mua bán gia súc. Bây trâu hung hăng như muốn giằng mình khỏi sợi dây thừng.

Sử dụng từ ngữ phù hợp để miêu tả cảnh sinh hoạt một cách rõ nét, sinh động.

(1) Mông, Dao, Giáy các dân tộc thiểu số cư trú chủ yếu ở vùng núi cao phía bắc Việt Nam.
(2) Thổ cẩm: loại vải dệt thủ công của một số dân tộc thiểu số miền núi, có nhiều hoa văn sặc sỡ nổi lên bề mặt
(3) Chạc: dây bện bằng lạt tre, lạt nửa, nhỏ và ngắn hơn dây thừng, dùng để buộc.
(4) Thắng cố món ăn của người Mông, thường nấu từ thịt và nội tạng ngựa, đựng trong một cái cháo lớn.

Mấy chú bò thong thả, bình thản nằm nhai cỏ như chẳng quan tâm đến người mua kẻ bán. Lũ dê bị cột vào vách núi, thỉnh thoảng lại nhảy cảng lên. Kẻ bán người mua, tiếng mặc cả, tiếng quát trâu bò ồn à, vang động cả một góc chợ.

Chợ tan vào tấm quả trưa. Người đi chợ lại tản về các bản làng xa xôi, lòng thầm hẹn tuần sau xuống chợ.

Chợ phiên là nơi lưu giữ bản sắc văn hoá trong sinh hoạt cộng đồng các dân tộc thiểu số phía bắc Việt Nam. Bạn hãy đến đó một lần để cảm nhận vẻ đẹp và sự sống động của nó.

(Nhóm biên soạn)

Thể hiện thái độ, suy nghĩ của người viết.

Thực hành viết theo các bước

Trước khi viết

Lựa chọn đề tài

Hãy nhớ lại những cảnh sinh hoạt để lại cho em ấn tượng sâu sắc hoặc khiến em nhận ra những ý nghĩa mới của cuộc sống. Có thể tham khảo một số đề tài sau:
Cảnh chợ cá bên bờ biển
Ngày tết Trung thu ở quê em
Cảnh thu hoạch mùa màng
Cảnh gói bánh chưng ngày Tết
Cảnh một lễ hội của địa phương.

Mục đích viết

Chia sẻ những quan sát và cảm nhận của em, giúp người đọc hình dung rõ về cảnh sinh hoạt.

Người đọc

Bạn bè, thầy cô và những người quan tâm, yêu thích cảnh sinh hoạt mà em miêu tả.

Tìm ý

Sau khi đã lựa chọn được đề tài, hãy tìm ý cho bài viết bằng các cách sau:
Hình dung các chi tiết về cảnh sinh hoạt theo trí nhớ của em (viết ngắn gọn dưới hình thức cụm từ):
+ Thời gian, địa điểm
+ Quang cành chung và những hoạt động cụ thể
+ Những người tham gia và hành động, lời nói của họ.
Sưu tầm các tư liệu (vật dụng, tranh ảnh, đoạn phim ngắn) liên quan đến cảnh sinh hoạt.

Lập dàn ý

Sắp xếp các ý đã tìm được cho bài viết thành một dàn ý như sau:

Dàn ý

Mở bài: Giới thiệu cảnh sinh hoạt.
Thân bài: Miêu tả cảnh sinh hoạt.
+ Tả bao quát khung cảnh và ấn tượng chung về cảnh sinh hoạt.
+ Tả cụ thể cảnh sinh hoạt theo trình tự thời gian; hoạt động cụ thể của những người tham gia.
+ Thể hiện cảm xúc khi quan sát, chứng kiến hoặc tham gia cảnh sinh hoạt.
Kết bài: Nêu suy nghĩ, đánh giá của người viết.

Viết bài

Khi viết bài, em cần lưu ý:
Tả những gì em đã quan sát.
Nên tả cụ thể hình dáng, màu sắc, âm thanh, mùi vi1... Chú ý dùng các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hoá đề bài viết thêm sinh động.
Sử dụng những từ ngữ thể hiện chân thực tình cảm, suy nghĩ của em.

Chỉnh sửa bài viết

Rà soát, chỉnh sửa bài viết theo những gợi ý trong bảng sau:

Yêu cầu | Gợi ý chỉnh sửa
Giới thiệu cành sinh hoạt và tả quang cảnh chung. | Chỉnh sửa, bổ sung nếu bài viết chưa giới thiệu được cành sinh hoạt cần miêu tả và quang cảnh chung.
Tả hoạt động cụ thể của những người tham gia cảnh sinh hoạt. Cung cấp một số thông tin có liên quan đến cảnh sinh hoạt. | Bổ sung những chi tiết về các hoạt động cụ thể của những người tham gia cảnh sinh hoạt (nếu cần). Có thể thêm các thông tin về lịch sử, địa lí, văn hoá.... có liên quan đến cảnh sinh hoạt.
Sử dụng các từ ngữ phù hợp để miêu tả cảnh sinh hoạt một cách rõ nét, sinh động. | Đánh dấu những từ ngữ miêu tả cảnh sinh hoạt. Nếu cần thiết, hãy bổ sung đề cảnh sinh hoạt hiện ra một cách rõ nét, sinh động.
Thể hiện cảm nghĩ của bản thân về cảnh sinh hoạt. | Đánh dấu những từ ngữ thể hiện cảm nghĩ của bản thân đối với cảnh sinh hoạt. Nếu chưa có, hãy bổ sung.
Bảo đảm yêu cầu về chính tả và diễn đạt. | Rà soát lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.... trong bài viết và chỉnh sửa nếu phát hiện có lối.

Nói và nghe

Chia sẻ một trải nghiệm về nơi em sống hoặc từng đến
Hẳn là em có nhiều trải nghiệm thú vị về nơi mình sống hoặc từng đến thăm. Hãy chia sẻ những trải nghiệm ấy với mọi người để chúng ta có cơ hội làm phong phú thêm đời sống tâm hồn của mình, mở mang hiểu biết và được truyền cảm hứng khám phá vẻ đẹp của cuộc sống.

Trước khi nói

Chuẩn bị nội dung nói

Hãy nhớ lại những trải nghiệm về nơi em sống hoặc về một vùng đất mà em từng đến thăm. Chọn nói về một trải nghiệm để lại cho em nhiều ấn tượng và cảm xúc nhất.

Mục đích nói

Chia sẻ trải nghiệm của bản thân về một vùng đất.

Người nghe

Thầy cô, bạn bè, người thân và những người đang muốn đến thăm vùng đất mà em nói tới.

Gợi ý. Em có thể kể về những điều đã thấy trên con đường tới trường hay những lần theo cha mẹ, ông bà ra đồng ruộng, lên nương rẫy, đi chợ phiên, dạo phố phường.... Có thể chia sẻ cảm nhận về một khung cảnh thiên nhiên hay một cảnh sinh hoạt mà em trực tiếp quan sát hoặc tham gia nhân một lần về thăm quê hay một chuyến du lịch cùng với gia đình, một buổi tham quan cùng với lớp.... Có thể sử dụng một số chi tiết trong bài tả cành sinh hoạt đã thực hiện trong phần Viết đề làm cho nội dung bài nói thêm phong phú.
Viết ra giấy các ý chính của bài nói. Cần có nội dung giới thiệu hoàn cảnh dẫn đến trải nghiệm mà em muốn chia sẻ (đi tới trường, đi chợ hay dạo phố cùng người thân, về thăm quê hay đi du lịch cùng gia đình, đi tham quan cùng với lớp....); tả khung cảnh mà em quan sát được (nhộn nhịp, rộn rã, náo nhiệt hay yên tĩnh, bình lặng, hoang sơ....); nêu những trải nghiệm và ấn tượng nổi bật của em về khung cảnh nơi em nói đến.
Chuẩn bị tranh ảnh, đoạn phim ngắn,... liên quan đến trải nghiệm (nếu có).

Tập luyện

Tập trình bày một mình hoặc trước bạn bè, người thân và nhờ họ nhận xét, góp ý. Tập luyện nhiều sẽ giúp em hoàn thiện bài nói và tự tin hơn khi trình bày trước lớp.

Trình bày bài nói

Trình bày bải nói một cách rõ ràng, nhấn mạnh những điểm quan trọng.

Nêu câu hỏi để lôi cuốn người nghe tham gia tương tác.

Bày tỏ sự hào hứng khi tái hiện, kể về những cảnh, những sự việc mà em đã chứng kiến hoặc trực tiếp tham gia. Khi nói, kết hợp sử dụng ngôn ngữ cơ thể (cử chỉ, biểu cảm của nét mặt) để thu hút sự chú ý của người nghe.

Trong nôi, sử dụng những bức ảnh hay đoạn phim ngắn minh hoạ vào thời điểm thích hợp.

Sau khi nói

Trao đổi về bài nói theo một số gợi ý sau:

Người nghe | Người nói
Cùng hình dung đặc điểm của sự vật, sự việc được người nói kề, tả, từ đó nêu ý kiến nhận xét hoặc cảm xúc của mình về bài nói. | Lắng nghe và phản hồi những chia sẻ của người nghe một cách tích cực.
Nêu câu hỏi về những điều cần làm rõ thêm: thông tin về lịch sử, địa lí, văn hoà có liên quan đến không gian được nói tới. | Giải thích những điều người nghe cần làm rõ.
Góp ý về cách trình bày (ngữ điệu, cách diễn đạt, sự tương tác với người nghe). | Cảm ơn và tiếp thu những góp ý với tỉnh thần cầu thị.

Củng cố, mở rộng

1

Kẻ bảng vào vở theo mẫu và điền các thông tin về hai văn bản Cô Tô, Hang Én.
Cô Tô | Hang Én
Hành trình khám phá của người kể chuyện |
Những thông tin xác thực được ghi chép (địa danh, con người, số liệu....) |
Những biện pháp nghệ thuật nổi bật |

2

Tìm đọc thêm các tác phẩm ki hoặc thơ viết về các vùng miền của đất nước. Chỉ ra một vài nét tương đồng và khác biệt của những tác phẩm đó với các tác phẩm đã học trong bài.

Thực hành đọc

Khi đọc văn bản dưới đây, em cần chú ý những vấn đề sau:

  • Những dấu hiệu cho thấy văn bản này thuộc thể loại du kí.
  • Vẻ đẹp của tháp Khương Mỹ.
  • Những thông tin hữu ích về lịch sử và văn hoá trong bài kí.

Nghìn năm tháp Khương Mỹ

LAM LINH

Trong suốt cuộc hành trình dài hơn 20 tháp lớn nhỏ, xa gắn suốt dọc chiều dài gần nghìn cây số, tôi đặc biệt thích nhóm tháp Khương Mỹ. Thích không phải vì nó có giá trị lịch sử đặc biệt, không phải vì nó nằm ở một vị trí đẹp mắt. Đơn giản thích chỉ bởi vì cụm tháp này vẫn còn giữ được khá nguyên vẹn “nhan sắc” thuở sơ khai của nó vào hơn một nghìn năm về trước, chưa bị bàn tay con người đụng chạm hay sửa sang như hầu hết các cụm tháp khác, một vẻ đẹp thách thức với thời gian.

Trời lất phất mưa khi chúng tôi tìm đường vào cụm tháp Khương Mỹ.

Di tích tháp Chăm (1) Khương Mỹ thuộc thôn 4, xã Tam Xuân I, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam được xây dựng vào cuối thế kỉ IX đầu thế kỉ X, bao gồm ba tháp: tháp Bắc, tháp Giữa, tháp Nam. Cụm tháp Khương Mỹ được công nhận là di tích quốc gia năm 1989.

Mưa đã dứt. Bước qua những thân cỏ rậm rạp và ướt đẫm nước mưa, tôi ghé thăm những ngọn tháp đang lấp lánh dưới ánh mặt trời. Nếu như trong mưa, những tháp cổ toát lên một vẻ đẹp trầm mặc, suy tư, u buồn thì trong nắng, vẻ đẹp của tháp được phô diễn bởi màu gạch nung óng ả nổi bật giữa trời xanh. Hơn một ngàn năm, trải qua bao thăng trầm của lịch sử, những ngọn tháp trở nên trầm tư, lặng lẽ, uy nghiêm.

(1) Tháp Chăm: một dạng đền tháp thuộc kiến trúc quen thuộc của dân tộc Chăm (còn gọi là dân tộc Chàm, sinh sống chủ yếu ở vùng Nam Trung Bộ ngày nay).

Ba tháp được xếp theo trục bắc - nam, kiến trúc theo lối tháp Chăm truyền thống với mặt bằng gắn vuông, cửa ra vào hướng đông, mái ba tầng. Cửa giả của các tầng tháp trang trí hình lá đề. Một số tác phẩm điêu khắc gắn vào chân tháp có hình chim thần Ga-ru-da(1) (Garuda), rắn Na-ga(2) (Naga), người cưỡi voi, người cưỡi ngựa (3),... Bên trong tháp trống trơn, chỉ có rêu xanh phủ đầy ở những nơi mà ánh sáng có thể lọt vào.

Bức tường của tháp thứ hai là cả một tác phẩm nghệ thuật đồ sộ vẫn còn được giữ khá nguyên vẹn. Từ dưới chân tháp đến đỉnh tháp là hoa văn điêu khắc trực tiếp trên gạch với những nét uyển chuyển khó tin. Trải qua cả nghìn năm, những nét hoa văn vẫn duyên dáng lạ thường. Màu sắc thâm sau mưa của gạch càng làm hoa văn thêm sắc nét. Mảng gạch lộ ra ngoài giúp ta có thể nhìn thấy được những viên gạch với mối nối đặc biệt. Cách xây dựng các tháp Chăm vẫn khiến các nhà khoa học đau đầu.

Tháp Khương Mỹ, ảnh của Lam Linh

(1). (2) Chim thần Ga-ru-đa, rắn Na-ga: những con vật trong truyền thuyết Ấn Độ giáo.
(3) Người cưỡi voi, người cưỡi ngựa: các hoạ tiết trang trí liên quan đến Ấn Độ giáo từng ảnh hưởng đến văn hoá Chăm.

Người Chăm cổ đã xây dựng nên những toà tháp bằng cách nào? Những viên gạch được mài phẳng rồi xếp lên nhau vừa khít, được gắn bởi một loại keo dán đặc biệt hay họ đã xếp gạch chưa nung thành toà tháp rồi nung lên cho chúng gắn kết tự nhiên trong quá trình nung? Chưa ai trả lời được câu hỏi đó.

Xung quanh chân tháp, tôi vô cùng thích thú với những mảng điêu khắc có hình các chú khỉ đáng yêu đang bận rộn, mỗi chú một việc. Những tượng khỉ này có lẽ liên quan đến trường ca Ra-ma-ya-na (Ramayana), một pho sử thi nổi tiếng của Ấn Độ. Vài chú khỉ đội hành lí lên đầu, có lẽ chúng đang lội nước. Có cảnh khá tinh nghịch diễn tả khỉ bị rùa cắn, có cảnh diễn tả sự mệt mỏi của các chú khỉ với cái lưng còng xuống, hai tay ôm bầu nước, có cảnh ba chú khỉ đang đánh trống, nhảy múa,...

Tháp Chăm Khương Mỹ để lại cho tôi ấn tượng đặc biệt bởi những hoa văn điêu khắc tinh xảo. Tiếc là những tháp Chăm còn giữ lại những vẻ đẹp như thế này không nhiều, nếu không nói là đến hôm nay chỉ còn duy nhất tháp Khương Mỹ. Rời tháp Chăm Khương Mỹ khi trời đã về chiều, tôi và cô bạn không khỏi nuối tiếc vì vẫn muốn đắm mình lâu hơn nữa với những ngọn tháp cổ, để được cảm nhận sâu hơn nữa những giá trị văn hoá mà tháp Chăm đem lại cho con người hôm nay.

(Theo Lam Linh, Yếm đào du kí, trích Phụ nữ và những chuyến đi, NXB Phụ nữ và An-pha-búc (Alphabooks), Hà Nội, 2017, tr. 286 – 293)

Đọc mở rộng

  • Tìm đọc một số bài thơ lục bát và bài du kí về quê hương đất nước.
  • Trao đổi với các bạn về: số tiếng, số dòng, vần, nhịp và những nét độc đáo trong cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ của các bài thơ lục bát, hình thức ghi chép, cách kể sự việc của các bài du kí.
  • Đọc diễn cảm một bài thơ lục bát hoặc một đoạn văn trong một bài du kí.
  • Học thuộc lòng một số đoạn thơ, bài thơ mà em yêu thích.

Xem bản PDF nguyên trang sách: Ngữ văn 6 tập 1 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 108–130).