Yêu cầu cần đạt

  • Nhận biết được bố cục, mạch lạc của văn bản, cách trình bày dữ liệu, thông tin của người viết và đánh giá hiệu quả đạt được; biết suy luận và phân tích mối liên hệ giữa các chi tiết và vai trò của chúng trong việc thể hiện thông tin chính của văn bản.
  • Phân tích và đánh giá được đề tài, thông tin cơ bản của văn bản, cách đặt nhan đề của tác giả; nhận biết được thái độ, quan điểm của người viết; thể hiện được thái độ, đánh giá đối với nội dung của văn bản hay quan điểm của người viết và giải thích lí do.
  • Phân tích và đánh giá được tác dụng của các yếu tố hình thức (bao gồm phương tiện phi ngôn ngữ) trong việc làm tăng hiệu quả biểu đạt của văn bản thông tin.
  • Viết được bài thuyết minh về một vấn đề của xã hội đương đại có lồng ghép một hay nhiều yếu tố như miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận.
  • Biết tranh biện có hiệu quả và có văn hoá về một vấn đề trong đời sống phù hợp với lứa tuổi.
  • Biết tiếp nhận thông tin đa chiều để xây dựng được tâm thế sống vững vàng, chủ động; coi trọng những giá trị văn hoá được xây đắp bền vững qua thời gian.

Thuật ngữ: hình thức trình bày · bố cục, mạch lạc · mục đích, quan điểm, thái độ · trí thông minh nhân tạo (AI) · AI mạnh · AI yếu · AI hẹp · Bài kiểm tra Tu-rinh · Trí thông minh nhân tạo · Pa-ra-lim-pích · Thế vận hội Xe lăn Quốc tế · Infographic (đồ hoạ thông tin) · tiếc thương sinh thái (ecological grief)

Đọc

Kết nối tri thức

Với cuộc sống

Tri thức ngữ văn

Các yếu tố hình thức của văn bản thông tin

Văn bản thông tin thường có những dấu hiệu nổi bật về hình thức trình bày như nhan đề, đề mục, sơ đồ, bảng biểu, chữ in nghiêng, chữ in đậm,... Những dấu hiệu này giúp cho người đọc có thể nắm bắt thông tin chính của văn bản một cách nhanh chóng. Nhan đề thường giới thiệu chủ đề của văn bản. Các đề mục tô đậm nội dung chính hoặc chỉ ra điểm bắt đầu của một chủ đề hoặc một mục mới. Các chữ in nghiêng, in đậm thường được sử dụng để nhấn mạnh những từ ngữ quan trọng. Các phương tiện phi ngôn ngữ như hình ảnh, bảng biểu, sơ đồ,... thường trực quan hoá những thông tin quan trọng trong văn bản. Bằng cách đọc lướt hình thức trình bày của văn bản, người đọc có thể dễ dàng nhận ra chủ đề, các nội dung chính và cấu trúc của văn bản thông tin.

Bố cục, mạch lạc của văn bản thông tin

Văn bản thông tin được tạo thành bởi các yếu tố chính: chủ đề, các ý chính và ý phụ. Chủ đề là vấn đề chủ yếu được đề cập tới trong văn bản thông tin, thường được diễn đạt bằng một từ hoặc một cụm từ. Ý chính là ý quan trọng nhất mà tác giả muốn chia sẻ về chủ đề. Thông thường, ý chính của một đoạn văn hoặc một mục sẽ được trình bày trực tiếp trong câu chủ đề, thường ở đầu hoặc cuối đoạn văn. Đôi khi ý chính ẩn chìm trong văn bản và người đọc cần phải suy luận dựa vào những thông tin mà tác giả cung cấp. Ý phụ là các thông tin chi tiết nhằm bổ sung, làm rõ cho ý chính. Việc nhận ra chủ đề, ý chính và ý phụ của văn bản giúp người đọc nắm được bố cục, mạch lạc của văn bản, hiểu được bản chất của vấn đề được đề cập, nhờ vậy dễ dàng tiếp nhận và ghi nhớ thông tin.

Cách trình bày dữ liệu trong văn bản thông tin

Văn bản thông tin thường được trình bày theo những cách phù hợp với tiến trình nhận thức tự nhiên của người đọc. Có một số mô hình tổ chức thông tin chính: tổ chức thông tin theo trật tự thời gian, theo trật tự nhân quả, theo tầm quan trọng của vấn đề, theo quan hệ so sánh hoặc tương phản.

Tổ chức thông tin theo trật tự thời gian là trình bày các sự kiện theo tiến trình trước sau mà chúng diễn ra. Mô hình tổ chức này thường được sử dụng trong các văn bản lịch sử, tự thuật, tiểu sử, hướng dẫn quy trình tiến hành một hoạt động,... Có thể dễ dàng nhận ra mô hình tổ chức này dựa vào các từ ngữ chỉ thời gian như ngày, tháng, năm; các từ ngữ chỉ trình tự như trước hết, sau đó, tiếp theo;...

Tổ chức thông tin theo trật tự nhân quả là dựa vào mối liên hệ giữa một sự kiện với nguyên nhân và kết quả của sự kiện đó. Mô hình tổ chức này thường được sử dụng trong các văn bản lịch sử, văn bản khoa học mô tả các hiện tượng tự nhiên,... Có thể nhận ra mô hình tổ chức này dựa trên các từ ngữ chỉ quan hệ nhân quả như bởi vì, cho nên, vì thế, do đó, nguyên nhân là, kết quả là,...

Tổ chức thông tin theo tầm quan trọng của vấn đề là sắp xếp các thông tin theo cách từ những thông tin quan trọng nhất đến những thông tin ít quan trọng hơn hoặc ngược lại. Mô hình tổ chức này thường được sử dụng trong các văn bản mô tả cấu trúc của một đối tượng hoặc phân tích một vấn đề, thực trạng,... Có thể nhận ra mô hình tổ chức này dựa trên các từ ngữ chỉ thứ tự ưu tiên như thứ nhất, thứ hai, thứ ba,...

Tổ chức thông tin theo quan hệ so sánh hoặc tương phản là trình bày thông tin theo những đặc điểm tương đồng, khác biệt hoặc đối lập của hai hay nhiều đối tượng. Mô hình tổ chức này thường được sử dụng trong các văn bản khoa học. Các từ ngữ thể hiện mối quan hệ so sánh, tương phản thường là giống với, khác với, ngược lại, tương tự như vậy, điểm chung, điểm khác biệt,...

Đọc kết nối tri thức với cuộc sống tri thức ngữ văn

Văn bản thông tin thường có những dấu hiệu nổi bật về hình thức trình bày như nhan đề, để mục, sơ đồ, bảng biểu, chữ in nghiêng, chữ in đậm,... Những dấu hiệu này giúp cho người đọc có thể nắm bắt thông tin chính của văn bản một cách nhanh chóng. Nhan đề thường giới thiệu chủ đề của văn bản. Các đề mục tô đậm nội dung chính hoặc chỉ ra điểm bắt đầu của một chủ đề hoặc một mục mới. Các chữ in nghiêng, in đậm thường được sử dụng để nhấn mạnh những từ ngữ quan trọng. Các phương tiện phi ngôn ngữ như hình ảnh, bảng biểu, sơ đồ,... thường trực quan hoá những thông tin quan trọng trong văn bản. Bằng cách đọc lướt hình thức trình bày của văn bản, người đọc có thể dễ dàng nhận ra chủ đề, các nội dung chính và cấu trúc của văn bản thông tin.

Mục đích, quan điểm của người viết trong văn bản thông tin

Văn bản thông tin có nội dung khách quan, hạn chế tối đa việc thể hiện quan điểm, thái độ của tác giả. Tuy nhiên, mỗi tác giả khi viết văn bản thông tin thường hướng tới một mục đích nhất định. Mục đích giao tiếp chủ yếu của văn bản thông tin là cung cấp thông tin, nhưng bên cạnh đó, nó còn có thể nhắm đến mục đích khác như: thuyết phục, giải trí,... Mặt khác, kinh nghiệm, niềm tin của người viết cũng chi phối việc bày tỏ quan điểm, thái độ đối với vấn đề được đề cập, mặc dù điều này thường không được thể hiện một cách trực tiếp trong văn bản. Có thể nhận ra toàn bộ mục đích, quan điểm, thái độ nói trên dựa vào cách tiếp cận, lí giải chủ đề, dựa vào giọng điệu hoặc cách sử dụng ngôn từ của tác giả.

Văn bản 1

Nữ phóng viên đầu tiên

Trần Nhật Vy

Hãy chia sẻ những điều bạn đã biết về đời sống của người phụ nữ Việt Nam thời phong kiến và những năm đầu thế kỉ XX.

Kết nối tri thức voi cuoc song

Khoảng giữa năm 1931, làng báo Sài Gòn xuất hiện một nữ phóng viên chính hiệu ở tuần báo Phụ nữ Tân văn. Nữ phóng viên này là ai vậy?
Nói “nữ phóng viên chính hiệu là bởi “trước đó ở Hà Nội cũng như Sài Gòn người giữ mục phụ nữ hay viết bài về phụ nữ, mặc dù kí tên là “Thị nọ Thị kia nhưng đều là kí giả có râu”. (Ngoạ Long, 10 năm làng báo Sài Gòn, báo Đuốc Nhà Nam, số ra ngày 17/10/1969).
Đó là Manh Manh nữ sĩ.

Nhận xét cách mở đầu văn bản của tác giả.

Manh Manh nữ sĩ

Tóm tắt các hoạt động chính của nhân vật.

Manh Manh nữ sĩ tên thật là Nguyễn Thị Kiêm (1914-2005), con ông tri huyện Nguyễn Đình Trị, quê quán ở Gò Công(1). Ông Trị từng là chủ huyện Lái Thiêu, Thủ Dầu Một(2), nghị viên hội đồng thành phố chung “sổ” (liên danh tranh cử) với giáo sư Nguyễn Văn Bá, chủ bút báo Công Luận thời Diệp Văn Kỳ (3) làm chủ nhiệm báo Thần Chung. Ông Trị cũng là “bầu” của đội bóng đá Ngôi Sao Xanh và sau đó đội Ngôi Sao Gia Định lừng lẫy một thời.
Bà học Trường Trung học Nữ sinh bản xứ (4) đến tú tài rồi bước vào nghề báo. Ban đầu bà chỉ là phóng viên thường, viết các mục nhỏ với bút hiệu YM, Nguyễn Văn MYM. Sau khi Phan Khôi đăng bài thơ Tình già (Phụ nữ Tân văn, số 122, ngày 10/3/1932) thì tên tuổi bà sáng lên qua bút danh Nguyễn Thị Manh Manh hoặc tên thật khi ủng hộ Thơ mới và cổ vũ cho nữ quyền.
[...] Bà Kiêm xuất hiện trong thời kì này khi mới mười bảy tuổi. Có lẽ vì còn quá trẻ nên bà chỉ làm phóng viên bình thường, thỉnh thoảng viết một bài về nữ quyền. Sau đó, khi mạnh mẽ ủng hộ Thơ mới, bà bắt đầu nổi tiếng với những cuộc diễn thuyết, những bài viết về bình đẳng giới và Thơ mới. Không chỉ ở Sài Gòn, bà còn đi diễn thuyết ở Huế, Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định,... Thậm chí báo Phụ nữ Tân văn còn mở hẳn mục Thơ mới bên cạnh mục Văn uyển đăng các loại thơ cũ.

Chú ý các trích dẫn trực tiếp.

Trong số báo 228 ra ngày 14/12/1933, bà viết bài trả lời ông Hoàng Tâm báo Đuốc Nhà Nam: “Vì có nhiều vấn đề đáng quan tâm hơn là thơ nên chúng tôi hoàn lại việc đăng lên báo. Nay ông có nhắc đến sửa soạn ăn mừng thắng trận của ông, tôi xin soạn một bài Thơ mới của tôi viết cách nay hai tháng nay đăng lên báo. Nếu ông có dư thời giờ và báo Đuốc Nhà Nam có thiếu bài, ông cứ cho tôi hay, tôi sẽ đưa mấy bài Thơ mới cho ông đăng lên báo Đuốc Nhà Nam và phê bình luôn thể”.
Còn cuộc diễn thuyết của bà ở Hội Khuyến học Sài Gòn (SAMIPIC, tức Hội Nam Kỳ Trí Đức Thể dục, nay ở số 606 đường Trần Hưng Đạo, quận 5), Hoài Thanh – Hoài Chân ghi nhận trong Thi nhân Việt Nam: “Từ hai tháng trước, hôm 26 Juillet (5) 1933, một nữ sĩ có tài và có gan, cô Nguyễn Thị Kiêm, đã lên diễn đàn Hội Khuyến học Sài Gòn hết sức tán dương Thơ mới. Hội Khuyến học Sài Gòn thành lập đến bấy giờ đã 25 năm. Lần thứ nhất một bạn gái lên diễn đàn và cũng lần thứ nhất có một cuộc diễn thuyết được đông người nghe như thế (6).

(1), (2) Gò Công, Thủ Dầu Một: hai tỉnh của Nam Bộ thời Pháp thuộc.
(3) Diệp Văn Kỳ (1895 – 1945): nhà báo, người tham gia nhiều hoạt động yêu nước trước Cách mạng tháng Tám, chủ nhiệm nhật báo Thần Chung (1929-1930).
(4) Trường Trung học Nữ sinh bản xứ (tiếng Pháp là Collège des Jeunes Filles Annamites de Saigon): tiền thân của Trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai ở Thành phố Hồ Chí Minh.
(5) Juillet (tiếng Pháp): tháng Bảy.
(6) Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội, 1988, tr. 25.

Hình ảnh được sử dụng có thể gợi ấn tượng gì cho người đọc?
Rất đông người đến dự buổi diễn thuyết của Manh Manh nữ sĩ
Ảnh: Khánh Ký Saigon

Trong buổi diễn thuyết ấy, bà nói: “Muốn cho tình tứ không vì khuôn khổ mà bị đẹt mất (không lớn lên nổi) thì rất cần phải có một lối thơ khác, do lề lối nguyên tắc rộng rãi hơn. Thơ này khác hơn lối thơ xưa nên gọi là Thơ mới”. Và “chỉ mong lối Thơ mới được nhiều người để ý đến và nó có thể trở nên một lối thơ thông dụng để tả một cách thiết thực, rõ ràng những thi cảm của các nhà thi sĩ”. Thơ mới với sự cổ vũ của Nguyễn Thị Kiêm đã tạo ra một cuộc tranh luận dài trên báo chí cả trong Nam lẫn ngoài Bắc. Không chỉ nói, bà còn sáng tác Thơ mới, những bài Hai cô thiếu nữ, Viếng phòng vắng,... để lại ấn tượng mạnh mãi về sau.
Về nữ quyền, trong buổi nói chuyện ở Hội chợ Phụ nữ ngày 26/5/1932 tổ chức tại vườn Tao Đàn, bà nói: “Đối với những người như chúng tôi đây, ngu mà muốn học cho khôn, dốt mà muốn học cho giỏi, không biết mĩ thuật mà biết yêu mến mĩ thuật, không biết văn chương mà muốn cảm mến văn chương thì Nữ lưu học hội (1) thiệt là cần ích cho chúng tôi lắm”.

Tại Huế, đêm 03/5/1934, trong bài nói chuyện “Dư luận nam giới với phụ nữ tân tiến”, bà nói: “Chủ nghĩa phụ nữ là làm thế nào để giải phóng phụ nữ khỏi những lễ giáo hủ bại, binh vực(2) quyền lợi cho phụ nữ, kiếm những cách sinh hoạt cho chị em để sự sống của mình được hoàn toàn (3) hơn, và nâng cao trình độ trí thức của mình".

(1) Nữ lưu học hội: một tổ chức giáo dục do phụ nữ thành lập ở Sài Gòn vào đầu thế kỉ XX, nhằm truyền bá các tri thức phổ thông cho phụ nữ.
(2) Bình vực: bênh vực.
(3) Hoàn toàn (từ cũ): hoàn hảo, toàn vẹn.

Lời nói và hành động của nhân vật thể hiện tư tưởng gì? Những tư tưởng đó có ảnh hưởng gì đến xã hội?

Làm vậy là bởi khi ấy vẫn còn quan niệm: “Đến thế kỉ thứ XX, đàn bà An Nam lại có nảy sanh(1) một số người quái gở! Họ vượt ra khỏi buồng the, chẳng theo lễ giáo cũ: Họ cũng đi học đi làm như đàn ông. Họ tự do đi, đứng, nói cười, ra giữa công chúng vợt banh( ), đá cầu, lập hội hè, đến chỗ đông mà tranh cãi”. Tại hội quán Khai Trí Tiến Đức Hà Nội tối ngày 08/9/1934, bà nói: “Đàn bà tân tiến là đàn bà mới, biết đi theo trào lưu xã hội, theo thời đại văn minh hiện chữ ( ) và người đàn bà ấy chỉ “xin ngang hàng với đàn ông, xin được đồng một phẩm giá làm người (4) trong xã hội”.
Buổi nói chuyện tại Hà Nội của bà được báo chí Hà Nội ghi nhận: “Tối hôm thứ Bảy vừa rồi, cái lối cô Kiêm lên diễn đàn, công chúng đã ạt kéo đến hội quán phố Hàng Trống như nước chảy, lũ lượt bọn năm bọn ba, ông có, bà có, trai có, gái có, đến nỗi mấy bác nhà quê đi đường ngơ ngác hỏi nhau: Họ đi xem hội gì đông thế?" (báo Đông Pháp). Tờ Ngọ Báo viết: “Trong nơi diễn đàn, ngày thường lỏng chỏng mấy bàn tổ tôm điếm, coi rộng thênh thang, hôm nay đà gấp đôi thế cũng chẳng đủ chỗ cho công chúng đứng, ngồi. Trên gác, dưới nhà, không một chỗ hở..." (Phụ nữ Tân văn, số 259, ngày 20/9/1934).
Sự thành công của bà Nguyễn Thị Kiêm đã tạo ra một phong trào phụ nữ mới hết sức sôi nổi, thúc đẩy các bà tham gia nhiều hoạt động xã hội ở Sài Gòn, Hà Nội.
Đáng tiếc, cuối năm 1934, tờ Phụ nữ Tân văn đình bản, bà Kiêm mất chỗ dựa, phong trào cổ vũ Thơ mới và đấu tranh cho nữ quyền của bà bị xẹp xuống. Và bà trở thành một nhà báo bình thường, cộng tác với một số báo đương thời. Sở trường của bà là phỏng vấn. Tuy vậy, bà cũng viết nhiều bài phê bình, ghi chép,...

Ngoại hình nhân vật được khắc hoạ như thế nào, nhằm mục đích gì?

Người thấp lùn, bộ tướng (5) núc ních, mặt má miếng bầu, môi nhọn như mỏ chim,... đôi mắt sáng ngời, thông minh, ăn nói mau lẹ, gọn gàng, duyên dáng. Đó là nhận xét của nhà báo Ngoạ Long. Với bộ tướng ấy, có thể nói bà Kiêm là “phụ nữ trời bắt xấu”. Tại buổi nói chuyện ở Hội Khuyến học Sài Gòn, để cử toạ trong phòng nhìn thấy diễn giả,

(1) Nảy sanh: nảy sinh.
(2) Vợt banh: vợt ten-nít (tennis) hoặc vợt bóng bàn, đây chỉ việc chơi ten-nít hoặc bóng bàn.
(3) Hiện chứ hiện giờ.
(4) Xin được đóng một phẩm giá làm người: đòi hỏi được xã hội tôn trọng phẩm giá như những người khác.
(5) Bộ tướng: dáng vẻ.

Những thông tin này gợi cho bạn suy nghĩ gì?

bà phải... đứng trên bàn để nói! Vì vậy, trong làng báo Sài Gòn thập niên 1930, ai cũng coi bà như một đồng nghiệp nam.
Chỉ có một người nhìn bà là “phụ nữ đó là nhà báo Lư Khê Trương Văn Em, người sau này gá nghĩa (1) với bà năm 1937. Nhưng họ sống với nhau không lâu. Sau khi đứa con đầu lòng mất và bà không thể có con được nữa, hai người thoả thuận chia tay. Năm 1950, bà lấy chồng người Pháp và qua Pháp ở cho đến ngày mất.
Đối với văn học Việt Nam, bà cũng có những đóng góp đáng kể, ít ra trong thể Thơ mới ở thập niên 1930. Thế nhưng hầu hết những ghi nhận về văn thơ giai đoạn 1930 – 1945 đều lãng quên bà!
(Báo Tuổi Trẻ, ngày 18/6/2015)

Trần Nhật Vy tên thật là Nguyễn Hữu Vang, sinh năm 1956 tại Đồng Tháp. Ông là nhà báo, tác giả của nhiều tác phẩm biên khảo về lịch sử báo chí và văn hoá Sài Gòn. Các tác phẩm chính: Báo quốc ngữ ở Sài Gòn cuối thế kỉ 19 – Lịch sử 150 năm báo chí quốc ngữ 1865 2015 (2015), Sài Gòn chốn chốn rong chơi (2016), Văn chương Sài Gòn 1881 – 1924 (bộ 5 tập, 2017 – 2020),...

1.

Văn bản được triển khai theo trình tự nào? Đánh giá hiệu quả của việc triển khai văn bản theo trình tự đó.

2.

Phong trào xã hội nào đã được nói đến được nói đến trong văn bản? Theo bạn, cách tác giả viết về phong trào ấy có điểm gì đặc biệt?

3.

Hãy nhận xét về cách giới thiệu chân dung nhân vật trong văn bản. Theo bạn, chân dung ấy có được tái hiện một cách khách quan hay không? Vi sao?

4.

Bạn hình dung như thế nào về không khí thời đại được tái hiện trong văn bản?

5.

Qua văn bản, bạn biết thêm điều gì về phong trào Thơ mới?

6.

Bài viết gợi cho bạn suy nghĩ gì về vị thế của phụ nữ trong các cuộc vận động xã hội?

Kết nối đọc – viết

Từ những thông tin tìm hiểu được trước và sau khi đọc văn bản, hãy viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày những hiểu biết của bạn về phong trào nữ quyền ở Việt Nam đầu thế kỉ XX.

(1) Gả nghĩa: kết thành vợ chóng.

Văn bản 2

(Trích 50 ý tưởng về tương lai)

Ri-sát Oát-xơn (Richard Watson)

Chia sẻ những điều bạn đã biết và muốn biết về trí thông minh nhân tạo.

Đọc nhan đề và đoạn mở đầu, xác định chủ đề của văn bản.

Năm 1956, nhà khoa học máy tính người Mỹ Giôn Mác Cát-thi (John Mc Carthy) đã đặt ra thuật ngữ “trí thông minh nhân tạo (AI). Ông dự đoán rằng kỉ nguyên của các cỗ máy thông minh sẽ trở thành sự thực trong vòng một thập kỉ. [...]

AI sắp trở thành hiện thực

Chú ý các mốc thời gian và số liệu trong đoạn văn.

Năm 2008, một máy tính cá nhân có khả năng xử lí khoảng 10 tỉ lệnh mỗi giây. Nhiều quá. Nhưng chừng ấy chỉ bằng tốc độ xử lí của não một con cá nhỏ. Cho đến năm 2040, theo lí thuyết, các bộ não máy có thể xử lí gần 100 nghìn tỉ lệnh mỗi giây. Con số này tương đương với bộ não người. Vậy điều gì sẽ xảy đến khi trí thông minh nhân tạo bắt đầu đấu lại chính các nhà thiết kế ra nó?

Tóm tắt nội dung chính trong đoạn văn.

Trước khi tìm hiểu kĩ hơn về việc này, đầu tiên chúng ta nên chia AI thành hai nhóm. “AI mạnh” là thuật ngữ thường được sử dụng để mô tả những cỗ máy có khả năng suy nghĩ thực sự. “AI yếu” (đôi khi còn được biết đến là “AI hẹp”) là trí thông minh được dùng để bổ sung thay vì vượt lên trí tuệ loài người. Từ trước cho tới nay, phần lớn máy móc đều được lập trình trước hoặc dạy các chuỗi hành động logic. Nhưng trong tương lai, những cỗ máy có AI mạnh sẽ có khả năng học hỏi khi chúng vận hành và phản ứng lại với các sự kiện bất ngờ. Hệ quả của việc này ư? Bạn hãy nghĩ về khả năng những việc như chẩn đoán bệnh và phẫu thuật, lập kế hoạch quân sự và ra lệnh chiến đấu, chăm sóc khách hàng được tự động hoá, những chú rô-bốt với óc sáng tạo và tính tự động nhân tạo có thể dự đoán và đối phó với tội phạm.

Timeline of AI development and predictions:
1990: Tập đoàn iRobot được thành lập để sản xuất rô-bốt công nghiệp và gia dụng.
2011: Oát-xơn (Watson), cỗ máy tính của IBM, chiến thắng Gieo-pơ-đi (Jeopardy!), một chương trình truyền hình Mỹ.
2027: Chiếc máy nướng bánh giá 79 đô la vượt qua bài kiểm tra Tu-rinh (Turing)(1).
2050: Số lượng rô-bốt thông minh vượt qua con người.
2042: Virus máy tính vô hiệu hoá 90% máy móc.
2040: Điện thoại di động thông minh giá 750 đô la có năng lực xử lí tương đương não người.
2054: Máy móc bắt đầu vẽ tranh và soạn nhạc.
2069: Máy móc đòi quyền bình đẳng với con người.

Những quan niệm khác nhau về khả năng của trí thông minh nhân tạo.

Liệu tất cả những ví dụ trên có thực tế không? Một số chuyên gia sẽ nói là có. Ray Cơ-dơ-uên (Rray Kurzweil), nhà tương lai học và nhà phát minh người Mỹ, đã công khai đánh cược với Mít-sen Cây-pơ (Mitchell Kapor), người sáng lập công tỉ phần mềm Lô-tút (Lotus), răng máy tính sẽ vượt qua bài kiểm tra Tu-rinh vào năm 2029. Nhưng các chuyên gia khác nói không. Bin Can-vin (Bill Calvin), nhà thần kinh học lí thuyết người Mỹ, cho rằng não người phức tạp đến mức máy tính sẽ không bao giờ mô phỏng được, hoặc, nếu có, chúng sẽ thừa hưởng cả những điểm yếu và không toàn vẹn về mặt cảm xúc bên cạnh trí thông minh của con người. [...]

Nhưng có lẽ tất cả chúng ta đều đang nhìn sai hướng. Internet đã và đang ngẫu nhiên nuôi dưỡng một dạng thức hỗn loạn tự tổ chức: một thị trường đặc biệt hiệu quả cho những ý tưởng, danh tiếng và thông tin vẫn được gọi là trí thông minh tổng hợp, và từ đây, AI có thể hình thành. A-đam Xmít (Adam Smith) cho rằng

(1) Bài kiểm tra Tu-rinh: bài kiểm tra khả năng trí tuệ của máy tính, được đưa ra bởi A-lanh Tu-rinh (Alan Turing) vào năm 1950.

người mua và người bán, mỗi bên theo đuổi lợi ích riêng của mình, sẽ cùng nhau tạo ra nhiều hàng hoá hơn, hiệu quả hơn bất cứ sự sắp xếp nào khác. Điều tương tự đang diễn ra với những nhà cung cấp trực tuyến và có thể với cả khách hàng. Chẳng hạn, Wikipedia (1) có thể tạo ra nhiều tri thức với ít thiên lệch và theo một dải các quy định rộng hơn bất cứ nhóm chuyên gia nào.

Điều gì xảy ra tiếp theo?

Rất ít người nghi ngờ việc AI sẽ tiến bộ hết sức nhanh chóng trong những năm tới. Một số nhà bình luận nói rằng AI hiện nay đang ở vị trí giống với máy tính cá nhân trong khoảng năm 2004, vậy nên sự tiến bộ ấy có thể sẽ vô cùng lớn. Trước kia, sự tiếp cận AI của chúng ta vẫn mang tính thủ công, nhưng một khi các kĩ thuật vi tính phát triển song song trở nên hoàn thiện, ta có thể rất nhanh chóng đạt được AI đích thực.

Cách đặt câu hỏi và suy luận của tác giả về những điều có thể xảy ra trong tương lai.

Tuy nhiên, vẫn còn đó hai câu hỏi lớn. Thứ nhất, liệu não người về cơ bản chỉ là một cỗ máy với đống dây dợ và vài chất hoá học cũng như điện năng được thêm vào, hay còn chứa đựng nhiều thứ hơn thế? Nếu não người chỉ đơn giản là bộ sưu tập của những nguyên tử, vậy thì chắc chắn rằng trước sau gì chúng ta cũng thiết kế ra những cỗ máy có thể bắt kịp và thậm chí là vượt qua những năng lực của con người. Nếu điều này xảy đến, có lẽ loài người sẽ bước vào một kỉ nguyên tiến hoá mới, thời điểm chúng ta bắt đầu hợp nhất với máy móc và đạt được sự bất tử ở một mức nào đó. Thực vậy, có lẽ việc này đã xảy ra rồi nếu cho rằng bản thể “thực sự của chúng ta là DNA và cơ thể con người chỉ là “phần xác” tạm thời chứa đựng chúng.

Các từ ngữ liên kết thể hiện mối quan hệ giữa các ý chính, ý phụ trong đoạn văn.

Thứ hai, ngay cả nếu máy móc không đạt được mức độ tinh tế trên, nhiều khả năng là chúng vẫn sẽ trở nên rất thông minh; vậy thì điều gì sẽ xảy đến với những người trước kia làm những việc mà máy móc sẽ đảm nhiệm trong tương lai?
Chào mừng đến với thế giới tương lai. Một thế giới chỉ toàn kim loại và sử dụng rất nhiều pin. Hi vọng rằng máy móc sẽ không giận dữ và không tìm ra cách nô dịch loài người.
(Theo Ri-sát Oát-xơn, 50 ý tưởng về tương lai, Trọng Tuấn – Ngọc Thạch dịch, NXB Thế giới – Công ti Văn hoá và Truyền thông Nhã Nam, Hà Nội, 2019, tr. 120-125)

(1) Wikipedia: bách khoa toàn thư mở trực tuyến.

Ri-sát Oát-xơn sinh năm 1961, là nhà tương lai học và giảng viên đại học người Anh. Ông cũng là cây bút nổi tiếng về các phát minh, sáng chế và là người phân tích, dự đoán các xu hướng toàn cầu trong tương lai. Các cuốn sách đã xuất bản của ông gồm có: Hồ sơ tương lai: lược sử 50 năm tới (2007); Trí tuệ tương lai: kỉ nguyên thông tin đã thay đổi đầu óc chúng ta như thế nào, tại sao và chúng ta có thể làm gì (2010); Kĩ thuật số và con người: chúng ta sẽ sống, yêu và suy nghĩ ra sao trong tương lai (2016);...

Văn bản Trí thông minh nhân tạo được trích trong 50 ý tưởng về tương lai (2012) của Ri-sát Oát-xơn. Cuốn sách đã đưa ra những dự báo nhiều mặt về tương lai nhân loại như sự phát triển của kĩ thuật số, sự cạn kiệt tài nguyên, công nghệ nano, trí tuệ ngoài hành tinh, hiểm hoạ sinh học và dịch bệnh, khủng bố hạt nhân,... Những viễn cảnh tương lai này buộc người đọc phải suy tư về những lựa chọn và hành động của mình trong hiện tại.

1.

Hãy sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ để tóm tắt các mốc thời gian và các thành tựu chính trong quá trình phát triển của trí thông minh nhân tạo. Các thông tin đó gợi cho bạn suy nghĩ gì?

2.

Đánh giá hiệu quả thông tin của sơ đồ được tác giả sử dụng.

3.

Xác định chủ để, các ý chính, ý phụ và cách trình bày dữ liệu trong văn bản.

4.

Theo bạn, những ý kiến trái chiều về sự phát triển của trí thông minh nhân tạo và những câu hỏi ở phần cuối văn bản cho thấy quan điểm, thái độ gì của tác giả?

5.

Tác giả đưa ra những dự đoán gì về tương lai của trí tuệ nhân tạo? Bạn có đồng tình với những dự đoán đó không? Vi sao?

6.

Tìm hiểu thêm các tác phẩm nghệ thuật về trí thông minh nhân tạo. Bạn suy nghĩ gì khi liên hệ các thông tin trong văn bản với những tác phẩm nghệ thuật mình đã biết?

Kết nối đọc – viết

Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) tóm tắt những thông tin thú vị mà bạn thu thập được về trí thông minh nhân tạo.

Văn bản 3

Pa-ra-lim-pích (Paralympic): Một lịch sử chữa lành những vết thương

Huy Đăng

Tìm hiểu thông tin về một vận động viên hoặc một môn thể thao mà bạn yêu thích. Theo bạn, thể thao có ý nghĩa gì với đời sống con người?

Dựa vào nhan đề và phân sa-pô, dự đoán về nội dung chính của văn bản.

Mười hai năm trước, một quả tên lửa RPG trên chiến trường Áp-ga-ni-xtan (Afghanistan) đã thổi bay phân nửa mạng sống của lính nhảy dù người Anh Gia-co Van Gát (Jaco Van Gass). Nhưng với ba phần tư cơ thể còn sót lại, Van Gát vẫn trở thành một biểu tượng người hùng với hàng triệu người.

Những cựu chiến binh, những nạn nhân của chiến tranh như Van Gát trở thành tâm điểm ở Pa-ra-lim-pích Tô-ky-ô (Tokyo) 2020.

Mục tiêu ban đầu

Dựa vào đề mục, dự đoán về thông tin chính sẽ được trình bày.

Pa-ra-lim-pích ra đời vào năm 1960. Trải qua sáu thập niên, phong trào thể thao dành cho người khuyết tật trở thành điều hết sức gần gũi với cuộc sống con người.
Hầu hết các bậc cha mẹ có con em bị khuyết tật ngày nay đều biết tìm đến những lớp học thể thao, và thể thao trở thành thứ không thể thiếu giúp những người khiếm khuyết cơ thể phát triển năng lực như một người bình thường. Nhưng có lẽ không nhiều người biết – hơn nửa thế kỉ trước, cội nguồn của Pa-ra-lim-pích chính là dành cho các nạn nhân của chiến tranh, với mục tiêu giúp họ hoà nhập cùng cuộc sống bình thường.

Chú ý các từ ngữ chỉ thời gian và các sự kiện chính.

Sự kiện đánh dấu sự ra đời của Pa-ra-lim-pích diễn ra vào năm 1948 trùng với kì Ô-lim-pích (Olympic) diễn ra tại Luân Đôn. Bác sĩ người Đức gốc Do Thái Lút-vích Gắt-mùm (Ludwig Guttmann), người từng được hỗ trợ trốn thoát khỏi Đức quốc xã năm 1939, đứng ra tổ chức một cuộc thi đấu thể thao

dành cho các cựu chiến binh Thế chiến II người Anh. Đa số họ là các bệnh nhân chấn thương tuỷ sống. Giải đấu thể thao đó mang tên Thế vận hội Xe lăn Quốc tế.

Bác sĩ Gắt-mừn và thế hệ những vận động viên đầu tiên ở giải đấu tiền thân của Pa-ra-lim-pích
Ảnh: Ole

Xác định thông tin chính được trình bày.

Ngay từ lần tổ chức đầu tiên, bác sĩ Gắt-mùn đã đặt mục tiêu sẽ đưa giải đấu thể thao này lên sánh ngang tầm Ô-lim-pích, trở thành một kì Thế vận hội dành riêng cho những người khuyết tật. Tuy nhỏ lẻ, hạn hẹp kinh phí, nhưng sự kiện thực sự mang tầm quốc tế khi có sự tham dự của các cựu binh người Hà Lan và Anh, tổng cộng 16 vận động viên. Địa điểm diễn ra không đâu khác mà chính là bệnh viện Xtốc Men-đơ-vin (Stoke Mandeville) ở Bấc-kinh-ham-so (Buckinghamshire), nơi bác sĩ Gắt-mùn làm việc. Cái tên Xtốc Men-đo-vin sau này được xem như cánh đồng Ma-ra-ton (Marathon) của Hy Lạp – nơi khởi phát phong trào Ô-lim-pích.
Thế vận hội Xtốc Men-đơ-vin tiếp tục được tổ chức những năm sau đó, đến mức thường niên từ năm 1952. Đến năm 1960, nó trở thành kì Pa-ra-lim-pích đầu tiên. Cuộc thi không còn chỉ dành cho các cựu chiến binh, nhưng tiêu chí vận động viên khuyết tật dự giải đơn giản vẫn phải là “xe lăn”. Kì Pa-ra-lim-pích đầu tiên diễn ra ở Rôm (Rome) có 400 vận động viên đến từ 23 quốc gia tham dự. Bác sĩ Gắt-mùn cùng những cộng sự ở bệnh viện Xtốc Men-đơ-vin cũng là thành viên sáng lập đầu tiên của Uỷ ban Thế vận hội Xtốc Men-đơ-vin.
Hai năm sau kì Pa-ra-lim-pích đầu tiên mới xuất hiện một tổ chức thể thao dành cho người khuyết tật, nhằm mục đích hỗ trợ những người khuyết tật không đủ điều kiện tham dự Pa-ra-lim-pích. Đó có thể xem là bước đi đầu tiên của phong trào thể thao khuyết tật thế giới. Pa-ra-lim-pích không còn là một sự kiện thể thao dành cho “những người khuyết tật ưu tú" nữa, thay vào đó, nó trở thành phong trào tập luyện cho tất cả mọi người khuyết tật. Dần dà, phạm vi Pa-ra-lim-pích được mở rộng với nhiều hạng mục khác nhau, các tiêu chuẩn tập luyện, thi đấu được phát triển, ngày càng đồng nhất với Ô-lim-pích.
Năm 1988 tại Xơ-un (Seoul), Pa-ra-lim-pích và Ô-lim-pích thống nhất được tổ chức cùng nhau tại một thành phố, sử dụng cùng cơ sở vật chất và liền mạch về thời gian.

Vượt qua những nỗi đau

Tên đề mục gợi cho bạn suy nghĩ gì?

Sau sáu thập niên, những nạn nhân của chiến tranh một lần nữa trở thành tâm điểm của Pa-ra-lim-pích. Gần 10% các vận động viên của Mỹ dự Pa-ra-lim-pích Tô-ky-ô 2020 là những cựu chiến binh. Đoàn thể thao người tị nạn cũng tham dự giải với sáu thành viên, và mỗi ngày chúng ta lại thấy những vận động viên xuất sắc như Van Gát toả sáng. Cựu lính nhảy dù người Anh gặp nạn vào năm 2009, và được Help for Heroes (tổ chức Hỗ trợ các Cựu chiến binh) của Anh giúp đỡ.

“Tôi đã học cách thích nghi, giống như cách mà tôi đã thích nghi để trở thành một lính nhảy dù. Chúng tôi có thể lên kế hoạch để hạ cánh trên một toà nhà có cửa thoát, nhưng nếu phải hạ cánh ở một nơi khác thì chúng tôi vẫn phải chấp nhận. Thông qua Help for Heroes, tôi biết cuộc sống của mình vẫn còn nhiều mục tiêu”, Van Gát nói.

Chú ý đến các nhân vật và các câu chuyện được giới thiệu.

Với năng lực và ý chí của một quân nhân, Van Gát nhanh chóng thích nghi với đời sống thể thao chuyên nghiệp. Trượt tuyết và leo núi là những môn thể thao đầu tiên anh lựa chọn. Năm 2011, anh trở thành người gốc Nam Phi đầu tiên chinh phục được ngọn Man-na-xlu (Manaslu) ở dãy Hi-ma-lay-a (Himalaya - ngọn núi cao thứ tám thế giới, 8164 mét). Hai năm sau, Van Gát, cùng hoàng tử Anh Ha-ry (Harry) tham gia chuyến thám hiểm hành trình 335 ki-lô-mét ở Nam Cực nhằm gây quỹ cho các thương binh. Sau đó, anh bắt đầu hướng đến những môn thể thao cạnh tranh. Ngay trong lần đầu tham dự Pa-ra-lim-pích, cựu quân nhân người Anh đã giành được hai huy chương Vàng và một huy chương Đồng ở môn xe đạp.
Trong số các cựu quân nhân tham dự Pa-ra-lim-pích, Brét-ly Xnai-đo (Bradley Snyder) có lẽ là người nổi tiếng nhất. Vận động viên bơi lội khiếm thị này từng phục vụ trong hải quân Mỹ khi tham chiến ở Áp-ga-ni-xtan. Khi giúp đỡ các nạn nhân trong một vụ đánh bom năm 2011, mắt của anh đã bị hỏng và từ đó anh phải làm quen với cuộc sống mù loà.
“Khi không còn ánh sáng đôi mắt, mọi việc bạn làm đều trở nên khó khăn. Điều duy nhất tôi không bị cản trở là bơi lội”, Xnai-đơ nói.
Anh vốn là đội trưởng đội bơi ở Học viện Hải quân nên dễ dàng thích nghi với đời sống thi đấu thể thao. Chỉ một năm sau đó, Xnai-đơ đến Pa-ra-lim-pích Luân Đôn 2012 và giành hai huy chương Vàng. Ở Ri-ô đờ Gian-nê-rô (Rio de Janeiro) 2016, anh lại có ba huy chương Vàng. Đến với Tô-ky-ô 2020, Xnai-đơ chuyển sang thi đấu ba môn phối hợp (bơi, đạp, chạy) và lập tức giành huy chương Vàng Pa-ra-lim-pích thứ sáu trong sự nghiệp.

Có rất nhiều những câu chuyện xúc động như của Van Gát và Xnai-đơ ở Pa-ra-lim-pích Tô-ky-ô 2020. Từ những cựu chiến binh cho đến các nạn nhân chiến tranh, họ là cội nguồn cho sự ra đời của phong trào thể thao người khuyết tật, và câu chuyện chữa lành vết thương của họ càng đáng được kể hơn bao giờ hết khi nhân loại đang oằn mình trong một đại dịch đã kéo dài hai năm và chưa biết bao giờ mới kết thúc.
(Theo báo Tuổi Trẻ Cuối Tuần, ngày 05/9/2021)

1.

Hãy nêu khái quát chủ đề của văn bản. Cách tiếp cận vấn đề của tác giả có gì đặc biệt?

2.

Phân tích tác dụng của các phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản.

3.

Xác định các ý chính, ý phụ trong văn bản. Sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ để tóm tắt các thông tin.

4.

Yếu tố tự sự có vai trò gì trong văn bản?

5.

Quan điểm của tác giả là gì? Quan điểm đó được thể hiện bằng cách nào?

6.

Phát biểu suy nghĩ của bạn về khả năng kì lạ của con người sau khi đọc các thông tin về một số vận động viên thể thao trong văn bản.

7.

Văn bản giúp bạn hiểu thêm gì về nỗi đau? Ta có thể ứng xử như thế nào với nỗi đau và những khiếm khuyết trên cơ thể của mình và của người khác?

Kết nối đọc – viết

Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) về khả năng chữa lành của thể thao.

Thực hành tiếng Việt

Sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ

1.

Trong những văn bản đọc của Bài 8 – Cấu trúc của văn bản thông tin, ngoài việc biểu đạt bằng ngôn ngữ, còn có các phương tiện biểu đạt nào khác? Nêu ví dụ và cho biết mỗi phương tiện đó có tác dụng gì trong việc thể hiện nội dung của văn bản.

2.

Quan sát hai văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Infographic titled 'ỨNG DỤNG CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO' (Applications of Artificial Intelligence). It shows a central brain-like icon for AI with branches to different application areas:
- SẢN XUẤT (Manufacturing): Dây chuyền sản xuất sử dụng robot công nghiệp.
- Y TẾ (Healthcare): Robot phẫu thuật, Quản lí hồ sơ điện tử.
- GIAO THÔNG (Transportation): Xe tự lái, Hệ thống điều tiết giao thông thông minh.
- TIẾP THỊ (Marketing): Chọn lọc đối tượng khách hàng để tiếp thị hiệu quả.
- TRỢ LÍ ẢO (Virtual Assistant): AI học hỏi thói quen sinh hoạt và dự đoán cảm xúc của người dùng giúp trợ lí xử lí yêu cầu linh hoạt hơn.
- THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ (E-commerce): Phân tích hành vi khách hàng để đề xuất sản phẩm phù hợp, Hỗ trợ khách hàng thông qua chatbot.
Text box: 'Trí tuệ nhân tạo (AI) là một ngành thuộc khoa học máy tính. AI là trí tuệ của máy móc do con người tạo nên, có thể tư duy và học hỏi như con người.'
Small text at bottom: 'Phần mềm máy tính giúp tương tác nói chuyện với từng khách hàng được thực hiện tự động 24/7. ©TTXVN'

a.

Những thông tin chính nào được trình bày trong văn bản Ứng dụng của trí tuệ nhân tạo? Các thông tin được sắp xếp theo trình tự và bố cục như thế nào? Phân tích hiệu quả sử dụng phối hợp giữa phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong văn bản (đối chiếu với cách thể hiện thông tin của văn bản Trí thông minh nhân tạo).

b.

Văn bản Huy Cận: Nhà thơ lớn của thơ Việt Nam hiện đại trình bày những thông tin chính nào về tác giả Huy Cận? So với nội dung trình bày về Huy Cận ở Bài 2 – Cấu tứ và hình ảnh trong thơ trữ tình (sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập một), cách thể hiện thông tin của văn bản trên có điểm gì khác biệt?

c.

Hai văn bản trên được gọi là infographic (đồ hoạ thông tin). Theo bạn, có thể sử dụng hình thức trình bày này vào những hoạt động nào trong học tập?

3.

Chọn một trong hai yêu cầu sau để thiết kế một infographic:

  • Tóm tắt những thông tin chính về một tác giả văn học có tác phẩm được học trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11.
  • Tóm tắt những thông tin chính của một văn bản được học ở Bài 8 – Cấu trúc của văn bản thông tin.

Infographic (đồ hoạ thông tin) là văn bản đa phương thức được thiết kế dưới dạng một bức đồ hoạ có sự kết hợp giữa ngôn ngữ với hình ảnh, biểu đồ, số liệu,... nhằm truyền đạt thông tin một cách ngắn gọn, trực quan, sinh động.
Ngoài việc truyền đạt thông tin, infographic còn chú ý tạo sự hấp dẫn đối với người tiếp nhận bằng hiệu quả thẩm mĩ của hình thức trình bày như màu sắc, đường nét,...

Viết

Viết văn bản thuyết minh về một vấn đề của xã hội đương đại

Một bài văn thuyết minh có thể có những cấu trúc khác nhau. Ở Bài 7, các bạn đã thực hành viết một bài văn thuyết minh triển khai theo cấu trúc “nguyên nhân – hệ quả – giải pháp”. Ở bài học này, bạn có cơ hội thực hành viết bài văn thuyết minh theo một cấu trúc khác, chẳng hạn theo các biểu hiện hay phạm vi ảnh hưởng của một hiện tượng, theo diễn biến thời gian của hiện tượng đó,... Tuỳ vào vẫn để thuyết minh mà bạn cần lựa chọn cấu trúc phù hợp. Ngoài ra, bạn cũng được tiếp tục thực hành kĩ năng kết hợp vào bài thuyết minh một hay nhiều yếu tố như miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận để cung cấp các thông tin xác thực, hấp dẫn, tác động tích cực đến nhận thức và cảm xúc của người đọc.

Yêu cầu

. Nêu rõ vấn đề xã hội được thuyết minh và cung cấp một số thông tin cơ bản, nổi bật về vấn để đó.
. Làm sáng tỏ các biểu hiện hay phạm vi ảnh hưởng của vấn đề đối với đời sống xã hội hoặc cung cấp thông tin theo trình tự khác phù hợp với vấn đề được thuyết minh.
. Rút ra được ý nghĩa của việc nhận thức đúng vẫn để thuyết minh.
Sử dụng kết hợp trong văn bản thuyết minh một hay nhiều yếu tố như miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận.

Bài viết tham khảo

Tiếc thương sinh thái

(Trích)

Nguyễn Bình

Giới thiệu thông tin khải quát về hiện tượng.

Bước sang năm 2022, chúng ta nghe thấy và nhìn thấy biến đổi khí hậu ở mọi nơi, cả ở ngoài đời thực, cả trong ngôn ngữ và trong nghệ thuật. Giữa một thế giới nơi tất cả các giọng nói - hay thậm chí là giọng hát - đều gọi nhắc về một thảm kịch toàn cầu đang cận kề, biến đổi khí hậu đã đi vào tâm thức của mọi người và tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần. Một hậu quả đáng chú ý là sự xuất hiện của hiện tượng tâm lí “tiếc thương sinh thái (ecological grief).

Giải thích bản chất và nguyên nhân của hiện tượng “tiếc thương sinh thái”.

Cụm từ “tiếc thương sinh thái" xuất hiện lần đầu trong một bài viết vào năm 2018 của hai nhà khoa học xã hội A-sli Kun-xô-lo (Ashlee Cunsolo) và Ne-vi-lo R. E-li (Neville R. Ellis), trong đó họ định nghĩa tiếc thương sinh thái là nỗi đau khổ trước những mất mát về sinh thái mà con người hoặc là đã trải qua, hoặc là tin rằng đang ở phía trước. Những mất mát này có thể đa dạng, ví dụ như sự biến mất của các loài sinh vật hay sự thay đổi ở các cảnh quan quan trọng đối với đời sống tinh thần, song điểm chung là chúng đều do biến đổi khí hậu gây ra và đều khiến tâm trí con người phản ứng tương tự như khi mất người thân. Theo Kun-xô-lơ và E-li, tiếc thương sinh thái là một phản ứng có thể đoán trước được, nhất là ở những cộng đồng vẫn còn sinh sống, làm việc và giữ các mối quan hệ văn hoá mật thiết với môi trường tự nhiên. Hai tác giả này đưa ra hai trường hợp cụ thể: những người I-nu-it (Inuit) ở miền Bắc Ca-na-đa (Canada) và những người làm nghề trồng trọt ở Őt-xtrây-li-a (Australia). Lúc được hỏi về sự thay đổi môi trường chóng vánh ở nơi mình sống, cả hai cộng đồng này đều có chung những cảm xúc như nỗi thất vọng, u sầu, hay thậm chí là ý nghĩ muốn tự sát, mặc dù họ sinh sống ở hai nơi hoàn toàn khác nhau về mặt địa lí, phong tục tập quán, và còn bị ảnh hưởng bởi các loại thiên tai hoàn toàn khác nhau.

3

3. Chọn một trong hai yêu cầu sau để thiết kế một infographic:

  • Tóm tắt những thông tin chính về một tác giả văn học có tác phẩm được học trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11.

Tóm tắt những thông tin chính của một văn bản được học ở Bài 8 – Cấu trúc của văn bản thông tin.

Infographic (đồ hoạ thông tin) là văn bản đa phương thức được thiết kế dưới dạng một bức đồ hoạ có sự kết hợp giữa ngôn ngữ với hình ảnh, biểu đồ, số liệu,... nhằm truyền đạt thông tin một cách ngắn gọn, trực quan, sinh động.

Ngoài việc truyền đạt thông tin, infographic còn chú ý tạo sự hấp dẫn đối với người tiếp nhận bằng hiệu quả thẩm mĩ của hình thức trình bày như màu sắc, đường nét,...

. Nêu rõ vấn đề xã hội được thuyết minh và cung cấp một số thông tin cơ bản, nổi bật về vấn để đó.

. Làm sáng tỏ các biểu hiện hay phạm vi ảnh hưởng của vấn đề đối với đời sống xã hội hoặc cung cấp thông tin theo trình tự khác phù hợp với vấn đề được thuyết minh.

. Rút ra được ý nghĩa của việc nhận thức đúng vẫn để thuyết minh.

. Sử dụng kết hợp trong văn bản thuyết minh một hay nhiều yếu tố như miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận.

Hiện tượng “tiếc thương sinh thái” ở những nơi được coi là

Văn bản 2

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Nguyễn Đình Chiểu

Hãy kể vắn tắt hiểu biết của bạn về một tấm gương đã anh dũng hi sinh vì nền độc lập tự chủ của dân tộc trong thời kì chống thực dân Pháp xâm lược.

Theo bạn, việc tưởng nhớ và tôn vinh những người đã hi sinh cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc có ý nghĩa như thế nào trong việc giáo dục thế hệ trẻ hôm nay?

Hỡi ôi!
1. Súng giặc đất rền;
Lòng dân trời tỏ (1).
2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;
Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mô.
Nhớ linh (2) xưa:
3. Cui cút (3) làm ăn;
Toan lo nghèo khó.
4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung (4);
Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ (5).
5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;
Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cò (6), mắt chưa từng ngó.

Chú ý cách ngắt nhịp câu văn biền ngẫu.

Hoàn cảnh xuất thân nghèo khó của nghĩa binh.

(1)

Lòng dân trời tỏ: trời thấu tỏ ý nguyện của nhân dân. Theo tư tưởng Nho học truyền thống, lòng dân chính là ý trời, thực hiện theo ý nguyện của nhân dân là chân lí.

(2)

Linh: anh linh, hương hồn người đã khuất; từ linh ở câu kết bài văn này có nghĩa là linh thiêng.

(3)

Cui cút: lẻ loi, thầm lặng.

(4)

Trường nhung: bãi chiến trường.

(5)

Làng bộ: làng xóm, có bản chép là làng hộ.

(6)

Chỉ việc rèn tập trong quân ngũ; khiên là binh khí dùng để đỡ khí giới của đối phương; mác là một loại vũ khí cổ, có cán dài, mũi nhọn.

6. Tiếng phong hạc (1) phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;
Mùi tinh chiên(2) vấy vá(3) đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.
7. Bữa thấy bòng bong (4) che trắng lốp, muốn tới ăn gan;
Ngày xem ống khói (5) chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.
Thái độ của nghĩa binh đối với bọn cướp nước.
8. Một mối xa thư(6) đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu (7);
Hai vầng nhật nguyệt (5) chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó (9).
9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình(10);
Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này đốc ra tay bộ hổ (11).
Khá thương thay!
10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ (12), theo dòng ở lính diễn binh(13);
Chẳng qua là dân ấp dân lân (14), mến nghĩa làm quân chiêu mộ (15).

Thái độ của nghĩa binh đối với bọn cướp nước.

Tinh thần chiến đấu quả cảm của nghĩa binh. Chú ý các hình ảnh đối lập.

(1)

Tiếng phong hạc: tiếng gió thổi hạc kêu; ý nói việc hồi hộp lo lắng khi nghe tin quân giặc tới xâm lấn. Ý câu văn lấy chữ từ sách xưa: "thanh phong hạc lệ, thảo mộc giai binh" (nghe tiếng gió thổi hạc kêu mà nhìn cây cỏ xung quanh đều ngỡ là quân giặc đuổi đánh).

(2)

Tinh chiên: tanh hôi (tinh: mùi tanh, chiên: mùi hôi thối), ý nói về quân cướp nước với thái độ khinh miệt.

(3)

Vấy vá: dây dính, đeo bám.

(4)

Bòng bong: vốn là tên một loại cây dây leo, nhánh lá đan bện vào nhau; ở đây chỉ buồm vải, lều bạt chăng dây trên tàu thuyền, ở trại lính của liên quân Pháp và Tây Ban Nha.

(5)

Ống khói: ống khói xả khí đốt của tàu giặc.

(6)

Xa thư: lấy chữ trong sách Trung Dung, "xa đồng quỹ, thư đồng văn” (xe cùng một cỡ trục, sách cùng một kiểu chữ) để nói sự thống nhất quốc gia.

(7)

Chém rắn đuổi hươu: mượn ý từ thành ngữ tiếng Hán "trảm xà trục lộc” (Hán Cao Tổ Lưu Bang chém rắn lúc khởi nghiệp để giành lấy ngôi vị của nhà Tần); ở đây ý nói giặc Pháp gây chiến tranh hòng tước đoạt chủ quyền nước ta. Giang sơn nước Nam vốn thống nhất một mối, há để kẻ khác gây binh đao nhằm thôn tính.

(8)

Hai vầng nhật nguyệt: hình ảnh tượng trưng cho ánh sáng chân lí, thể hiện tinh thần tự chủ quốc gia.

(9)

Treo dê bán chó: mượn ý từ thành ngữ tiếng Việt "treo đầu dê bán thịt chó”, chỉ sự gian trá lừa lọc; ở đây ý nói thực dân Pháp viện các cớ khác nhau để xâm lược nước ta.

(10)

Đoạn kình: chém cá kình (cá voi, sách vở xưa mượn hình ảnh này để nói sự hùng mạnh); ở đây ý nói quyết tâm giết giặc.

(11)

Bộ hổ: bắt hổ (hổ tượng trưng cho sức mạnh); ở đây ý nói quyết tâm đánh giặc giữ nước.

(12)

Quân cơ quân vệ: quân lính thuộc biên chế ở cơ, vệ; cơ và vệ là hai trong số nhiều đơn vị theo phiên chế quân đội thời xưa.

(13)

Theo dòng ở lính diễn bình: dòng dõi, truyền thống binh nghiệp.

(14)

Dân ấp dân lân: người dân ở làng quê xóm ấp cạnh nhau.

(15)

Quân chiêu mộ: quân lính tình nguyện theo hiệu triệu vì việc nghĩa (chiêu: mời, vời; mộ: cấu, tìm).

11. Mười tám ban võ nghệ (1), nào đợi tập rèn;
Chín chục trận binh thư(2), không chờ bày bố.
12. Ngoài cật (3) có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi(4);
Trong tay cầm một ngọn tầm vông(5), chi nài sắm dao tu, nón gõ (6).
13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi(7), cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;
Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai(5) nọ.
14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không
Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.
15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní (9) hồn kinh;
Bọn hè trước, lũ ó sau(10), trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.
Ôi!
16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;
Đâu biết xác phàm(11) vội bỏ.

Giọng văn trầm hùng, âm hưởng bi tráng.

(1)

Mười tám ban võ nghệ: quân đội thời trước chia thành mười tám ban, mỗi ban chuyên về một loại vũ khí.

(2)

Chín chục trận binh thư: số lượng (ước định) thế trận được phân loại từ các trận pháp theo một số sách binh pháp thời xưa.

(3)

Cật: thân, mình (từ cổ). Ý của câu: thân mình chỉ khoác một manh áo vải, thân phận nghèo hèn.

(4)

Bao tấu, bầu ngòi: bao đựng dao (tấu: mã tấu, một loại dao dài, to bản, mũi nhọn, được dùng làm vũ khí) và bầu (túi, gói) đựng ngòi thuốc nổ.

(5)

Tầm vông: một loài cây thuộc họ tre, được trồng nhiều ở Nam Bộ. Trong các cuộc kháng chiến, vì thiếu thốn binh khí nên gậy tầm vông được dùng làm vũ khí thay giáo mác để đánh giặc.

(6)

Dao tu, nón gỗ: các loại quân trang, quân dụng của lính thú đời trước (dao tu: dao có lưỡi dài; nón gô: mũ hình chóp).

(7)

Hoả mai đánh bằng rơm con củi: hoả mai là một loại súng bắn bằng cách đốt lửa để châm ngòi. Ý câu này là: Nghĩa sĩ Cần Giuộc không có hoả mai, phải dùng vũ khí là nùn rơm để đánh giặc; đối ý với câu sau: Không có gươm, dùng thay bằng dao phay để giết giặc.

(8)

Quan hai: một trong các phẩm hàm, xếp theo thứ bậc của quân đội Pháp.

(9)

Mã tà ma ní: chỉ chung lính đánh thuê cho thực dân Pháp (mã tà: cảnh sát, gọi theo tiếng Ma-lai-xi-a (Malaysia); ma ní: lính chiêu mộ từ Phi-líp-pin, được gọi theo tên thủ đô Ma-ni-la (Manila) của nước này).

(10)

Bọn hè trước, lũ ó sau: ý nói các nghĩa sĩ Cần Giuộc hô gọi nhau tiến đánh giặc, mặc kệ súng bắn dữ dội từ các tàu bằng sắt, bằng đồng của giặc Pháp.

(11)

Xác phàm: thân xác con người được nhìn trong thế đối lập với linh hồn; linh hồn là phần tỉnh tuý, tồn tại mãi mãi, còn thân xác là phần thô lậu, sẽ bị hư nát, huỷ hoại với thời gian.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh (1), nào hay da ngựa bọc thây (2);
Trăm năm âm phủ ấy chữ quy (3), nào đợi gươm hùm treo mộ(4).
18. Đoái sông Cần Giuộc(5), cỏ cây mấy dặm sầu giăng;
Nhìn chợ Trường Bình (6), già trẻ hai hàng luỵ(7) nhỏ.
19. Chẳng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh(5) đánh giặc cho cam tâm;
Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực(9) theo quân cho đáng số.
Nhưng nghĩ rằng:
20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi(10) cho nước nhà ta;
Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi(11) ông cha nó.
21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;
Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.
22. Sống làm chi theo quân tả đạo (12), quăng vùa hương, xô bàn độc (13), thấy lại thêm buồn;
Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.
23. Thà thác mà đặng câu địch khái(14), về theo tổ phụ (15) cũng vinh;

Cảm xúc xót thương.

(1)

Chữ hạnh: hạnh là may mắn; cả câu ý nói thân mình ở chốn sa trường, chỉ may mắn thì mới sống sót.

(2)

Da ngựa bọc thây: (chết ở bãi chiến trường), dùng da ngựa bọc xác. Lấy ý từ câu nói của Mã Viện (tướng nhà Hán – Trung Quốc, từng đem quân sang xâm lược nước ta): làm thân nam nhi, chết ở bãi sa trường, lấy da ngựa bọc thây đem về chôn mới thoả chí...

(3)

Chữ quy: quy là về, ở đây nghĩa là chết (về với tổ tiên, về với đất mẹ).

(4)

Gươm hùm treo mộ: lấy tích trong sử sách Trung Quốc, nói về một nghĩa bình thời Chiến Quốc, khi sống không thoả được chí mình, trước khi chết dặn con treo thanh gươm trên mộ để tỏ chí khí.

(5)

Đoái sông Cần Giuộc: nhìn dòng sông Cần Giuộc vốn chịu cảnh đau thương của chiến tranh. Sông Cần Giuộc (hay sông Rạch Cát, sông Phước Lộc), chảy qua địa phận tỉnh Long An và một số địa phương ở Nam Bộ, nơi diễn ra trận đánh nổi tiếng giữa quân ta và giặc Pháp năm 1858.

(6)

Chợ Trường Bình: nay là chợ Cần Giuộc, tỉnh Long An.

(7)

Luỵ: tức lệ, nước mắt.

(8)

Vi binh: làm lính.

(9)

Hiệu lực: (hiệu: hết sức) một hình phạt thời xưa, buộc người có tội phải hết sức để chuộc tội, thường là bị đày đi làm những việc nặng nhọc, nguy hiểm.

(10)

Tài bồi: vun đắp, gây dựng (tài: trồng cây, bồi: vun bồi).

(11)

Mắc mớ chi (khẩu ngữ): liên can gì đến (cụm từ này được dùng với ý phủ định).

(12)

Tả đạo: ở đây chỉ đạo Gia tô (Thiên Chúa). Bấy giờ, thực dân Pháp lợi dụng đạo này phục vụ cho mưu đồ xâm lược, lấy cớ truyền đạo để lôi kéo dân chúng và xâm lấn lãnh thổ. Vì chưa phân biệt rõ kẻ gian, người lành nên triều đình và các chí sĩ chủ trương bài trừ đạo Gia tô.

(13)

Vùa hương, bàn độc: bát hương và bàn thờ. Bấy giờ, những người theo thực dân Pháp và theo tôn giáo mới đã phế bỏ việc thờ phụng tổ tiên vốn thuộc tín ngưỡng truyền thống của người Việt.

(14)

Địch khái: tinh thần khảng khái, ý chí mạnh mẽ chống lại kẻ thù.

(15)

Tổ phụ: ông nội, ở đây chỉ tổ tiên.

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây (1), ở với man di(2) rất khổ.
Ôi thôi thôi!
24. Chùa Tông Thạnh (3) năm canh ưng (4) đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;
Đồn Lang Sa (5) một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ.
25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;
Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ (6) trước ngõ.
Ôi!
26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ(7).
27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;
Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.
28. Thác mà trả nước non rồi nợ (5), danh thơm đồn sáu tỉnh chúng (9) đều khen;
Thác mà ưng(10) đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ(11).

Ngợi ca tinh thần và sự hi sinh anh dũng của nghĩa binh.

(1)

Đầu Tây: đầu hàng giặc Pháp.

(2)

Man di: chỉ thực dân Pháp xâm lược với ý khinh miệt. Người Hán (Trung Quốc) xưa cho nước họ là trung tâm, các nước ở xung quanh đều là mọi rợ (rợ ở phía đông gọi là di, ở phía nam gọi là man, ở phía tây gọi là nhung, ở phía bắc gọi là địch).

(3)

Chùa Tông Thạnh (hay Tôn Thạnh): một ngôi chùa ở huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

(4)

Ung: phải chịu, phải chấp nhận hay chịu đựng điều không muốn (nghĩa trong văn bản).

(5)

Lang Sa: chỉ giặc Pháp, xuất phát từ cách phiên âm từ France (nước Pháp) qua âm Hán Việt.

(6)

Dật dờ: vất vơ vất vưởng; hình dung dáng vẻ yếu đuối, tâm trạng hoảng hốt,.... của người vợ đôn đáo tìm chồng lúc chạng vạng tối.

(7)

Tiết rỡ: danh tiết, phẩm giá rạng rỡ.

(8)

Rồi nợ: xong nợ, hết nợ (rối: xong).

(9)

Chúng: dân chúng, chỉ chung mọi người.

(10)

Ưng: nên, được (khác với nghĩa từ ưng ở trên – xem cước chú 4).

(11)

Mộ: mến mộ, khen tặng. Ý cả câu: Chết mà được dân lập đền miếu để thờ, thì tiếng thơm về sự ngay thẳng đến muôn đời vẫn được mọi người khen ngợi.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;
Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy (1) đã rành rành, một chữ ấm(2) đủ đển công đó.
30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân(3);
Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ (4).
Hỡi ôi thương thay!
Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976, in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 - 34)

Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888) tự là Mạnh Trạch, hiệu là Trọng Phủ, quê gốc ở Thừa Thiên (nay là Thừa Thiên Huế). Nguyễn Đình Chiểu được sinh ở quê mẹ (phủ Tân Bình – tỉnh Gia Định – nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Hơn 10 tuổi, ông được cha đưa ra Huế ăn học, năm 21 tuổi (1843) thi đỗ tú tài ở trường thi Gia Định, năm 27 tuổi (1849) ông ra Huế chuẩn bị thi tiếp thì được tin mẹ mất. Trên đường về lại Gia Định để chịu tang mẹ, phần vì khóc thương, phần vì ốm nặng nên ông bị mù cả hai mắt. Con đường khoa cử lỡ dở, ông sống bằng nghề dạy học và bốc thuốc.

Nguyễn Đình Chiểu

Năm 1859, thực dân Pháp chiếm Gia Định, Nguyễn Đình Chiểu cùng với Trương Định và một số lãnh tụ khởi nghĩa khác bàn mưu định kế đánh giặc. Khi thực dân Pháp chiếm dần các tỉnh Nam Bộ, ông về ở hẳn Ba Tri (Bến Tre) tiếp tục dạy học, bốc thuốc và cùng nhân dân kháng chiến. Thực dân Pháp tìm mọi cách mua chuộc nhưng Nguyễn Đình Chiểu giữ vững khí tiết, quyết không hợp tác với chúng. Buồn thương cảnh nước mất nhà tan, ông đau ốm và mất ngày 03/7/1888. Con người Nguyễn Đình Chiểu là sự hội tụ của nhiều phẩm cách: một tinh thần yêu nước

(1)

Lời dụ dạy: lời dạy bảo (dụ: chỉ bảo, nói cho hiểu rõ).

(2)

Chữ ấm: tập ấm, chế độ ban thưởng công lao thời phong kiến (con cháu của người có công lao được ban chức tước).

(3)

Thiên dân: dân của trời, ở đây chỉ dân chúng nói chung (xem thêm cước chú 4: vương thổ).

(4)

Vương thổ: đất của vua, ở đây chỉ đất đai bờ cõi của quốc gia. Kĩnh thì có câu: Dưới gầm trời đâu cũng là đất của vua, trong bốn bể ai cũng là bề tôi của vua; thế mà vua lại để đất đai dân chúng ấy rơi vào tay giặc.

thương dân nhiệt thành; một tấm gương đạo đức hiếu nghĩa sáng ngời; một tài năng văn chương độc đáo; một nhà giáo tận tuỵ cống hiến;... Nguyễn Đình Chiểu để lại một sự nghiệp sáng tác đa dạng, với nhiều thành tựu đỉnh cao. Ông hầu như chỉ sáng tác bằng chữ Nôm, với dụng tâm hướng đến quần chúng nhân dân, qua các chủ đề và đề tài gắn liền với đời sống xã hội, các giá trị truyền thống của dân tộc. Các thể loại chính được ông sử dụng là: truyện thơ, thơ Đường luật, văn tế. Nhiều tác phẩm nổi tiếng của ông được truyền tụng rộng rãi như: Lục Vân Tiên, Dương Từ – Hà Mậu, Ngư tiều y thuật vấn đáp, Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh,... Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu đã thể hiện chân thực cốt cách và tâm hồn con người tác giả. Nguyễn Đình Chiểu được UNESCO vinh danh là Danh nhân văn hoá của nhân loại năm 2021.

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là một trong những tác phẩm có vị trí đặc biệt trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu và trong lịch sử văn học dân tộc. Sau khi chiếm thành Gia Định (1859), giặc Pháp tiếp tục mở rộng chiến tranh thôn tính ra nhiều vùng lân cận; nhân dân Nam Bộ đã anh dũng tổ chức kháng chiến, nhiều trận đánh lớn đã diễn ra. Đêm 16/12/1861, những nghĩa sĩ nông dân lam lũ, trong tay chỉ có những vũ khí thô sơ, nhưng với tinh thần quả cảm và lòng căm thù giặc ngút trời, đã tổ chức đánh đồn giặc ở Cần Giuộc. Trận đánh thu được một số thắng lợi, nhưng gần 20 nghĩa sĩ đã anh dũng hi sinh. Sự hi sinh của nghĩa binh trận Cần Giuộc đã để lại niềm xúc động vô cùng lớn lao trong nhân dân. Nguyễn Đình Chiểu đã nhận uỷ thác từ Tuần phủ Gia Định là Đỗ Quang, viết bài văn này để đọc tại lễ truy điệu các chiến sĩ. Bài văn tế ngay sau đó đã được vua Tự Đức ra lệnh cho truyền chép và phổ biến ở nhiều địa phương trong nước; tác phẩm cũng được nhiều văn nhân thi sĩ các đời ca tụng. Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là áng văn bi tráng khắc tạc bức tượng đài bất tử về người nghĩa sĩ nông dân đã hi sinh vì Tổ quốc, trong một giai đoạn lịch sử đau thương của dân tộc. Bài văn cũng đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật văn tế. Văn bản bài văn qua các lần xuất bản chỉ có một số sai khác nhỏ.

Văn tế (tế văn, ai điếu, ai vãn,...) là một kiểu loại văn bản thường dùng trong đời sống, có chức năng cơ bản là tế vong hồn, ca tụng và ghi nhớ công đức người đã khuất. Văn tế có thể viết theo nhiều thể: văn xuôi, văn vần, biển văn hoặc phối hợp các thể văn. Cấu trúc nội dung của bài văn tế nói chung gồm ba phần: Tán (thể hiện nhận định, đánh giá, thường là ca ngợi công đức người được tế); Thán (khái quát về sự nghiệp, công lao, tài năng, đức độ,... của người được tế); Ai (bày tỏ niềm đau đớn, thương xót, sự kính trọng, ghi nhớ công ơn,... với người được tế). Tuỳ vào thể văn được lựa chọn, đối tượng người được tế là tập thể hay cá nhân, ảnh hưởng của người được tế đối với nhân dân, sáng tạo riêng của người viết,... mà cấu trúc nội dung trên có thể có sự điều chỉnh. Về ngôn ngữ, văn tế nhìn chung sử dụng ngôn từ trang nghiêm, giản dị, dễ hiểu để thể hiện sự chân thành, kính trọng,... với người được tế. Ngoài ra, văn tế cũng thường có những câu từ mang tính chất khuôn mẫu. Bút pháp có thể phối hợp đa dạng các yếu tố như nghị luận, tự sự, trữ tình, biểu cảm.

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được viết theo thể phú Đường luật, sử dụng lối văn biền ngẫu. Chính tài năng nghệ thuật xuất chúng của tác giả đã góp phần giúp bài văn tế này vượt khỏi chức năng điếu viếng thông thường, trở thành một tác phẩm văn học có giá trị cao, gây được niềm xúc động sâu sắc cho nhiều thế hệ.

1.

Căn cứ vào hiểu biết chung về cấu trúc nội dung thể văn tế, hãy xác định bố cục và nêu nội dung chính của mỗi phần trong văn bản.

2.

Câu văn mở đầu “Súng giặc đất rền; Lòng dân trời tỏ.” có ý nghĩa như thế nào trong việc thể hiện tư tưởng chung của bài văn tế?

3.

Lòng căm thù giặc của người nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc được tác giả thể hiện trong tác phẩm như thế nào?

4.

Tìm và liệt kê các động từ mà tác giả đã sử dụng để thể hiện tinh thần chiến đấu dũng cảm của các nghĩa sĩ Cần Giuộc.

5.

Cảm xúc của tác giả được thể hiện như thế nào trong phần cuối bài văn (từ “Ôi thôi thôi!" đến hết)?

6.

Trình bày ngắn gọn quan điểm của bạn về nhận định sau: Với bài văn tế này, lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc có một tượng đài sừng sững về người nghĩa sĩ nông dân chống giặc cứu nước tương xứng với phẩm chất vốn có ngoài đời của họ.

7.

Phân tích khái quát tính chất trữ tình, thủ pháp tương phản và nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong bài văn tế.

Kết nối đọc - viết

Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) nêu suy nghĩ của mình về “lựa chọn và hành động” của nghĩa sĩ Cần Giuộc khi đối đầu với kẻ thù xâm lược.

Văn bản 3

Cộng đồng và cá thể

(Trích Thế giới như tôi thấy)

An-be Anh-xtanh (Albert Einstein)

Nêu những ấn tượng nảy sinh khi bạn nghĩ về khái niệm “cộng đồng”.

Hãy chia sẻ những suy nghĩ chân thật về bản thân và niềm mong muốn về một môi trường sống có thể giúp bạn phát huy được năng lực của mình.

Nếu chúng ta ngẫm nghĩ về cuộc đời và nỗ lực của mình, chúng ta sẽ sớm nhận ra rằng, hầu hết những hoạt động và mong muốn của chúng ta đều có quan hệ với sự tồn tại của người khác. Chúng ta nhận ra rằng, về bản chất giống loài, chúng ta cũng giống như những động vật sống theo bầy. Chúng ta ăn thức ăn người khác trồng, mặc quần áo người khác may, sống trong nhà người khác xây. Hầu hết những gì ta hiểu biết và tin tưởng đều do người khác bày cho ta thông qua một ngôn ngữ, mà ngôn ngữ cũng do người khác tạo ra. Nếu không có ngôn ngữ, khả năng tư duy của chúng ta sẽ rất hạn chế – chỉ tương đương với những động vật cao cấp; vì thế chúng ta phải thừa nhận rằng, để chúng ta hơn được động vật, trước hết chúng ta phải mang ơn vì được sống trong cộng đồng loài người. [...] Vậy nên, căn cước và ý nghĩa tồn tại của một cá thể nằm ở chỗ, anh ta không hẳn là một sinh thể đơn lẻ mà là thành viên của một cộng đồng lớn của con người, cộng đồng dẫn dắt đời sống vật chất và tinh thần của anh ta từ khi sinh ra tới khi chết.

Theo dõi cách tác giả tập hợp bằng chứng nhằm làm sáng tỏ luận điểm khởi đầu của văn bản.

Dự đoán luận điểm này sẽ dẫn mạch lập luận trong văn bản đi theo hướng nào.

Cái làm nên giá trị của một con người trong cộng đồng phụ thuộc trước hết vào việc những tình cảm, suy nghĩ và hành động của anh ta giúp ích được bao nhiêu cho sự tồn tại của người khác. Tuỳ theo thái độ của anh ta trong mối quan hệ này mà chúng ta đánh giá anh ta thuộc loại tốt hay xấu. Thoạt nhìn thì có vẻ là, chỉ duy những phẩm chất xã hội của một con người mới là chuẩn mực cho những đánh giá về anh ta.

Nhưng một quan niệm như vậy thật ra là không đúng. Dễ nhận thấy rằng, trải bao thế hệ, tất cả tài sản vật chất, tinh thần và đạo đức mà chúng ta nhận được từ cộng đồng đã được tạo dựng bởi những cá thể sáng tạo đơn lẻ: người tìm ra cách dùng lửa, người tìm ra cách trồng trọt, và người phát minh ra đầu máy hơi nước.

Chỉ cá thể đơn lẻ mới có thể tư duy và qua đó, tạo ra những giá trị mới cho xã hội, vâng, thậm chí đề ra những quy phạm đạo đức mới để đời sống cộng đồng hướng theo. Nếu không có những cá thể sáng tạo, suy nghĩ và phán xét độc lập, thì sự phát triển lên cao của xã hội là khó tưởng tượng; cũng như vậy, một cá thể đơn lẻ sẽ không thể phát triển nếu thiếu mảnh đất dinh dưỡng của cộng đồng.

Chú ý cách lật đi lật lại vấn đề của tác giả.

Vâng, một cộng đồng lành mạnh là một cộng đồng gắn liền với tính độc lập của những cá thể cũng như với sự liên kết bên trong của xã hội. Có nhiều điểm đúng khi nói rằng, nền văn hoá Hy - Âu – Mỹ nói chung, đặc biệt là cao trào văn hoá thời Phục hưng ở Ý – thời chấm dứt đêm trường Trung cổ ở châu Âu – đã đặt nền tảng trên sự giải phóng cá nhân và sự tách bạch một cách tương đối giữa cá nhân với cộng đồng.

Hình dung về những bằng chứng có thể được đưa ra để làm sáng tỏ nhận định này.

Bây giờ, hãy nhìn vào thời đại chúng ta đang sống! Cộng đồng được nhìn nhận ra sao, còn cá thể thì thế nào? So với thời trước, mật độ dân số ở các nước văn minh hiện quá cao; châu Âu hôm nay (1) chứa một lượng người lớn gấp ba lần cách đây một trăm năm. Nhưng tỉ lệ những người có tư chất thủ lĩnh lại giảm sút. Chỉ có một số ít người, nhờ thành tựu của mình, nổi lên trước đám đông như một nhân cách. Ở một chừng mực nhất định, tổ chức đã thay thế thủ lĩnh, nhất là trong lĩnh vực kĩ thuật, song cũng đã có thể cảm thấy điều tương tự trong khoa học.

Đặc biệt nhạy cảm, sự thiếu hụt cá tính trong lĩnh vực nghệ thuật đang lộ rõ. Hội hoạ và âm nhạc xuống cấp trông thấy và đang đánh mất ghê gớm sự cộng hưởng trong công chúng. Trong chính trị, không chỉ thiếu người cầm lái mà sự độc lập về tinh thần cũng như ý thức về lẽ phải của dân chúng cũng giảm sút khủng khiếp. Chế độ dân chủ nghị trường (2), chế độ vốn lấy sự độc lập nói trên làm điều kiện tiên quyết, đang bị chao đảo ở nhiều nơi; các chế độ độc tài xuất hiện và được dung dưỡng, bởi ý thức về danh dự và quyền cá nhân không còn đủ mạnh nữa. Chỉ trong hai tuần, vì báo chí, đám đông mù quáng ở một quốc gia nào đó có thể bị làm cho giận dữ và kích động đến nỗi những người đàn ông sẵn sàng

Bạn hiểu như thế nào về nhận định này?

(1)

Châu Âu những thập niên đầu của thế kỉ XX.

(2)

Chế độ dân chủ nghị trường: chế độ được thiết lập ở các nước châu Âu thời điểm văn bản này được viết ra.

khoác áo lính để đi giết người và bị giết vì những mục đích chẳng lấy gì làm cao quý của những thế lực nào đó. [...] Chẳng thế mà không thiếu những nhà tiên tri, những kẻ dự báo ngày tàn của nền văn minh chúng ta đang đến gần. Tôi không thuộc số những kẻ bi quan này; tôi tin vào một tương lai tốt đẹp hơn. Ở đây tôi muốn biện giải cho lòng tin ấy một cách ngắn gọn:

Bạn có hoàn toàn đồng tình với những điều được tác giả phân tích ở đây hay không?

Theo ý kiến của tôi, những biểu hiện suy tàn hiện nay bắt nguồn từ chỗ: sự phát triển về kinh tế và kĩ thuật đã khiến cho cuộc đấu tranh sinh tồn của con người càng thêm gay gắt, vì thế, sự phát triển tự do của cá nhân bị tổn hại nặng nề. Nhưng mặt khác, kĩ thuật phát triển lại giúp cá nhân ngày càng phải lao động ít hơn mà vẫn thoả mãn được các nhu cầu chung. Việc phân công lao động có kế hoạch đang ngày càng trở nên một đòi hỏi cấp thiết, và việc phân công này sẽ mang lại sự bảo đảm về vật chất cho từng cá thể. Sự bảo đảm này, cũng như sức lực và thời gian dư ra của các cá thể, sẽ là một lợi thế cho sự phát triển nhân cách. Cộng đồng nhờ thế sẽ khoẻ mạnh trở lại, và chúng ta hãy hi vọng rằng, các sử gia tương lai sẽ nhìn những biểu hiện bệnh tật của thời đại chúng ta như chứng cảm cúm của trẻ con, chứng cảm cúm của một nhân loại đang vươn mình lên cao mà tất cả chẳng qua cũng do tốc độ chuyển đổi quá nhanh mà ra.

Tư duy tích cực của tác giả được biểu hiện như thế nào qua những "biện giải" này?

(An-be Anh-xtanh, Thế giới như tôi thấy, Đình Bá Anh - Nguyễn Vũ Hào - Trần Tiên Cao Đăng dịch, Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính, NXB Tri thức, Hà Nội, 2005, tr. 22-26)

An-be Anh-xtanh (1879-1955) là nhà vật lí lí thuyết người Đức, trở thành công dân Mỹ năm 1940, được nhìn nhận là một trong những nhà bác học vĩ đại nhất mọi thời đại, có tầm ảnh hưởng lớn lao trong nhiều lĩnh vực, từ khoa học đến tư tưởng, tôn giáo và chính trị. Ông được trao giải Nô-ben Vật lí năm 1921 cho những cống hiến đối với vật lí lí thuyết, đặc biệt là cho sự khám phá ra định luật của hiệu ứng quang điện.

An-be Anh-xtanh Ảnh: Kayo

Văn bản Cộng đồng và cá thể là tiểu luận trích từ Thế giới như tôi thấy – một cuốn sách quan trọng thể hiện những tư tưởng của An-be Anh-xtanh về nhiều vấn đề lớn của khoa học, đời sống; công bố lần đầu năm 1931 ở Đức, tái bản (có bổ sung) năm 1955 ở Mỹ, sau đó được dịch ra rất nhiều thứ tiếng khác trên thế giới.

Viết

Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật

Để viết về một tác phẩm nghệ thuật, thách thức đầu tiên là phải am hiểu loại hình nghệ thuật của tác phẩm đó. Bạn hãy vận dụng những kiến thức nghệ thuật được học trong nhà trường, kết hợp với việc tự đọc và tìm hiểu thêm qua thực tế để có một tâm thế chủ động khi thâm nhập thế giới mà tác phẩm mở ra bằng “ngôn ngữ” riêng của nó. Đánh giá nghệ thuật là công việc không hề dễ dàng, nhưng nghệ thuật luôn mở cánh cửa ra trước mọi người.

Yêu cầu

Nêu được những thông tin khái quát về tác phẩm nghệ thuật sẽ bàn tới trong bài viết (tác giả, tên tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác, đánh giá của công chúng,...).

Xác định rõ nội dung và hệ thống luận điểm sẽ triển khai: miêu tả chung về tác phẩm bằng ngôn ngữ phù hợp với loại hình nghệ thuật của nó; phân tích tác phẩm trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật; đánh giá tổng quát; gợi ý về cách tiếp cận phù hợp đối với tác phẩm;...

Phối hợp linh hoạt giữa việc trình bày lí lẽ và nêu bằng chứng cụ thể.

Thể hiện được sự rung động trước tác phẩm và sự đồng cảm đối với tác giả.

Bài viết tham khảo

Về bức tranh Mưa thu. Pu-skin của hoạ sĩ V. E. Páp-cốp (V. E. Popkov)

Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm.

Vích-to E-phi-mô-vích Páp-cốp (Viktor Yefimovich Popkov, 1932-1974) là hoạ sĩ Nga nổi tiếng nửa sau thế kỉ XX, từng tạo được ảnh hưởng lớn đối với các hoạ sĩ cùng thế hệ ở trong nước. Trong tranh ông, vẻ đẹp tâm hồn Nga thuần phác đã được diễn tả bằng một bút pháp độc đáo, thoạt nhìn có vẻ khắc khổ nhưng đầy tính biểu cảm và triết lí. Giữa nhiều tác phẩm của ông được

Viết

Yêu cầu

. Nêu được những thông tin khái quát về tác phẩm nghệ thuật sẽ bàn tới trong bài viết
(tác giả, tên tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác, đánh giá của công chúng,...).
. Xác định rõ nội dung và hệ thống luận điểm sẽ triển khai: miêu tả chung về tác phẩm
bằng ngôn ngữ phù hợp với loại hình nghệ thuật của nó; phân tích tác phẩm trên cả hai
phương diện nội dung và nghệ thuật; đánh giá tổng quát; gợi ý về cách tiếp cận phù
hợp đối với tác phẩm;...
Phối hợp linh hoạt giữa việc trình bày lí lẽ và nêu bằng chứng cụ thể.

  • Thể hiện được sự rung động trước tác phẩm và sự đồng cảm đối với tác giả.

Với cuộc sống

Bài viết tham khảo

giới phê bình nghệ thuật và khán giả nồng nhiệt ca ngợi, Mưa thu. Pu-skin có một
vị trí đặc biệt. Đây là bức tranh hoạ sĩ vẫn chưa kịp hoàn thành trước lúc đột ngột
ra đi vì một tai nạn bi thảm.

Nêu một số thông tin cần
thiết về hoàn cảnh ra đời
của tác phẩm.

Theo một số tài liệu nghiên cứu, ý tưởng vẽ bức tranh
nảy sinh ở hoạ sĩ vào mùa thu năm 1973, lúc ông đến
thăm Mi-khai-lốp-xki (Mikhailovsky) - trang viên mà
ngày xưa A. X. Pu-skin từng về sống trong thời gian nhà
thơ bị chính phủ chuyên chế của Nga hoàng thù ghét,
trục xuất khỏi Pê-téc-bua (Petersburg) vô thời hạn. Khung cảnh thơ mộng tuyệt đẹp
nơi đây như còn phảng phất bóng dáng của Pu-skin, khơi gợi trong lòng hoạ sĩ
bao suy tư về cuộc sống, về sự cô đơn và nghệ thuật.

Triển khai phân tích, bình
luận về những điểm đặc
sắc của tác phẩm.

Xin hãy cùng chiêm ngưỡng tuyệt tác của Páp-cốp,
một bức sơn dầu vẽ trên toan khổ 169×172 cm. Hai cây
cột lớn kéo gần hết chiều dọc của bức tranh, như muốn
đóng khung hoạ phẩm ở hai phía trái và phải. Để phá
vỡ sự khô cứng, nặng nề mà chúng có thể gây ra, hoạ sĩ
đã dùng ánh sáng “đẩy” cột bên phải lùi ra phía ngoài thêm một chút. Mấy chiếc
lá vàng rơi trên sàn cũng góp phần tạo nên ấn tượng: không gian còn được mở ra
thêm nữa phía người xem, cũng là phía sau lưng nhà thơ - nhân vật. Vòm lá vàng
rung động, nét uốn nhẹ theo chiều ngang của dòng sông ở trung cảnh, sự nhấp nhô
của những dải đồi gò xám xanh nơi hậu cảnh, bóng con ngựa trắng đi ra mép
phải của tranh..., tất cả đã phối hợp nhịp nhàng với nhau, làm nên một phương án
bố cục tối ưu, hoá giải sự “áp đặt của các khối trụ đứng. Hình thể của nhà thơ cũng
được tạo hình theo chiều dọc, nhưng “nét mảnh mai của nó cùng đường xiên của
tà áo khoác đuôi tôm phất theo gió đã làm cho bức tranh

Miêu tả đặc điểm tác
phẩm kèm theo những
phân tích, đánh giá.

thực sự sống động, dù tác giả muốn tô đậm vẻ tĩnh lặng
của trời thu, cảnh thu vừa qua cơn mưa (vũng nước đọng
ở bậc thềm “lưu ý điều này). Gương mặt Pu-skin nhìn
nghiêng, sáng và nổi bật những nét đặc thù trên nền vàng
nhạt – xám xanh của đất bãi phía trước, toát lên vẻ tư lự, mơ màng. Bàn tay phải
mảnh dẻ ôm lấy cánh tay trái trong một phong thái rất tao nhã (bàn tay Pu-skin
từng được hoạ sĩ Ô-re-xtơ Kíp-ren-xki (Orest Kiprensky) vẽ rất đẹp trong một bức
chân dung hoàn thành năm 1827). Sàn gỗ ngay dưới chân nhà thơ có mấy vệt sáng
phản chiếu ánh trời. Chính điều đó làm khối hình như được giảm nhẹ trọng lượng,

đưa đến cảm giác nhân vật đang tồn tại trong trạng thái lơ lửng, phiêu diêu. Một
bên vai mảnh tựa cột, nhưng đó chỉ là tựa hờ... Nhìn chung, người và cảnh hoà hợp
với nhau lạ lùng.

Gợi ý về một cách "đọc"
đối với nét độc đáo của
tác phẩm.

Khi hình dung bố cục bức tranh, tác giả đặt trọng tâm
vào việc vẽ người hay vẽ cảnh? Chính tên tranh đã tiết lộ
rằng có lẽ hoạ sĩ không nghiêng về bên nào. Không chỉ
Pu-skin, mùa thu cũng là một “nhân vật” quan trọng.
Hoạ sĩ muốn diễn tả một sự
tương giao, ngay cả khi tự các
đường nét, chi tiết lại muốn
kể với ta về sự mong manh
như chiếc lá của số phận con
người, trước cái bát ngát của
không gian và sự ôm trùm
màu nhiệm của sự sống. Từ
bức tranh như vẳng lên một
lời kêu gọi bồn chồn: Hãy đi
ra với mùa thu, hoà lẫn và
biến mất trong nó, trong cái
đẹp tươi sáng mà khắc khoải
khiến ta phải nghẹn lòng...
Bằng toàn bộ sức mạnh diễn
tả của hình và sắc, hoạ sĩ đã
làm nổi bật câu chuyện thầm
thì giữa nhà thơ vĩ đại Pu-skin

Bức tranh Mưa thu. Pu-skin. Nguồn: Viện bảo tàng Tơ-rê-chi-a-cốp, Nga

với mùa thu nước Nga, như là biểu tượng của cuộc đối thoại vĩnh cửu giữa thi ca
và nghệ thuật nói chung với tạo vật đầy huyền bí.

Bày tỏ sự đồng cảm đối
với tác giả, tác phẩm.

Dường như có một sự cộng hưởng kì lạ của những số
phận ở bức tranh này. Pu-skin kết thúc sinh mệnh sau một
cuộc đấu súng oái oăm, lúc mới ba mươi tám tuổi. Hoạ sĩ
Páp-cốp cũng ngừng cuộc phiêu du trên trần gian do một
sự cố phi lí khi tuổi đời mới chỉ bốn mươi hai. Và bức tranh, vốn chưa được hoạ sĩ
dỡ xuống giá vẽ và đóng khung, ý chừng còn đợi những nhát cọ hoàn thiện cuối
cùng. Ở mép trên của hoạ phẩm, một phiến lá thu mơ hồ còn chưa dứt đường bay...

Kết luận và gợi mở
những suy nghĩ mới về
nghệ thuật.

Nhưng, như mọi thứ trên đời, sự hoàn thiện thường là
một ước vọng hơn là thực tế. Sự dở dang, dù cố ý hay ngẫu
nhiên, nhiều khi vừa gây nuối tiếc vừa giúp ta hiểu ra cái
vô tận của cuộc đời, của thời gian và không gian. Đối với
một tác phẩm nghệ thuật, có lẽ điều quan trọng hơn cả là
khơi lên được ở người tiếp nhận những cách cảm thụ mới mẻ, những suy tư không
dứt, bằng các phương tiện và vật liệu mang tính vật chất hữu hạn của mình.
(Nhóm biên soạn)

1

Những đặc điểm nào cho thấy bài viết là một văn bản nghị luận chứ không phải
văn bản thông tin về một tác phẩm nghệ thuật?

2

Nêu tính đặc thù của những bằng chứng được sử dụng trong bài viết.

3

Để viết văn bản nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật, người viết phải đảm bảo
được những điều kiện gì?

Thực hành viết

Chuẩn bị viết

Đề tài viết của kiểu bài này rất rộng vì nghệ thuật là một lĩnh vực bao gồm nhiều ngành
khác nhau, trong đó có sáng tác ngôn từ (nghệ thuật ngôn từ). Bạn đã từng nhiều lần viết
văn bản nghị luận về một tác phẩm văn học, vì vậy, ở đây, nên chọn viết về một tác phẩm
thuộc các loại hình sáng tác khác như: điện ảnh, âm nhạc, điêu khắc, hội hoạ, nhiếp ảnh nghệ
thuật,... Về điện ảnh, có thể viết về một bộ phim "bom tấn" hay bộ phim từng đoạt được
những giải thưởng danh giá, hoặc đơn giản chỉ là bộ phim bạn đã xem và có ấn tượng thực sự
sâu sắc. Về âm nhạc, có thể viết về một ca khúc hay video clip của nhạc sĩ bạn mến mộ hoặc
ca khúc, video clip hiện gây được dư luận sôi nổi trong giới trẻ. Về nghệ thuật tạo hình, bạn có
thể viết về một tượng đài mình từng nhiều lần viếng thăm hay về bức tượng, bức tranh khiến
bạn xúc động khi gặp trong viện bảo tàng, trong các triển lãm,...

Danh mục tác phẩm bạn biết có thể rất phong phú nhưng chỉ nên chọn viết về tác phẩm
nào bạn có đủ thông tin (qua tra cứu, tìm hiểu). Đặc biệt, đó là tác phẩm bạn đã có cuộc tiếp
xúc trực tiếp. Bạn cũng nên chú ý tới những tác phẩm nghệ thuật có nhiều mối liên hệ với
những văn bản văn học bạn đã học, đã đọc, để khi viết, bạn có thể huy động được nhiều kiến
thức vốn có (phim được dựng theo một tác phẩm văn học, ca khúc có phần lời là một bài thơ,
tranh về một hình tượng văn học,...).

Gợi một số tác phẩm có thể được chọn làm đề tài viết:
Phim: các bộ phim được giải Ốt-xca (Oscar) (của Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật
Điện ảnh Hoa Kỳ), giải Bông sen vàng (của Liên hoan phim Việt Nam), giải Cánh diều vàng
(của Hội Điện ảnh Việt Nam); tác phẩm âm nhạc: ca khúc, video clip được yêu chuộng của
giới trẻ; tác phẩm nghệ thuật tạo hình: một số tượng đài hay pa-nô-ra-ma (panorama)
được đặt, thực hiện tại các khu di tích lịch sử – văn hoá nổi tiếng, các bức tranh được Nhà nước
Việt Nam công nhận là Bảo vật quốc gia,...

Tìm ý, lập dàn ý

Tìm ý

Có thể đặt ra các câu hỏi như sau để tìm ý:

Tác phẩm của ai, tên là gì, được hoàn thành trong bối cảnh và thời điểm nào? (Riêng với
tác phẩm điện ảnh, cần biết được tên đạo diễn, tên tác giả kịch bản cùng ê-kíp làm phim, các
diễn viên chính, diễn viên phụ,...)
Tác phẩm đã được giới chuyên môn và công chúng nghệ thuật đánh giá, đón nhận như
thế nào? (Có thể nói về số lượng các bài phê bình; doanh thu – đối với tác phẩm điện ảnh;
lượng an-bum phát hành và việc chọn làm tiết mục biểu diễn – với ca khúc; lượt người xem
với tác phẩm điêu khắc, hội hoạ;...)
Nội dung tác phẩm để cập vấn đề gì? (Với tác phẩm điện ảnh, cần tóm tắt được cốt
truyện theo kịch bản; với ca khúc hay tác phẩm tạo hình, cần nói được đề tài, chủ đề.)
Tác phẩm được sáng tác theo phong cách hoặc trường phái nào, bằng chất liệu gì?
(Ý hỏi sau dành riêng cho tác phẩm điêu khắc, hội hoạ thuộc nghệ thuật tạo hình.)
Có thể nói đến thành công và hạn chế nào của tác phẩm về các mặt nội dung và
nghệ thuật thể hiện? (Đưa lại được cái nhìn độc đáo về con người, đời sống như thế nào?
Kết cấu, bố cục đã hợp lí chưa? Việc vận dụng chất liệu (với ca khúc) có phù hợp không? Còn
có điểm nào chưa thực sự đạt được hiệu quả mong muốn?...)
Tác phẩm ghi được dấu ấn gì trong đời sống văn hoá – tinh thần của cộng đồng?

Lưu ý

Mặc dù cần nêu được một số thông tin cơ bản về tác phẩm nhưng công việc trọng
tâm vẫn là triển khai phân tích và đánh giá về tác phẩm đó, tránh biến văn bản nghị luận
thành một văn bản thông tin đơn thuần.

Lập dàn ý

Nêu được các thông tin cơ bản về tác phẩm (tác giả, tên tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác, sự đón nhận của công chúng,...).

Nhìn nhận khái quát về tác phẩm (tóm tắt cốt truyện phim; nêu chủ đề và ấn tượng
ban đầu về tiết tấu, giai điệu, ca từ của ca khúc; diễn tả bằng lời văn về hình tượng đã được
thể hiện bằng chất liệu riêng của tác phẩm tạo hình – điều có thể thấy rõ trong bài viết
tham khảo ở trên;...)

Phân tích từng khía cạnh nổi bật của tác phẩm với lí lẽ và bằng chứng rõ ràng, đầy đủ.
Nêu những điều mà người xem, người nghe cần chuẩn bị để có được sự thưởng thức
trọn vẹn, nhiều hứng thú đối với tác phẩm.

Đánh giá chung về tác phẩm (thành công chính và những khiếm khuyết theo quan điểm nhìn nhận của người viết).

Viết

Dựa vào dàn ý đã lập để viết. Cần triển khai từng luận điểm thành các đoạn văn đảm bảo
được yêu cầu về mạch lạc và liên kết. Tuỳ loại hình nghệ thuật của tác phẩm mà đưa ra các
bằng chứng phù hợp để phân tích. Chú ý dùng giọng văn có tính biểu cảm, thể hiện được
niềm hứng thú và xúc động của người viết đối với tác phẩm.

Chỉnh sửa, hoàn thiện

Gạch bỏ những từ, những câu trùng lặp, thiếu thông tin hoặc thông tin chung chung.

  • Kiểm tra sự liền mạch giữa các ý, các đoạn. Bổ sung các phương tiện liên kết hợp lí nếu

thấy cần thiết.

  • Đính chính các thông tin chưa chính xác (nếu có) về tác phẩm sau khi đối chiếu cẩn thận

với các nguồn tài liệu đáng tin cậy.

  • Sửa lại các lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu (nếu có).

NÓI VÀ NGHẸT NỐI TRI NỔI TRỊ THỨ Giới thiệu một tác phẩm nghệ thuật (tiếp theo)

Yêu cầu

  • Nêu được những thông tin chính xác, cô đọng về tác phẩm (tên tác phẩm, tác giả,

thể loại, thời điểm sáng tác, sự đón nhận của công chúng và các nhà chuyên môn,...).

  • Nói rõ lí do chọn giới thiệu tác phẩm (xét từ góc độ cá nhân hay từ ý nghĩa của

hoạt động giới thiệu).

  • Trình bày được cảm nhận, đánh giá của người nói về giá trị tác phẩm với những dẫn giải

thuyết phục.

  • Nêu được những đề xuất có ý nghĩa đối với việc hình thành và phát triển năng lực

thưởng thức, cảm thụ nghệ thuật của người xem, người nghe nói chung.

Chuẩn bị nói

Lựa chọn đề tài

Đề tài của bài nói có thể cũng là đề tài bài viết mà bạn đã thực hiện ở bài học này. Ngoài
những gì từng được hướng dẫn, bạn có thể chọn nói về tác phẩm có thể khơi dậy ở người
tiếp nhận thái độ sống tích cực, gợi lên nhiều suy nghĩ về vấn đề lựa chọn và hành động
theo định hướng giá trị của bài học. Những tác phẩm của nghệ thuật cách mạng, từ điện ảnh
đến âm nhạc và nghệ thuật tạo hình thuộc số những đề tài nói thích hợp. Đây là cơ hội để
bạn học hỏi những kinh nghiệm sống của thế hệ cha anh được kết tinh trong các tác phẩm
nổi tiếng một thời, từ đó, biết xác định bước đường tương lai phù hợp với những điều kiện
mới của cuộc sống.

Bên cạnh việc chú ý những tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng, bạn hoàn toàn có thể chọn giới
thiệu một tác phẩm còn bị “khuất lấp", chưa được nhiều người tiếp cận, miễn sao phải thuyết
phục được người nghe về giá trị của nó, qua đó, gợi mở một cách nhìn nhận, đánh giá mới
không chỉ về một tác phẩm nghệ thuật cụ thể mà còn về nghệ thuật nói chung.

Tìm ý và sắp xếp ý

  • Nếu tiếp tục chọn giới thiệu về tác phẩm nghệ thuật đã được bàn tới trong bài viết trước

đó, cần rút gọn bài viết thành một dàn ý, đánh dấu những ý cơ bản sẽ trình bày.
Nếu chọn giới thiệu về một tác phẩm nghệ thuật khác, cần xây dựng hệ thống ý nhằm
làm rõ các thông tin: tên tác phẩm; tác giả; nơi có thể xem, nghe tác phẩm; điểm đặc sắc
của tác phẩm về nội dung và hình thức; thông điệp toát ra từ tác phẩm; ý nghĩa của thông
điệp; đóng góp của tác phẩm cho đời sống nghệ thuật, đời sống tinh thần chung của
cộng đồng;...

  • Khi diễn đạt ý, cần quan tâm sử dụng những từ ngữ mang tính chuyên môn (thuật ngữ)

để gọi tên các bộ phận cấu thành của tác phẩm hay nói về kĩ thuật thực hiện tác phẩm theo
từng loại hình nghệ thuật khác nhau (phim: bối cảnh, nhịp độ, diễn xuất, đồng hiện, chuyển
cảnh, góc quay,...; ca khúc: mô-típ, chất liệu, tiết tấu, giai điệu,...; tượng, tranh: bố cục, hình khối,
gam màu, hoà sắc,...).

Thực hành nói

Mở đầu: Nêu tên tác phẩm và loại hình nghệ thuật của tác phẩm được giới thiệu; nói rõ
các điều kiện đưa đến sự lựa chọn giới thiệu tác phẩm.
Triển khai: Trình bày các thông tin chung về tác phẩm (tác giả, thời điểm và hoàn cảnh
sáng tác, dư luận,...); phân tích một số nét đặc sắc của tác phẩm theo cảm nhận và quan điểm
cá nhân.
Kết luận: Đánh giá tổng quát về giá trị của tác phẩm và nêu hướng tiếp cận phù hợp đối
với tác phẩm.

Trao đổi

Người nói
Làm rõ những điều người nghe
muốn biết thêm về tác phẩm.
Bảo vệ hoặc điều chỉnh những
đánh giá về tác phẩm qua đối
thoại với người nghe.
Thể hiện thái độ tiếp thu các
góp một cách nghiêm túc,
chân thành.
Người nghe
Bày tỏ sự quan tâm về tác phẩm được giới thiệu.
Nêu những điều muốn biết thêm về tác phẩm.
Bổ sung hoặc đính chính thông tin về tác phẩm
căn cứ vào thực tế giới thiệu của người nói.
Trình bày cách nhìn nhận khác về tác phẩm trên
tinh thần đối thoại tích cực.
Nêu những điểm đồng tình hoặc chưa đồng tình
với cách giới thiệu của người nói.

Tham khảo các nội dung được gợi ý trong bảng sau để tự đánh giá và đánh giá về bài nói:

STT
| Nội dung đánh giá
| Đạt
| Kết quả
Chưa đạt

1
| Chọn được tác phẩm nghệ thuật có khả năng gây nhiều
hứng thú cho người nghe đề giới thiệu.
2
| Nêu được các thông tin cơ bản về tác phẩm.

3
| Trình bày được rành mạch các ý kiến đánh giá của
cá nhân về tác phẩm.
4
| Tim được hình thức giới thiệu hấp dẫn, phù hợp với
tính chất, đặc điểm của tác phẩm.

5
| Nêu được bài học có ý nghĩa đối với việc tiếp nhận
nghệ thuật nói chung.

6
| Thể hiện được sự tương tác tích cực với người nghe.

Củng cố, mở rộng

1

So sánh những vẻ đẹp của lựa chọn và hành động được thể hiện trong hai văn bản
Bài ca ngất ngưởng (Nguyễn Công Trứ) và Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu).

2

Nêu định hướng giá trị toát lên từ các văn bản đọc trong bài. Điều gì có thể tạo nên sự kết
nối giữa các văn bản, mặc dù chúng không cùng loại, thể loại, lại được viết ra trong những
bối cảnh thời đại khác nhau?

3

Tìm đọc thêm những văn bản văn học hoặc nghị luận có để cập chủ để lựa chọn và hành
động. Ghi chép khái quát những bài học mà bạn rút ra được cho mình từ những văn bản đó.

4

Sưu tầm những bài viết về các tác phẩm nghệ thuật mà bạn yêu thích và viết về một số
tác phẩm đã gây cho bạn ấn tượng sâu sắc.

5

Tổ chức thuyết trình trong nhóm học tập về một tác phẩm nghệ thuật đương đại đang
tạo được tiếng vang trong dư luận (tác phẩm điện ảnh; tác phẩm âm nhạc; tác phẩm
điêu khắc, hội hoạ, đồ hoạ ...).

Xem bản PDF nguyên trang sách: Ngữ văn 11 tập 2 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 64–119).