Đạc ngựa bò vàng (1) đeo ngất ngưởng.
Kìa núi nọ phau phau mây trắng,
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi(2),
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì(3),
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.
Được mất dương dương người tái thượng(4),
Khen chê phơi phới ngọn đông phong (5).
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng(6),
Không Phật, không tiên, không vướng tục.
Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú (7),
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung($).
Trong triều ai ngất ngưởng như ông(9)!
Thái độ, cảm xúc của tác giả khi “tổng kết" về cuộc đời mình.
(Thơ văn Nguyễn Công Trứ, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1958, tr. 156)
Đạc ngựa bò vàng: lúc về hưu, Nguyễn Công Trứ thường cưỡi con bò vàng nhưng vẫn đeo đạc (nhạc) ngựa. Một số tài liệu ghi nhận: Ngay sau khi được triều đình cho nghỉ hưu, Nguyễn Công Trứ đã cưỡi bò rời kinh thành.
Ý cả hai câu: vốn là kẻ làm quan lớn, từng phụ trách việc binh nhưng nay thung dung tự tại tựa người tu hành ở nơi non xanh mây trắng. Sau khi cáo quan về quê, Nguyễn Công Trứ dựng nhà ở chân núi Đại Nại, cạnh chùa Cảm Sơn (thuộc huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh ngày nay).
Ý cả câu: đi chơi chùa, dạo cảnh tiên nhưng Nguyễn Công Trứ vẫn đem theo các cô hầu; điều này khiến Bụt (Phật) cũng nực cười.
Người tái thượng: ông già ở biên ải. Dẫn điền Tải ông thất mã (ông già ở biên ải mất ngựa), ý nói: ở đời, việc may rủi, được mất là lẽ bình thường, không nên vui buồn về những chuyện ấy. Thơ văn Nguyễn Công Trứ, Sđd chép: người thái thượng; "thái thượng" có nhiều cách lí giải, nhưng nhìn chung đều quy về ý nghĩa: người đời thượng cổ, người có địa vị tôn quý nhất, như vậy sẽ không hợp với triết lí "được mất dương dương..." mà tác phẩm đang nói tới. Ngờ rằng, có sự sai khác này là do từ gần âm (tải/ thái). Người biên soạn sách giáo khoa chỉnh lí theo một số bản khác.
Đông phong: gió mùa xuân, từ phương Đông thổi tới. Ý cả câu: Ta luôn phơi phới thảnh thơi như gió mùa xuân, mặc cho người đời khen chê. Trong thế đối xứng với câu thơ trên, cũng có thể hiểu tác giả đã dẫn điển "Gió xuân thổi tai ngựa" ("Đông phong xuy mã nhĩ"), dùng để ví sự thản nhiên, không bận tâm đến thế sự. Lý Bạch (đời Đường, Trung Quốc) có câu: "Người đời nghe việc này đều lắc đầu/ Cũng tựa như gió xuân thổi qua tai ngựa" ("Thế gian văn thử giai điệu đầu/ Hữu như đông phong xuy mã nhĩ”). Theo điển này, từ "phơi phới" có thể phiên thành "phẩy phẩy", "phảy phẩy" để rõ nghĩa hơn.
Cắc, tùng: các âm thanh phát ra khi gõ dùi vào tang trống và mặt trống. Câu thơ gợi thú vui trong thưởng thức ca trù.
Trái, Nhạc, Hàn, Phú: những danh tướng Trung Hoa thời xưa, có sự nghiệp hiển hách (Trái Tuân người đời Hán; Nhạc Phi, Hàn Kỳ, Phú Bật người đời Tống).
Đạo sơ chung: đạo nghĩa có đầu (sơ) có cuối (chung), ý nói giữ lòng trung.
Câu thơ này, có bản chép là "Đời ai ngất ngưởng như ông”. Theo cách ghi này, tính hợp lí có thể cao hơn, vì: câu kết bài hát nói thường là sáu chữ; một khi đã về quê rồi thì cần gì nói chuyện "ngất ngưởng" "trong triều"; “đời” là đời thế, ý nghĩa phóng túng hơn....
Nguyễn Công Trứ (1778 – 1858) tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn, quê ở huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Năm 42 tuổi, ông mới đỗ Giải nguyên (đỗ đầu kì thi Hương tổ chức ở trường thi Nghệ An), sau đó ra làm quan với nhà Nguyễn. Cuộc đời quan trường của Nguyễn Công Trứ trải nhiều lần thăng giáng, có khi làm đến chức Thượng thư, Tổng đốc nhưng cũng có lúc bị cách hết chức vụ, phải làm lính thú ở biên thuỳ. Tuy nhiên, ở vị trí nào, ông cũng giữ bản lĩnh cứng cỏi, nhiệt huyết với trọng trách, công việc được giao.
Nguyễn Công Trứ là một tài năng lỗi lạc trong lịch sử Việt Nam thế kỉ XIX. Xuất thân là quan văn, nhưng ông đạt được nhiều thành tựu trong các lĩnh vực khác như quân sự, kinh tế, kiến trúc,... Ông có công lớn trong việc củng cố, phát triển vương triều Nguyễn, từng phụ trách việc đưa lưu dân đi quai đê lấn biển, mở rộng và lập ra một số huyện ở Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình. Nguyễn Công Trứ có tâm hồn và tầm nhìn rộng lớn, ông nổi tiếng là nhà Nho thanh liêm, thương dân, yêu nước. Năm 1858, trước khi mất vì tuổi già sức yếu, biết tin thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, ông còn dâng sớ xin được cầm quân đánh giặc nhưng không được chấp thuận.
Nguyễn Công Trứ sáng tác chủ yếu bằng chữ Nôm, hiện còn biết được trên 150 tác phẩm ở nhiều thể loại như phú, thơ Đường luật, câu đối, hát nói. Ông có đóng góp đặc biệt quan trọng cho sự định hình và phát triển của thể thơ hát nói. Cuộc đời và thơ văn Nguyễn Công Trứ thể hiện rõ tài năng và nhân cách lớn: phong cách sống độc đáo, cốt cách tài tử, tâm hồn thanh cao, cá tính mạnh mẽ.
Nguyên văn chữ Nôm Bài ca ngất ngưởng được chép ở Gia phả tập biên, giữa nguyên văn chữ Nôm theo bản này và các bản phiên âm về sau có ít nhiều khác biệt. Bản phiên âm sang chữ quốc ngữ được Lê Thước công bố lần đầu tiên trong sách Sự nghiệp và thi văn của Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ, xuất bản năm 1928 với nhan đề là Bài ca ngất ngưởng, sau đó tác phẩm được phổ biến rộng rãi với nhiều dị bản khác nhau. Bài thơ được đánh giá là một tác phẩm thuộc loại xuất sắc nhất, đạt đến trình độ cổ điển, mẫu mực của thể thơ hát nói. Bài ca ngất ngưởng được viết khi Nguyễn Công Trứ đã cáo quan về quê, có thể coi là bài thơ tự thuật về cuộc đời phong phú và tự hoạ chân dung tinh thần độc đáo của ông.
Thơ hát nói là thể thơ do các nhà thơ Việt Nam sáng tạo, phát triển từ khoảng thế kỉ XVII, đạt đến đỉnh cao trong thế kỉ XVIII – XIX. Thơ hát nói là phần lời của bài hát nói, mà lối hát nói là một điệu thức chủ đạo của lối hát ca trù (còn gọi là hát ả đào, cô đầu,...). Thơ hát nói là một thể thơ kết hợp các thể song thất lục bát, lục bát với kiểu nói lối trong một số làn điệu dân ca. Hình thức (số câu, số chữ của các câu, gieo vần,...) của thơ hát nói tương đối đa dạng, tự do; vì thế nó thường được các nhà thơ có phong cách tài hoa, tài tử ưa dùng để biểu đạt tư tưởng, tâm hồn phóng túng của mình.
1.
Liệt kê những từ ngữ mang tính chất tự xưng của tác giả trong bài hát nói. Những từ ngữ ấy thể hiện phong cách, tư tưởng của nhân vật trữ tình khi tự nhìn nhận về mình như thế nào?
2.
Căn cứ vào mạch ý của bài thơ, có thể chia bố cục tác phẩm thành mấy phần? Nêu ý chính của mỗi phần.
3.
Tra từ điển và chỉ ra những nét nghĩa khác nhau của từ “ngất ngưởng”. Căn cứ vào mạch ý của văn bản để xác định ý nghĩa của từ này ở từng trường hợp xuất hiện.
4.
Thái độ sống, phong cách sống “ngất ngưởng” đã được tác giả thể hiện ở những phương diện, khía cạnh cụ thể nào? Suy nghĩ của bạn về cách lựa chọn lối sống, cách ứng xử cũng như cá tính của tác giả.
5.
Nêu nhận xét về phong cách ngôn ngữ của tác giả thể hiện trong bài hát nói (chú ý các phương diện: cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh; các biện pháp tu từ; vần và nhịp điệu).
6.
Trình bày suy nghĩ của bạn về sự hội tụ những yếu tố đối lập trong phong cách hành xử của Nguyễn Công Trứ được thể hiện ở bài hát nói. Ngoài chủ đề chính, Bài ca ngất ngưởng còn có chủ đề nào khác?
7.
Theo bạn, hình ảnh con người nhà Nho nhập thế – hành đạo và hình ảnh con người phóng túng – tài tử trong bài thơ có tạo nên sự đối lập về nhân cách không? Vì sao?
Kết nối đọc - viết
Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) bàn về cách ứng xử trước sự được mất, khen chê, may rủi,... mà tác giả đã thể hiện trong Bài ca ngất ngưởng.
Xem bản PDF nguyên trang sách: Ngữ văn 11 tập 2 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 96–98).
