Yêu cầu cần đạt

. Hệ thống hoá được những kiến thức đã học trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập hai.
. Củng cố được các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe thông qua việc thực hiện những
nhiệm vụ đã đặt ra trong các bài tập.
. Vận dụng được kiến thức, kĩ năng đã học và rèn luyện vào giải quyết những bài tập
mang tính tổng hợp.

i. Hệ thống hoá kiến thức đã học

1

Sơ đồ hoá danh mục loại, thể loại văn bản đã học trong sách giáo khoa Ngữ văn 11,
tập hai. Nêu nhan đề những văn bản cụ thể thuộc các loại, thể loại ấy.

2

Lập bảng phân loại những đơn vị kiến thức cốt lõi được trình bày trong phần Tri thức
ngữ văn của mỗi bài học trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập hai theo từng nhóm:
kiến thức chung về loại, thể loại; kiến thức về các yếu tố cấu thành văn bản thuộc từng loại,
thể loại; kiến thức về lịch sử văn học; kiến thức tiếng Việt.

3

Nêu nhận xét về nội dung Bài 6 (Nguyễn Du – “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”)
trong sự so sánh với Bài 6 (Nguyễn Trãi – “Dành còn để trợ dân này”) ở sách giáo khoa
Ngữ văn 10, tập hai để nhận ra đặc điểm và yêu cầu riêng của loại bài học về tác gia văn học.

4

Phân tích ý nghĩa của các nội dung thực hành tiếng Việt trong việc hỗ trợ hoạt động đọc
văn bản ở sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập hai.

5

Nêu những kiểu bài viết và yêu cầu của từng kiểu bài đã được thực hành trong sách giáo khoa
Ngữ văn 11, tập hai.

6

Liệt kê các nội dung hoạt động của phần Nói và nghe được thực hiện trong sách giáo khoa
Ngữ văn 11, tập hai và cho biết ý nghĩa của từng nội dung hoạt động đó.

II. luyện tập và vận dụng

Đọc

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Nhà thơ và thế giới
(Trích Diễn từ Nô-ben)
Uýt-xla-oa Dim-bo-xca (Wislawa Szymborska) (1)
Lịch sử cho thấy trong nhiều trường hợp cực đoan nhất, tri thức có thể trở nên
vô cùng nguy hiểm đối với loài người. Chính vì vậy mà tôi đánh giá cao mấy từ
nhỏ bé: “tôi không biết”. Nhỏ bé nhưng có cánh. Cuộc sống mở ra cho chúng ta
những khoảng không rộng lớn. Khoảng không ngay ở trong ta và khoảng không
mà ở đó Trái Đất mỏng manh của chúng ta treo một cách lửng lơ. Nếu như Niu-tơn
(Newton) không nói với mình rằng “tôi không biết”, có lẽ táo trong vườn có rụng
xuống trước mắt ông như mưa đá thì trong trường hợp khả dĩ nhất ông cũng chỉ cúi
xuống nhặt lên ăn một cách ngon lành. Nếu như người đồng hương của tôi, Ma-ri
Quy-ri (Marie Curie) (2), không nói với mình rằng “tôi không biết”, thì có lẽ bà cũng
chỉ trở thành một cô giáo hoá học dạy ăn lương cho các tiểu thư con nhà quyền
quý, và cuộc đời bà cũng chỉ kết thúc ở cái công việc đức hạnh ấy. Thế nhưng Ma-ri
Quy-ri đã nói với mình “tôi không biết và chính những từ ấy đã hai lần đưa bà tới
Xtốc-khôm (Stockholm) (3), nơi những người có tâm hồn sôi động, luôn tìm tòi sáng
tạo được trao tặng giải Nô-ben.
Nhà thơ cũng vậy. Nếu như đó là một nhà thơ thực thụ thì phải luôn nhắc mình
“tôi không biết”. Hãy cố gắng tìm câu trả lời bằng mỗi tác phẩm của mình. Nhưng
khi vừa đặt xong dấu chấm là lại phải cảm thấy băn khoăn. Thấy rằng đó mới chỉ

(1)

Uýt-xla-oa Dim-bo-xca (1923 – 2012): nhà thơ người Ba Lan, được trao giải Nô-ben Văn học năm 1996. Tác
phẩm tiêu biểu của bà: Tôi tìm lời (1945), Những câu hỏi cho mình (1954), Tuyển thơ (1967), Tuyển thơ ll (1983),
Cảnh quan cùng hạt cát: thơ tuyển (1995), Những bài thơ mới và chọn lọc: 1957 – 1997 (1998),...
(2) Ma-ri Quy-ri (1867-1934): nhà vật lí và hoá học người Pháp gốc Ba Lan, hai lần được trao giải Nô-ben vào các
năm 1903 và 1911.
(3) Xtốc khôm: thủ đô nước Thuỵ Điển, nơi định kì diễn ra các lễ trao giải Nô-ben (trừ giải Nô-ben Hoà bình được
trao tại Ô-xlô (Oslo), thủ đô nước Na Uy).

là một câu trả lời nhất thời và tuyệt nhiên chưa đầy đủ. Vậy là phải thử một lần,
một lần nữa, và sau đó, những di chứng về sự không hài lòng với bản thân mình
của nhà thơ sẽ được các nhà nghiên cứu lịch sử văn học găm lại bằng một chiếc
ghim lớn và gọi đó là “sự nghiệp sáng tác".

Tạ Minh Châu dịch
(Đoàn Tử Huyến biên soạn, Các nhà thơ giải Nô-ben (1901-2006), NXB Lao động –
Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2007, tr. 915)

1

Xác định ý tưởng chính mà nhà thơ Uýt-xla-oa Dim-bo-xca muốn triển khai qua
đoạn trích. Ý tưởng đó gắn với từ khoá nào?

2

Hãy nêu một số cụm từ mà bạn cho là có ý nghĩa tương đương với cụm từ
“tôi không biết được tác giả nhắc tới trong đoạn trích.

3

Theo tác giả, việc tự xác nhận rằng “tôi không biết" có ý nghĩa như thế nào đối với
cuộc sống của mỗi con người và của nhân loại nói chung? Bạn đánh giá như thế nào
về các bằng chứng được tác giả nêu lên nhằm khẳng định quan điểm của mình?

4

Hãy nêu một ví dụ gắn với lĩnh vực sáng tạo thơ có thể minh hoạ cho điều được
tác giả để cập trong đoạn 2.

5

Phân tích mạch lạc và liên kết của đoạn trích.

6

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) bày tỏ suy nghĩ của bạn về hoạt động sáng tạo của
nhà thơ nói riêng, của các nghệ sĩ nói chung từ những gì được gợi ý trong đoạn trích.

Viết

Chọn một trong các đề sau:

Đề 1

Soạn văn bản thuyết minh có sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ để giới thiệu một
tác phẩm văn học được bạn đánh giá là đặc sắc.

Đề 2

Vấn đề xã hội nào hiện nay đang khiến bạn quan tâm nhiều nhất? Hãy viết một văn bản
thuyết minh về vấn đề đó.

Đề 3

Ở mỗi người, nhu cầu tìm hiểu, khám phá thế giới kì diệu của nghệ thuật thường được
khơi lên từ cuộc tiếp xúc bất ngờ với một tác phẩm cụ thể. Với bạn, tác phẩm nào đã đóng
vai trò này? Hãy viết về tác phẩm đó.

Nói và nghe

Chọn thực hiện theo nhóm học tập một trong các nội dung sau:

Nội dung 1

Thuyết trình về một tác phẩm văn học được khuyến nghị đọc ở phần Củng cố, mở rộng của
mỗi bài học.

Nội dung 2

Trình bày bài thuyết minh về một vấn đề xã hội tự chọn (có thể dựa vào bài viết của chính
mình về vấn đề này, nếu đã có).

Nội dung 3

Giới thiệu một tác phẩm nghệ thuật từng để lại cho bạn nhiều suy nghĩ về vấn đề
lựa chọn và hành động trong cuộc đời.

Xem bản PDF nguyên trang sách: Ngữ văn 11 tập 2 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 122–125).