Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn.
(Nguyễn Đình Thi)
Giới thiệu bài học
- Cây có cội, nước có nguồn, con người có quê hương. Quê hương
là nơi tổ tiên, ông bà, cha mẹ ta đã sinh sống. Quê hương là đất đai
xứ sở, truyền thống ông cha, là những điều giản dị và thân thuộc
ta gắn bỏ hằng ngày. Tình yêu quê hương là tình cảm ấm áp, chân
thành, bền lâu của con người.
- Tình yêu quê hương đất nước Việt Nam từ xưa đến nay đã đi vào văn
học, âm nhạc, hội hoạ, điện ảnh.... Trong bài học này, em sẽ cảm nhận
tình yêu quê hương trong những bài ca dao và thơ trữ tình hiện đại
viết theo thể lục bát một thể thơ mang đậm bản sắc Việt Nam. Em
cũng sẽ được đọc một văn bản thuộc thể loại khác kết nối về chủ đề
với những bài thơ lục bát này.
Yêu cầu cần đạt
- Nhận biết được số tiếng, số dòng, vần, nhịp của thơ lục bát; bước đầu nhận xét được
nét độc đáo của một bài thơ thể hiện qua từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ: nhận biết
được tình cảm, cảm xúc của người viết thể hiện qua ngôn ngữ văn bản.
- Nhận biết được từ đồng âm, từ đa nghĩa; nhận biết được hoán dụ và hiều tác dụng
của việc sử dụng hoán dụ.
- Bước đầu biết làm bài thơ lục bát và viết đoạn văn ghi lại cảm xúc sau khi đọc một
bài thơ lục bát.
- Trình bày được ý kiến về một vấn đề trong đời sống.
- Trân trọng, tự hào về các giá trị văn hoá truyền thống và vẻ đẹp của quê hương, đất nước.
Đọc
Tri thức ngữ văn
Thơ lục bát
- Thơ lục bát là thể thơ mà các dòng thơ được sắp xếp thành từng cặp, một
dòng sáu tiếng và một dòng tâm tiếng.
- Vần trong thơ lục bát. Tiếng cuối của dòng sâu vẫn với tiếng thứ sáu của dòng tâm
tiếng cuối của dòng tâm lại vẫn với tiếng cuối của dòng sáu tiếp theo.
- Thanh điệu trong thơ lục bát: Trong dòng sáu và dòng tâm, các tiếng thứ sáu, thứ tám
là thanh bằng còn tiếng thứ tư là thanh trắc. Riêng trong dòng tâm, mặc dù tiếng thứ
sáu và thứ tám đều là thanh bằng nhưng nếu tiếng thứ sáu là thanh huyền thi tiếng
thứ tâm là thanh ngang và ngược lại.
- Nhịp trong thơ lục bát: Thơ lục bát thường ngắt nhịp chẩn ( ,
Lục bát biến thể
Lục bát biến thể không hoàn toàn tuân theo luật thơ của lục bát thông thường, có sự biển
đổi số tiếng trong các dòng, biến đổi cách gieo vần, cách phối thanh, cách ngắt nhịp....
Từ đồng âm và từ đa nghĩa
Từ đồng âm là những từ có âm giống nhau nhưng nghĩa khác nhau, không có mối
liên hệ nào với nhau. Từ đa nghĩa là từ có hai hoặc nhiều hơn hai nghĩa, các nghĩa này
có liên quan với nhau
Hoán dụ
Hoàn dụ là biện pháp tu từ dùng từ ngữ vốn chỉ sự vật, hiện tượng này để gọi tên
sự vật, hiện tượng khác có mối quan hệ tương cân (gần nhau) nhằm tăng khả năng gợi
hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.
Văn bản đọc
VĂN BẢN 1. Chùm ca dao về quê hương đất nước
VĂN BẢN 2. Chuyện cổ nước mình, Lâm Thị Mỹ Dạ
VĂN BẢN 3. Cây tre Việt Nam, Thép Mới
Văn bản 1
Trước khi đọc
1.
1. Với em, nơi đâu là quê hương yêu dấu? Nếu có thể nói những ấn tượng đẹp đẽ
và sâu sắc nhất về quê hương, em sẽ nói điều gì?
2.
2. Em thích bài thơ nào viết về quê hương? Hãy đọc diễn cảm một vài câu trong
bài thơ đó.
Đọc văn bản
Chùm ca dao (1) về quê hương đất nước
1.
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Võ (2) canh gà (3) Thọ Xương(4),
Mịt mù khỏi toả ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái (5), mặt gương Tây Hồ(6).
(Nguyễn Xuân Kinh - Phan Đăng Nhật - Phan Đăng Tải -
Nguyễn Thuý Loan - Đặng Diệu Trang, Kho tàng ca dao người Việt, tập 1,
NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 2001, tr. 1145)
2.
Đường lên xứ Lạng(7) bao xa?
Cách Cách một một trái trái núi núi với ba quãng đóng.
với quảng đông.
Ca dao thơ trữ tình dân gian, nội dung biểu hiện đời sống tâm hồn, tình cảm của người bình dân.
Ngôn ngữ ca dao giản dị, trong sáng, gần với lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân lao động.
Trần Võ: một ngôi đền nằm bên cạnh Hồ Tây (còn có tên là đền Trần Vũ, đền Quán Thánh).
Đền được xây dựng vào thời Lý, thờ Huyền Thiên Trần Vũ, một vị thần trần giữ hướng bắc của
Thăng Long xưa.
Canh gà tiếng gà báo canh. Canh là đơn vị tỉnh thời gian ban đêm ngày xưa. Người xưa chia một
đêm ra thành năm canh, hai tiếng là một canh.
Thọ Xương tên một huyện của thành Thăng Long xưa, nay là các quân Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng
và một phần các quận Đống Đa, Ba Đình của Hà Nội.
Nhịp chày Yên Thái nhịp chày giã dó (vỏ cây dó) để làm giầy ở làng Yên Thái, thành Thăng Long xưa.
Tây Hồ tức Hồ Tây, một thắng cảnh nổi tiếng của Thủ đô Hà Nội, còn được gọi là đầm Xác Cáo, hồ
Kim Ngưu, hồ Lãng Bạc,....
Xứ Lạng: tức Lạng Sơn, một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc nước ta. Lạng Sơn có nhiều thắng cảnh
như động Nhị Thanh, chùa Tam Thanh....
Ai ơi, đứng lại mà trông:
Kìa núi thành Lạng, kia sông Tam Cờ(1).
(Vũ Ngọc Phan, Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam,
NXB Thời đại, Hà Nội, 2010, tr. 118)
3.
Đỏ từ Đông Ba (2), đỏ qua Đập
Đá(
3),
5),
Đò về Vĩ Dạ (4), thẳng ngã ba Sình (
Lờ đờ bóng ngả trăng chênh
Tiếng hò xa vọng, nặng tình nước non.
(Nguyễn Xuân Kính - Phan Đăng Nhật - Phan Đăng Tải - Nguyễn Thuý Loan -
Đặng Diệu Trang, Kho tàng ca dao người Việt, tập 1, Sdd, tr. 917)
Sông Tam Có (sông Tam Ki): một con sông của tỉnh Lạng Sơn.
Đông Ba chợ nổi tiếng của Huế, nằm bên bờ bắc của sông Hương.
Đập Đá: một con đập của Huế, chạy ngang qua một nhành sông Hương.
Vĩ Dạ: một ngôi làng nằm bên bờ sông Hương, phong cảnh thơ mộng, đã đi vào thơ ca nhạc hoạ
Ngã ba Sình ngã ba sông, nơi gặp nhau giữa sông Hương và sông Bồ.
Sau khi đọc
Trả lời câu hồi
1.
1. Đọc các bài ca dao 1, 2 và cho biết: Mỗi bài ca dao có mấy dòng? Cách phân bố số tiếng
trong các dòng cho thấy đặc điểm gi của thơ lục bát?
2.
2. Đổi chiều với những điều được nêu trong mục Tri thức ngữ văn ở đầu bài học, hãy xác
định cách gieo vần, ngắt nhịp và phối hợp thanh điệu trong các bài ca dao 1 và 2.
3.
3. So với hai bài ca dao đầu, bài ca dao 3 là bài lục bát biến thể. Hãy chỉ ra tinh chất biến
thể của thể thơ lục bát trong bài ca dao này trên các phương diện: số tiếng trong mỗi
dòng, cách gieo vần, cách phối hợp thanh điệu....
4.
4. Trong cụm từ mặt gương Tây Hồ, tác giả dân gian đã sử dụng biện pháp tu từ nào? Hãy
nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó.
5.
5. Nêu cảm nhận của em về tình cảm tác giả dân gian gửi gắm trong lời nhắn gửi: Ai ,
đứng lại mà trông. Hãy tìm một số câu ca dao có sử dụng từ ai hoặc có lời nhắn Ai ơi...
6.
6. Bài ca dao 3 đã sử dụng những từ ngữ, hình ảnh nào để miêu tả thiên nhiên xử Huế?
Những từ ngữ, hình ảnh đó giúp em hình dung như thế nào về cảnh sông nước nơi đây?
7.
7. Các bài ca dao trữ tình thường bộc lộ trực tiếp tình cảm, cảm xúc của con người.
Qua chùm ca dao trên, em cảm nhận được gì về tình cảm của tác giả dân gian đối với
quê hương đất nước?
Việt kết nói với đọc
Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) nêu cảm nghĩ của em về một danh lam thắng cảnh của
quê hương đất nước.
Thực hành tiếng Việt
Từ đồng âm và từ đa nghĩa
1.
1. Trong ba trường hợp sau, ta có một từ bóng đa
một từ bống đa
nghĩa hay có các tử bóng đồng âm với nhau? Giải
thích nghĩa của từ đó trong từng trường hợp.
Đọc câu sau và chú những
từ giống nhau về âm: Một nghề
cho chín còn hơn chín nghẻ
Từ chín thứ nhất chỉ tính chất
còn từ chín thứ hai chỉ số lượng -
nghĩa của hai từ này khác nhau,
không có mối liên hệ nào với
nhau. Nghĩa của hai từ đồng âm
này được xác định nhờ sự kết
hợp của chúng với các từ khác
trong câu.
a.
Lờ đờ bóng ngà trăng chênh
Tiếng hỏ xa vọng, nặng tỉnh nước non.
b. Bóng đã lăn ra khỏi đường biên dọc.
c. Mặt bản được đánh véc-ni thật bỏng.
2.
2. Phân biệt nghĩa của các từ in đậm trong những
trường hợp sau. Theo em, đó có phài là những từ
đồng âm hay không? Vì sao?
a. - Đường lên xứ Lạng bao xa?
Những cây mía óng này chính là nguyên liệu đề
làm đường.
b. – Đứng bên ni đồng, ngỏ bên tê đồng, mênh mông bát ngát.
Đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng, cũng bát ngát mênh mông.
(Ca dao)
3.
3. Nghĩa của từ trái trong những trường
hợp dưới đây có liên quan với nhau
không? Vì sao?
a. Cây xoài trước sân nhà em có rất
nhiều trái.
b. Bồ vừa mua cho em một trái bóng.
c. Cách một trải núi với ba quãng đồng.
4.
4. Xác định từ cổ đa nghĩa và từ cổ đồng
âm với từ đa nghĩa đó trong ba câu sau:
a. Con có có cái cổ cao.
b. Con quạ tìm cách uống nước trong
một chiếc bình cao cổ.
c. Phố cổ tạo nên vẻ đẹp riêng của
Hà Nội.
5.
5. Hãy giải thích nghĩa của từ nặng trong
câu ca dao: Tiếng hò xa vọng, nặng tình
nước non.
Tim thêm một số ví dụ có từ nặng được
dùng với nghĩa khác.
Nếu từ đồng âm là các từ có âm giống nhau
nhưng nghĩa khác nhau, không liên quan với
nhau thì với trường hợp từ đa nghĩa, các
nghĩa khác nhau của một từ lại có liên quan
với nhau. Ví dụ:
(1) Tôi ăn com.
(2) Xe này ăn xăng nhiều.
Từ ăn trong ăn com có nghĩa là tự cho vào
cơ thể thức nuôi sống", còn trong ăn xăng
có nghĩa là tiếp nhận cái cần thiết cho sự
hoạt động". Có thể thấy rõ hai nghĩa này liên
quan với nhau. Như vậy ở đây có một từ ăn
được dùng với hai nghĩa khác nhau. Nhờ sự
kết hợp giữa từ đa nghĩa với những từ khác
trong câu, người đọc (người nghe) có thể
nhận biết nghĩa nào của từ đa nghĩa được
sử dụng.
Văn bản 2
Trước khi đọc
1.
1. Em biết những câu chuyện cổ nào của nước ta?
2.
2. Em thích những nhân vật nào trong các câu chuyện đó? Vì sao?
Đọc văn bản
Chuyện cổ(1) nước mình
LÂM THỊ MỸ DẠ(2)
Tôi yêu chuyện cổ nước tôi
Vừa nhân hậu lại tuyệt vời sâu xa
Chuyện cổ: câu chuyện được lưu truyền từ xa xưa.
Lâm Thị Mỹ Dạ sinh năm 1949, quê ở Quảng Bình. Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ nhẹ nhàng, đâm thầm,
trong trẻo, thể hiện một tâm hồn tinh tế, giàu yêu thương.
Thương người rồi mới thương ta
Yêu nhau dù mấy cách xa cũng tìm
Ở hiến thì lại gặp hiến
Người ngay thì gặp người tiên độ trì(1)
Mang theo chuyện cổ tôi đi
Nghe trong cuộc sống thấm thì tiếng xưa
Vàng cơn nắng, trắng cơn mưa
Con sông chảy có rặng dừa nghiêng soi
Đời cha ông với đời tôi
Như con sông với chân trời đã xa
Chỉ còn chuyện cổ thiết tha
Cho tôi nhận mặt ông cha của mình
Rất công bằng, rất thông minh
Vừa độ lượng (2) lại đa tình(3), da mang(4).
Thị thơm thì giấu người thơm
Chăm làm thì được áo cơm cửa nhà
Đéo cày theo ý người ta
Sẽ thành khúc gỗ chẳng ra việc gì
Tôi nghe chuyện cổ thấm thì
Lời cha ông dạy cũng vì đời sau
Đậm đà cái tích trầu cau
Miếng trấu đỏ thắm nặng sâu tình người
Sẽ đi qua cuộc đời tôi
Bấy nhiêu thời nữa chuyển dời xa xôi
Nhưng bao chuyện cổ trên đời
Vẫn luôn mới mẻ rạng ngời lương tâm.
(Lâm Thị Mỹ Dạ, Tuyển tập, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2011, tr. 203)
Độ trì cứu giúp.
Độ lượng: đức tính của người có tấm lòng khoan dung, rộng lượng, dễ tha thứ.
Đa tình: giàu tình cảm.
Đa mang ràng buộc vào mình nhiều điều để phải lo lắng bận tâm.
Sau khi đọc
Trả lời câu hỏi
1.
1. Bài thơ được viết theo thể thơ nào? Cho biết những dấu hiệu giúp em nhận ra thể thơ đó.
2.
2. Qua lời thơ, em nhận thấy bóng dáng của những câu chuyện cổ nào? Tim từ ngữ, hình
ảnh gợi liên tưởng đến những câu chuyện đó.
3.
3. Chuyện cổ đã kể với nhà thơ những điều gì về vẻ đẹp tinh người?
4.
4.
Chỉ còn chuyện cổ thiết tha
Cho tôi nhận mặt ông cha của mình
Tình cảm của nhà thơ với những câu chuyện cổ được thể hiện như thế nào qua hai
dòng thơ trên?
5.
5.
Tôi nghe chuyện cổ thẩm thì
Lời cha ông dạy cũng vì đời sau
Hai dòng thơ trên gợi cho em những suy nghĩ gì?
6.
6. Vì sao với nhà thơ, những câu chuyện cổ "Vẫn luôn mới mẻ rạng ngời lương tâm"?
Việt kết nói với đọc
Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) nêu cảm nghĩ của em về đoạn thơ sau:
Đời cha ông với đời tôi
Như con sông với chân trời đã xa
Chỉ còn chuyện cổ thiết tha
Cho tôi nhận mặt ông cha của mình.
Văn bản 3
Đọc văn bản
Cây tre Việt Nam
THÉP MỚI
[...] Cây tre là người bạn thân của nông dân Việt Nam, bạn thân của nhân
dân Việt Nam.
Nước Việt Nam xanh muôn ngàn cây lá khác nhau. Cây nào cũng đẹp, cây
nào cũng quý, nhưng thân thuộc nhất vẫn là tre nứa. Tre Đồng Nai, nửa Việt
Bắc, tre ngút ngàn Điện Biên Phủ, luỹ tre thân mật làng tôi... đâu đâu ta cũng
có nứa tre làm bạn.
Tre, nứa, trúc, mai, vấu(1) mấy chục loại khác nhau, nhưng cùng một mắm
non măng mọc thẳng. Vào đâu, tre cũng sống. Ở đâu, tre cũng xanh tốt. Dáng
tre vươn mộc mạc, màu tre tươi nhũn nhặn (2). Rồi tre lớn lên, cứng cáp, dẻo dai,
vững chắc. Tre trông thanh cao, giản dị, chỉ khí như người.
Nhà thơ đã có lần ca ngợi:
Bóng tre trùm mát rượi.
Bóng tre trùm lên âu yếm làng, bản, xóm, thôn. Dưới bóng tre của ngàn
xưa, thấp thoáng mái đình mái chùa cổ kính. Dưới bóng tre xanh, ta gìn giữ
một nền văn hoá lâu đời. Dưới bóng tre xanh, đã từ lâu đời, người dân cày
Việt Nam dựng nhà, dựng cửa, vỡ ruộng, khai hoang. Tre ăn ở với người
đời đời kiếp kiếp. Tre, nứa, mai, vấu giúp người hàng nghìn công việc khác
nhau. Tre là cánh tay của người nông dân.
Cánh đồng ta năm đôi ba vụ
Tre với người vất vả quanh năm.
Tre với người như thế đã mấy nghìn năm [...]. Tre vẫn phải còn vất vả mãi
với người.
Cối xay tre nặng nề quay, từ nghìn đời nay, xay nắm thóc.
Trong mỗi gia đình nông dân Việt Nam, tre là người nhà, tre khăng khít
với đời sống hằng ngày.
Giang (3) chẻ lạt, buộc mềm, khít chặt những mối tình quê. Cái thuở ban
đấu thường nỉ non dưới bóng tre, bỏng nứa.
Lạt này gói bánh chưng xanh
Cho mai lấy trúc (4), cho anh lấy nàng...
Tre còn là nguồn vui duy nhất của tuổi thơ. Các em bé còn có đó chơi gì
nữa ngoài mấy que chuyến đánh chắt (5) bằng tre.
Nưa, trúc, mai, vấu các loài cây cùng họ với tre.
Nhữn nhận khiêm tốn, nhún nhường ở đây nói về màu xanh bình dị, tươi mà không rực rỡ của tre
Giang cây thuộc họ tre, thân dẻo, gióng dài, thường dùng chè lạt đề đan lát, buộc.....
Cho mai lấy trúc: mai là cây hoa mai (không phải cây mai cùng họ với tre, như ở chú thích (1)),
mai và trúc là hai loài cây đẹp thường đi đôi với nhau trong văn chương, hội hoạ thời cổ để biểu
thị sự hoà hợp, tương xứng ở đây là cách ví von để nói về ước nguyện kết duyên đôi lứa.
Đánh chất (còn gọi là chuyển thể): trò chơi dân gian của trẻ em, thường là của con gái, dùng một
số que trải ra đất rồi tung một hòn sỏi hoặc một quá nhỏ lên lượm lấy que tre và hứng lấy vật vừa
tung lên. Trò chơi này rèn luyện sự nhanh nhẹn và khéo léo.
[...] Suốt một đời người, từ thuở lọt lòng trong chiếc nôi tre, đến khi
nhắm mắt xuôi tay, nằm trên giường tre, tre với mình, sống có nhau, chết
có nhau, chung thuỷ.
Như tre mọc thẳng, con người không chịu khuất phục. Người xưa có câu:
“Trúc dẫu cháy, đốt ngay vẫn thẳng . Tre là thẳng thắn, bất khuất! Ta kháng chiến,
tre lại là đồng chí chiến đấu của ta. Tre vốn cùng ta làm ăn, lại vì ta mà cùng ta
đánh giặc.
Buổi đầu, không một tấc sắt trong tay, tre là tất cả, tre là vũ khí. Muôn đời
biết ơn chiếc gậy tầm vông (1) đã dựng nên Thành đồng Tổ quốc (2) Và sông
Hồng bất khuất có cái chông tre.
Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thủ. Tre xung phong vào xe
tăng, đại bác. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre
hi sinh để bảo vệ con người. Tre, anh hùng lao động! Tre, anh hùng chiến đấu!
Tầm vông loại tre thân nhỏ, cứng, đặc, không có gai, thường dùng làm gậy. Buổi đầu cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ, vì thiều vũ khí, nhân dân ta đã dùng gậy tầm vông
đành giặc.
Thành đồng Tổ quốc: danh hiệu Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cho Nam Bộ trong cuộc chiến đầu bào
vệ độc lập, tự do.
Tre, nứa, trúc, mai, vấu(1) mấy chục loại khác nhau, nhưng cùng một mắm non măng mọc thẳng. Vào đâu, tre cũng sống. Ở đâu, tre cũng xanh tốt. Dáng tre vươn mộc mạc, màu tre tươi nhũn nhặn (2). Rồi tre lớn lên, cứng cáp, dẻo dai, vững chắc. Tre trông thanh cao, giản dị, chỉ khí như người.
Nhà thơ đã có lần ca ngợi:
Bóng tre trùm mát rượi.
Bóng tre trùm lên âu yếm làng, bản, xóm, thôn. Dưới bóng tre của ngàn xưa, thấp thoáng mái đình mái chùa cổ kính. Dưới bóng tre xanh, ta gìn giữ một nền văn hoá lâu đời. Dưới bóng tre xanh, đã từ lâu đời, người dân cày Việt Nam dựng nhà, dựng cửa, vỡ ruộng, khai hoang. Tre ăn ở với người đời đời kiếp kiếp. Tre, nứa, mai, vấu giúp người hàng nghìn công việc khác nhau. Tre là cánh tay của người nông dân.
Cánh đồng ta năm đôi ba vụ
Tre với người vất vả quanh năm.
Tre với người như thế đã mấy nghìn năm [...]. Tre vẫn phải còn vất vả mãi với người.
Cối xay tre nặng nề quay, từ nghìn đời nay, xay nắm thóc.
Trong mỗi gia đình nông dân Việt Nam, tre là người nhà, tre khăng khít với đời sống hằng ngày.
Giang (3) chẻ lạt, buộc mềm, khít chặt những mối tình quê. Cái thuở ban đầu thường nỉ non dưới bóng tre, bóng nứa.
Lạt này gói bánh chưng xanh
Cho mai lấy trúc (4), cho anh lấy nàng...
Tre còn là nguồn vui duy nhất của tuổi thơ. Các em bé còn có đó chơi gì nữa ngoài mấy que chuyền đánh chắt (5) bằng tre.
(1) Nứa, trúc, mai, vấu: các loài cây cùng họ với tre.
(2) Nhũn nhặn: khiêm tốn, nhún nhường, ở đây nói về màu xanh bình dị, tươi mà không rực rỡ của tre.
(3) Giang: cây thuộc họ tre, thân dẻo, gióng dài, thường dùng chẻ lạt để đan lát, buộc.....
(4) Cho mai lấy trúc: mai là cây hoa mai (không phải cây mai cùng họ với tre, như ở chú thích (1)), mai và trúc là hai loài cây đẹp thường đi đôi với nhau trong văn chương, hội hoạ thời cổ để biểu thị sự hoà hợp, tương xứng; ở đây là cách ví von để nói về ước nguyện kết duyên đôi lứa.
(5) Đánh chắt (còn gọi là chuyền thẻ): trò chơi dân gian của trẻ em, thường là của con gái, dùng một số que trải ra đất rồi tung một hòn sỏi hoặc một quả nhỏ lên lượm lấy que tre và hứng lấy vật vừa tung lên. Trò chơi này rèn luyện sự nhanh nhẹn và khéo léo.
[...] Suốt một đời người, từ thuở lọt lòng trong chiếc nôi tre, đến khi nhắm mắt xuôi tay, nằm trên giường tre, tre với mình, sống có nhau, chết có nhau, chung thuỷ.
Như tre mọc thẳng, con người không chịu khuất phục. Người xưa có câu: “Trúc dẫu cháy, đốt ngay vẫn thẳng”. Tre là thẳng thắn, bất khuất! Ta kháng chiến, tre lại là đồng chí chiến đấu của ta. Tre vốn cùng ta làm ăn, lại vì ta mà cùng ta đánh giặc.
Buổi đầu, không một tấc sắt trong tay, tre là tất cả, tre là vũ khí. Muôn đời biết ơn chiếc gậy tầm vông (1) đã dựng nên Thành đồng Tổ quốc (2) Và sông Hồng bất khuất có cái chông tre.
Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thù. Tre xung phong vào xe tăng, đại bác. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre hi sinh để bảo vệ con người. Tre, anh hùng lao động! Tre, anh hùng chiến đấu!
(1) Tầm vông: loại tre thân nhỏ, cứng, đặc, không có gai, thường dùng làm gậy. Buổi đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ, vì thiếu vũ khí, nhân dân ta đã dùng gậy tầm vông đánh giặc.
(2) Thành đồng Tổ quốc: danh hiệu Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cho Nam Bộ trong cuộc chiến đấu bảo vệ độc lập, tự do.
[...] Nhạc của trúc, nhạc của tre là khúc nhạc của đồng quê. Nhớ một buổi nào, nồm nam cơn gió thổi, khóm tre làng rung lên man mác khúc nhạc đồng quê.
Diều bay, diễu lá tre bay lưng trời...
Sáo tre, sáo trúc vang lưng trời...
Gió đưa tiếng sáo, gió nâng cánh diều.
Trời cao lồng lộng, đồng ruộng mênh mông hãy lắng nghe tiếng hát giữa trời cao của trúc, của tre...
[...] Điệu múa sạp tre có từ ngày chiến thắng Điện Biên. Sạp là những thanh tre gõ vào nhau. Tre của những đòn tre đã từng đỡ gánh nặng cho bước chân đi, đến chợ xa hay ra tiền tuyến, hôm nay ca vang gõ nhịp những bước chân ta nhảy múa.
Tre già măng mọc. Măng mọc trên huy hiệu ở ngực thiếu nhi Việt Nam, lửa măng non của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1),
Các em, các em rồi đây lớn lên, sẽ quen dần với sắt, thép và xi măng cốt thép.
Nhưng, nứa, tre sẽ còn mãi với các em, còn mãi với dân tộc Việt Nam, còn mãi với chúng ta, với hạnh phúc, hoà bình.
[...] Ngày mai, trên đất nước này, sắt, thép có thể nhiều hơn tre, nứa. Nhưng, trên đường trường ta dẫn bước, tre xanh vẫn là bóng mát. Tre vẫn mang khúc hát tâm tình. Tre sẽ càng tươi những cổng chào thắng lợi. Những chiếc đu tre vẫn dướn lên bay bổng. Tiếng sáo diều tre cao vút mãi.
Cây tre Việt Nam! Cây tre xanh, nhũn nhặn, ngay thẳng, thuỷ chung, can đảm. Cây tre mang những đức tính của người hiền là tượng trưng cao quý của dân tộc Việt Nam.
1955
(Theo Thép Mới, Cây tre Việt Nam,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 353-357)
(1) Việt Nam Dân chủ Cộng hoà: quốc hiệu của nước ta ở thời điểm tác giả viết tác phẩm này.
Sau khi đọc
- Thép Mới (1925 – 1991) là nhà văn, nhà báo nổi tiếng. Tác phẩm của ông giàu chất trữ tình, cảm hứng nổi bật là ca ngợi tinh thần yêu nước của nhân dân ta.
- Bài Cây tre Việt Nam là lời bình cho bộ phim cùng tên của các nhà làm phim Ba Lan.
Trả lời câu hồi
1.
Vẻ đẹp của cây tre Việt Nam được tác giả miêu tả cụ thể qua những chi tiết, hình ảnh nào?
2.
Những từ ngữ nào trong văn bản biểu đạt rõ nhất đặc điểm của cây tre?
3.
Khi nói về cây tre, tác giả đồng thời nói đến khung cảnh, cuộc sống, văn hoá của Việt Nam. Hãy chỉ ra những chi tiết đó trong bài.
4.
Vì sao tác giả có thể khẳng định: "Cây tre mang những đức tinh của người hiền là tượng trưng cao quý của dân tộc Việt Nam"?
5.
Tìm một số chi tiết, hình ảnh cụ thể làm rõ cho lời khẳng định của tác giả: "Cây tre là người bạn thân của nông dân Việt Nam, bạn thân của nhân dân Việt Nam".
6.
Em đang sống ở thời điểm "ngày mai” mà tác giả nhắc đến trong văn bản, khi "sắt thép có thể nhiều hơn tre nứa". Theo em, vì sao cây tre vẫn là một hình ảnh vô cùng thân thuộc với đất nước, con người Việt Nam?
Thực hành tiếng Việt
Biện pháp tu từ
1.
Các từ ngữ in đậm trong những câu sau có nghĩa hoán dụ. Em hãy giải thích nghĩa của các từ ngữ đó.
a. Suốt một đời người, từ thuở lọt lòng trong chiếc nôi tre, đến khi nhắm mắt xuôi tay, nằm trên giường tre, tre với mình, sống có nhau, chết có nhau, chung thuỷ.
b. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín.
Đọc hai dòng thơ sau, chủ ý nghĩa của áo châm:
Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.
(Tố Hữu, Việt Bắc)
Ở đây áo chàm được dùng với nghĩa hoán dụ, chỉ những người dân Việt Bác với trang phục đặc trưng là áo chàm.
2.
Chỉ ra các biện pháp tu từ được sử dụng trong những câu sau và nêu tác dụng của chúng.
a. Đời cha ông với đòi tôi
Như con sông với chân trời đã xa
b. Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép của quân thù. Tre xung phong vào xe tăng, đại bác.
Quan hệ giữa trang phục với người mang trang phục đó được coi là quan hệ tương cận (gần nhau). Ngoài ra, quan hệ tương cận có thể là quan hệ toàn thể – bộ phận, vật chứa – vật được chứa, sự vật – chất liệu....
Nghĩa của từ ngữ
3.
Những dòng thơ: Đẽo cây theo người ta/ Sẽ thành khúc gỗ chẳng ra việc gì gọi cho em liên tưởng đến thành ngữ nào? Giải thích ngắn gọn ý nghĩa của thành ngữ đó.
4.
Tre già măng mọc là một thành ngữ quen thuộc. Dựa vào bài Cây tre Việt Nam, hãy nêu cách hiểu của em về thành ngữ này.
Viết
A. tập làm một bài thơ lục bát
Qua những bài ca dao và thơ làm theo thể lục bát được học trong bài, em đã nắm được những đặc điểm cơ bản của thể thơ này. Dựa trên những hiểu biết đó, hãy thử làm một bài thơ lục bát về đề tài mà em yêu thích.
1. Khởi động viết
a. Tập gieo vần
Hãy tập gieo vần bằng cách chọn những tiếng thích hợp để đặt vào chỗ trống trong đoạn thơ dưới đây:
Tiếng chim vách núi nhỏ dần
Rì rầm tiếng suối khi ... khi xa
Ngoài thềm rơi chiếc lá ...
Tiếng rơi rất mỏng như... roi nghiêng.
(Theo Trần Đăng Khoa)
b. Xác định đề tài
Có thể chọn bất kì đề tài nào gọi cho em nhiều cảm xúc, chẳng hạn: thiên nhiên, quê hương, gia đình, bạn bè, mái trường....
2. Thực hành viết
Hình dung cụ thể về đề tài em định viết (Có hình ảnh gì nổi bật? Hình ảnh ấy gợi cho em liên tưởng tới điều gì?...). Thử tìm một nhan đề thích hợp cho bài thơ theo đề tài mà em định chọn (cũng có thể đặt tên bài thơ sau khi em đã hoàn thành).
Bắt đầu bằng cách thử viết dòng lục hoặc cặp lục bát đầu tiên với những hình ảnh gọi ấn tượng rõ rệt nhất trong cảm xúc, suy nghĩ của em. Chú ý sử dụng số tiếng, lựa chọn vần, ngắt nhịp theo đúng quy định của thể thơ lục bát. Cũng có thể thử biến đổi một bài thơ 4 chữ, 5 chữ thành bài thơ lục bát.
Chẳng hạn, với ý tưởng gió đi tìm bạn, em có thể đặt nhan đề bài thơ là Bạn của gió và viết cặp lục bát đầu tiên như sau:
Ai là bạn gió, gió ơi
Gió đi tìm bạn, đất trời mênh mông.
Viết những cặp lục bát tiếp theo. Đọc lên để cảm nhận rõ hơn về vần, nhịp và từ ngữ, hình ảnh trong các dòng thơ. Điều này sẽ giúp em cảm thấy hứng thú và thể hiện được cảm xúc, ý tưởng một cách dễ dàng hơn.
Chẳng hạn, để tiếp nối hai dòng thơ Ai là bạn gió, gió ơi! Gió đi tìm bạn, đất trời mênh mông, có thể viết:
Gió đưa con sáo sang sông
Gió lùa tóc mẹ bềnh bồng như mây.
Hãy thử phát triển ý tưởng, cảm xúc và hình ảnh thơ theo nhiều cách khác nhau. Tập sử dụng các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hoá, ẩn dụ; dùng từ láy tả âm thanh, màu sắc,... Vừa viết vừa đọc, không ngại xoá đi viết lại cho đến khi em cảm nhận được âm thanh nhịp nhàng và vẻ đẹp cuốn hút của từ ngữ, hình ảnh trong bài thơ. Có thể kết thúc bài thơ khi em đã bộc lộ được ý tưởng một cách tương đối trọn vẹn.
Sáng tác một bài thơ không phải là điều dễ dàng. Nhưng em có thể thử sức để hiểu rõ hơn cách mà một bài thơ xuất hiện. Đó quả thật là một điều kì diệu!
3. Chỉnh sửa
Sau khi bài thơ lục bát được làm xong, em hãy đọc diễn cảm bài thơ của mình. Khi lời thơ vang lên, hãy chú ý xem bài thơ đã làm theo đúng thể thơ lục bát chưa (số tiếng trong mỗi dòng thơ, cách gieo vần, phối hợp thanh điệu....).
Chỉnh sửa lỗi chính tả (nếu có) và xét xem có từ ngữ nào cần thay thế để bài thơ hay hơn.
B. viết đoạn văn thể hiện cảm xúc về một bài thơ lục bát
Những bài thơ lục bát đã học, đã đọc gọi cho em những cảm xúc gì? Hình ảnh, ngôn từ, nhạc điệu của chúng khiến em rung động như thế nào? Hãy ghi lại cảm nhận của em về một bài thơ lục bát yêu thích.
Yêu cầu đối với đoạn văn thể hiện cảm xúc về một bài thơ lục bát:
- Giới thiệu được bài thơ, tác giả (nếu có).
- Nêu được cảm xúc về nội dung chính hoặc một khía cạnh nội dung của bài thơ.
- Thể hiện được cảm nhận về một số yếu tố hình thức nghệ thuật của bài thơ (thể thơ, từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ....).
Phân tích bài viết tham khảo
Nét đẹp của bài ca dao
Anh đi anh nhớ quê nhà...
Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao (1)
Những dòng thơ trên được lưu truyền trong dân gian như một bài ca dao. Lời thơ tràn đầy nỗi nhớ da diết của người con xa xứ hướng về quê nhà. Từ “nhớ” được lặp đi lặp lại trong cả bốn dòng thơ bộc lộ nỗi niềm bồi hồi không dứt. Trở đi trở lại cùng nỗi nhớ là những kí ức sâu đậm về hương vị của quê hương trong những món ăn dân dã: "canh rau muống”, “cà dầm tương”. Hình ảnh con người nơi quê nhà cũng hiện lên vô cùng thân thiết trong những công việc lao động hằng ngày: “dãi nắng dầm sương”, “tát nước bên đường”.... Nhịp điệu nhẹ nhàng, êm đềm của thể thơ lục bát quen thuộc đã góp phần diễn tả niềm thương mến, nỗi nhớ da diết và tình cảm gắn bó sâu nặng của người ra đi. Bài ca dao khơi dậy trong ta tình yêu, sự gắn bó với những gì gần gũi, thân thuộc của quê hương.
Giới thiệu bài ca dao.
Nêu cảm xúc về nội dung chính của bài ca dao.
Nêu cảm nhận về một số yếu tố hình thức nghệ thuật của bài ca dao.
(Nhóm biên soạn)
(1) Những dòng thơ này được in trong tập Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải, Xuân Diệu giới thiệu, Lữ Huy Nguyên sưu tầm, tuyển chọn, NXB Văn học, Hà Nội, 1984, tr. 152.
Thực hành viết theo các bước
1. Trước khi việt
a. Lựa chọn bài thơ
Nhớ lại những bài thơ lục bát mà em đã học, đã đọc hoặc tìm đọc một bài thơ lục bát mới.
Bài thơ được chọn có thể là một bài ca dao (khuyết danh) hoặc là sáng tác của một nhà thơ.
b. Tìm ý
Đọc bài thơ nhiều lần. Khi lời thơ vang lên, hãy lắng nghe những cảm xúc, suy nghĩ của em và ghi lại điều đó. Nên viết nhanh ra giấy các ý tưởng nảy sinh bằng những cụm từ ngắn gọn.
Có thể tìm ý bằng cách tự đặt ra và trả lời các câu hỏi: Cảm nhận chung khi đọc bài thơ là gì? Bài thơ biểu hiện những điều gì? Bài thơ có những từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ.... nào nổi bật?
c. Lập dàn ý
Sắp xếp các thông tin, ý tưởng tìm được cho bài viết thành một dàn ý như sau:
Bày tỏ cảm xúc của em về một bài thơ lục bát.
Người đọc
Thầy cô, bạn bè, người thân và những người yêu thích bài thơ em chọn.
Mở đoạn: Giới thiệu ngắn gọn về bài thơ, tác giả (nếu có).
Thân đoạn: Trình bày cảm xúc về bài thơ.
+ Nêu cảm xúc về nội dung chính của bài thơ.
+ Nêu ý nghĩa, chủ đề của bài thơ.
+ Nêu cảm nhận về một số yếu tố hình thức nghệ thuật của bài thơ.
Kết đoạn: Khái quát lại những ấn tượng, cảm xúc về bài thơ.
2. Viết bài
Khi viết bài, cần lưu ý:
Bám sát dàn ý, chú trọng những yếu tố đã khơi gợi cảm xúc của em như nhan đề bài thơ, thể thơ (lục bát), nhịp thơ, vần thơ, từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ....
Lựa chọn từ ngữ để diễn tả cảm xúc của em về bài thơ. Kết nối các thành đoạn văn. Mỗi ý nên diễn đạt thành hai, ba câu.
Bảo đảm cách trình bày của một đoạn văn: Lùi đầu dòng ở chỗ mở đầu đoạn, chữ đầu viết hoa và có dấu chấm câu kết thúc đoạn. Bố cục đoạn văn bao gồm ba phần mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn. Nội dung các câu trong đoạn cần hướng về một chủ đề chung.
3. Chỉnh sửa bài viết
Rà soát, chỉnh sửa bài viết theo những gợi ý trong bảng sau:
Yêu cầu | Gợi ý chính sửa
Giới thiệu được nhan đề và tác giả của bài thơ lục bát. | Nếu bài thơ có nhan đề và tên tác giả mà bài viết chưa nêu được thì cần bổ sung.
Nêu được cảm xúc về nội dung chính của bài thơ. | Nếu cần thì bổ sung các ý cụ thể để người đọc hiểu rõ nội dung bài thơ.
Nêu được cảm nhận về một số yếu tố hình thức nghệ thuật. | Rà soát những ý trong bài viết nêu cảm nhận về từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ.... nỗi bật của bài thơ. Hãy chỉnh sửa, bổ sung nếu thấy còn thiếu.
Bảo đảm yêu cầu về chính tả và diễn đạt. | Rà soát lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu,... và chỉnh sửa nếu phát hiện có lỗi.
Nói và nghe
Trình bày suy nghĩ về tình cảm của con người với quê hương
Trong phần Đọc, em đã được tiếp xúc với những tác phẩm thơ, văn thể hiện tình yêu, sự gắn bó với quê hương; lòng tự hào về cảnh sắc, truyền thống văn hoá.... của nơi chúng ta sinh ra và lớn lên. Chắc hẳn trong em đã nảy nở những suy nghĩ, cảm xúc mới mẻ về sự gắn kết của mỗi người với chính quê hương mình. Hãy trình bày những suy nghĩ ấy.
1. Trước khi nói
a. Chuẩn bị nội dung nói
Viết ra giấy các ý chính của bài nói. Gợi ý: Tìm một câu thể hiện khái quát suy nghĩ của em về tình cảm gắn bó của con người với quê hương, ví dụ: "Quê hương là nơi thân thuộc nhất với mỗi con người". Mở rộng thêm ý này bằng cách nêu bằng chứng lấy từ các bài em đã học,
Chia sẻ với người nghe suy nghĩ của em về tình cảm của con người với quê hương.
Người nghe
Thầy cô, bạn bè, người thân và những ai quan tâm đến vấn đề em nói.
những thông tin em biết hoặc những trải nghiệm của chính em. Chẳng hạn, những vật dụng gia đình, cảnh làng quê có luỹ tre được gọi ra từ văn bản Cây tre Việt Nam; hình ảnh quả thị, cô Tấm ... được nhắc đến trong bài thơ Chuyện cổ nước mình; những món ăn dân dã, hình ảnh người lao động và tình cảm nhớ thương quê nhà của một người con xa quê trong bài viết tham khảo Nét đẹp của bài ca dao "Anh đi anh nhớ quê nhà".... sẽ là những gợi ý cho em trong quá trình chuẩn bị nội dung bài nói.
Chuẩn bị tranh ảnh, bài hát,.... về quê hương để minh hoạ cho bài trình bày (nếu có).
b. Tập luyện
Để trình bày tốt, em hãy tập luyện trước. Có thể tập luyện một mình hoặc trước bạn bè, người thân và tiếp thu những nhận xét, góp ý để phần trình bày của mình hay hơn, ấn tượng hơn.
Tập nói rõ ràng, điều chỉnh ngữ điệu phù hợp và kiểm soát thời gian trình bày.
2. Trình bày bài nói
Khi trình bày bài nói, cần bám sát vào mục đích nói lên suy nghĩ của em về tình cảm gắn bó của con người với quê hương nói chung, có thể liên hệ với tình cảm của em với quê hương mình.
Để nội dung trình bày được tập trung, không bỏ sót những ý quan trọng, thỉnh thoảng em có thể nhìn lướt các ý đã được ghi ra giấy.
Chú ý kết hợp trình bày ý kiến với việc sử dụng tranh ảnh, bài hát,... để tăng sức hấp dẫn cho bài nói. Có thể thu hút sự chú ý của người nghe bằng cách đặt câu hỏi gợi mở về tình cảm của mỗi người đối với quê hương. Trong khi nói có thể kết hợp ngâm thơ hoặc hát một hai đoạn về quê hương để bài nói thêm sinh động và ấn tượng. Tuy nhiên, cần tránh lạm dụng các phương tiện hỗ trợ để không làm loãng nội dung bài nói.
3. Sau khi nói
Trao đổi về bài nói theo một số gợi ý sau:
Người nghe | Người nói
Bày tỏ sự đồng cảm với suy nghĩ, cảm xúc của người nói sau khi nghe bài trình bày. | Lắng nghe và phản hồi những chia sẻ của người nghe một cách tích cực.
Có thể nêu câu hỏi về những điểm còn chưa rõ hay có sự khác biệt trong suy nghĩ giữa người nói và người nghe về tình cảm gắn bó của con người với quê hương. | Giải thích những điều người nghe cần làm rõ và trao đổi lại những ý kiến khác biệt.
Góp ý về cách trình bày (ngữ điệu, diễn đạt, sự tương tác với người nghe). | Cảm ơn và tiếp thu những góp ý xác đáng.
Củng cố, mở rộng
1.
Kẻ bảng vào vở theo mẫu sau và điền thông tin ngắn gọn về các văn bản đã học:
Văn bản | Chùm ca dao về quê hương đất nước | Chuyện cổ nước mình | Cây tre Việt Nam
Đặc điểm | | |
Biện pháp tu từ nổi bật | | |
Tình cảm, cảm xúc của tác giả | | |
2.
Tìm và đọc diễn cảm một số bài thơ lục bát.
Thực hành đọc
Khi đọc văn bản dưới đây, em cần chú ý những vấn đề sau:
- Đặc điểm của thể thơ lục bát được thể hiện trong bài thơ.
- Vẻ đẹp của quê hương, đất nước.
- Ý nghĩa được gợi lên từ "hành trình của bầy ong".
Hành trình của bầy ong(1)
Nguyễn đức mậu(2)
Với đôi cánh đẫm nắng trời
Bầy ong bay đến trọn đời tìm hoa.
Không gian là nẻo đường xa
Thời gian vô tận mở ra sắc màu.
(1) Văn bản bài thơ do tác giả cung cấp.
(2) Nguyễn Đức Mậu sinh năm 1948 tại Nam Định, là nhà thơ, nhà văn quân đội.
Tìm nơi thăm thẳm rừng sâu
Bập bùng hoa chuối, trắng màu hoa ban.
Tìm nơi bờ biển sóng tràn
Hàng cây chắn bão dịu dàng mùa hoa.
Tìm nơi quần đảo khơi xa
Có loài hoa nở như là không tên...
Bấy ong rong ruổi trăm miền
Rù rì đôi cánh nối liền mùa hoa.
Nối rừng hoang với biển xa
Đất nơi đâu cũng tìm ra ngọt ngào.
(Nếu hoa có ở trời cao
Thì bấy ong cũng mang vào mật thơm)
Chắt trong vị ngọt mùi hương
Lặng thấm thay những con đường ong bay.
Trải qua mưa nắng vơi đầy
Men trời đất đủ làm say đất trời.
Bấy ong giữ hộ cho người
Những mùa hoa đã tàn phai tháng ngày.
Vầng trăng dâng đĩa mật đấy
Trời sao mở cánh ong bay ngang trời.
Đêm nay như thức cùng tôi
Bấy ong – con chữ nổi lời bài ca.
Xem bản PDF nguyên trang sách: Ngữ văn 6 tập 1 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 88–107).
