Yêu cầu cần đạt
- Hệ thống hoá được kiến thức về các loại, thể loại văn bản đọc, kiến thức tiếng Việt và kiến thức về các kiểu bài viết, bài nói đã được học, thực hành ở Ngữ văn 9, tập hai.
- Vận dụng được kiến thức và kĩ năng đã học, rèn luyện trong cả năm học để giải quyết các bài tập tổng hợp.
Ôn tập kiến thức
1.
Trong Ngữ văn 9, em đã được học các tác phẩm văn học Việt Nam gồm nhiều thể loại, được sáng tác trong các thời kì, bối cảnh khác nhau. Vận dụng tri thức văn học và hiểu biết về hoàn cảnh lịch sử, hãy lập bảng tóm tắt hoặc sơ đồ liệt kê các tác giả, tác phẩm tiêu biểu trong mỗi thời kì. Tham khảo mẫu bảng sau:
Đặc điểm
Tác giả
Tác phẩm
Thể loại
Thời kì văn học
Trung đại
(thế kỉ X – cuối thế kỉ XIX)
Hiện đại
(đầu thế kỉ XX - nay)
2.
Truyện trinh thám có đặc điểm gì khác biệt so với truyện truyền kì và truyện thơ Nôm? Hãy lập bảng so sánh đặc điểm của các thể loại này. Tham khảo mẫu bảng sau:
Đặc điểm
Nguồn gốc thể loại
Kiểu nhân vật
Cốt truyện
Thể loại
Truyện truyền kì
Truyện thơ Nôm
Truyện trinh thám
3.
Lập danh mục và tóm tắt đặc điểm nghệ thuật, nội dung của các bài thơ đã học ở lớp 9. Tham khảo mẫu danh mục sau:
Nghệ thuật – Nội dung
Thể thơ
Đề tài, cảm hứng chủ đạo
Nét độc đáo về nghệ thuật và nội dung
Tên tác phẩm - Tác giả
4.
Nêu ngắn gọn đặc điểm của các văn bản thông tin và văn bản nghị luận trong các bài học của Ngữ văn 9, tập hai.
5.
Tóm tắt các kiến thức tiếng Việt mới mà em đã được học trong các bài học của Ngữ văn 9, tập hai.
6.
Nêu các kiểu bài viết, yêu cầu của từng kiểu bài mà em đã thực hành ở Ngữ văn 9, tập hai. Hãy lập một sơ đồ phù hợp để tóm tắt những nội dung đó.
7.
Nêu những đề tài nói và nghe mà em đã thực hiện trong học kì II. Em thực hiện thành công nhất với đề tài nào? Do đâu em thành công với bài nói đó?
Luyện tập tổng hợp
Đọc
• Đọc văn bản
Mây đi vắng trời xanh buồn rộng rãi,
Sông im dòng đọng nắng đứng không trôi.
Đa ngâm rễ buông mình chờ uể oải
Ngọn gió về, không một chút tăm hơi.
Trong quán nước ẩn hàng bên giậu duối
Dăm ba người về chợ ghé vào qua;
Buồn vắng lặng họ ngồi nghe vòi vọi
Mấy tiếng gà trưa gáy xóm xa xa...
Ngoài đê nắng một ông già xuống huyện,
Dắt ngựa chờ rong tiếng nhạc đồng mong.
Nhưng trưa vắng không một thuyền ghé bến,
Không một chèo khua nắng đọng trên sông.
(Tuyển tập Anh Thơ (thơ – văn xuôi), NXB Văn học, Hà Nội, 1987, tr. 40–41)
• Thực hiện các yêu cầu
Chọn phương án đúng (làm vào vở)
Câu 1.
Bài thơ Bến đò trưa hè thuộc thể thơ nào?
A. Thơ sáu chữ
B. Thơ bảy chữ
C. Thơ tám chữ
D. Thơ tự do
Câu 2.
Những yếu tố nào giúp em nhận biết thể thơ của bài thơ Bến đò trưa hè?
A. Số chữ trong các dòng thơ
B. Số khổ trong bài thơ
C. Cách ngắt nhịp của dòng thơ
D. Cách gieo vần trong bài thơ
Câu 3.
Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ Mây đi vắng trời xanh buồn rộng rãi.
A. Đảo ngữ
B. So sánh
C. Nói giảm nói tránh
D. Nhân hoá
Câu 4.
Dòng nào liệt kê các từ láy đã được dùng trong bài thơ?
A. Rộng rãi, uể oải, vắng lặng, tăm hơi
B. Rộng rãi, vắng lặng, vòi vọi, uể oải
C. Rộng rãi, uể oải, vòi vọi, tăm hơi
D. Rộng rãi, uể oải, vòi vọi, xa xa
Câu 5.
Dòng nào nêu đúng nội dung cảm xúc của bài thơ?
A. Cảm xúc phấn chấn trước cảnh thiên nhiên và cuộc sống
B. Cảm xúc đượm buồn trước cảnh sắc nơi thôn dã
C. Cảm xúc bị thiết trước thiên nhiên và đời sống con người
D. Cảm xúc buồn thương trước cảnh sắc nơi thôn dã
• Trả lời câu hỏi
Câu 1.
Bài thơ có bố cục như thế nào?
Câu 2.
Bức tranh phong cảnh làng quê Việt Nam một thời được khắc hoạ rõ nét nhất qua những hình ảnh nào trong bài thơ?
Câu 3.
Cảnh thiên nhiên nơi bến đò trưa hè gợi cho em ấn tượng gì?
Câu 4.
Em có nhận xét gì về mối quan hệ giữa đặc điểm của bức tranh thiên nhiên và nhịp điệu đời sống của con người trong bài thơ?
Câu 5.
Tình cảm của nhà thơ đối với thiên nhiên và đời sống con người được thể hiện như thế nào trong bài thơ?
Viết
Viết đoạn văn (khoảng 10 - 15 câu) trình bày cảm nghĩ của em về bài thơ Bến đò trưa hè ở phần Đọc.
Nói và nghe
Tiến hành một cuộc phỏng vấn ngắn về một trong những vấn đề sau:
Khi xa quê hương, điều gì sẽ trở thành hành trang không thể thiếu trong tâm hồn mỗi con người?
- Trở thành công dân toàn cầu trong một thế giới hội nhập và đầy biến động có làm chúng ta lãng quên truyền thống và phai nhạt bản sắc dân tộc?
Thơ có còn sức thu hút với bạn đọc trong thời đại của công nghệ số và các phương tiện nghe - nhìn?
• Đọc văn bản
(1) Có hàng trăm nhà hoạt động nhân quyền và xã hội không chỉ lên tiếng về quyền con người, mà còn đang đấu tranh để đạt được những mục tiêu về hoà bình, bình đẳng và giáo dục. Hàng nghìn người đã bị chết, hàng triệu người bị thương bởi những kẻ khủng bố. Tôi chính là một người trong số đó.
Vì thế tôi đứng đây... một cô gái, giữa mọi người. Tôi không chỉ nói cho riêng mình mà còn cho cả những người không được lên tiếng. Họ cần được lắng nghe. Những con người ấy đã đấu tranh vì quyền được sống trong hoà bình, quyền được đối xử một cách tôn trọng, quyền được bình đẳng về cơ hội. Và đặc biệt là quyền được học tập của mình.
(2) Các bạn thân mến, vào ngày 9 tháng 10 năm 2012, những kẻ khủng bố đã bắn vào bên trái trán tôi. Họ cũng bắn vào các bạn của tôi. Họ nghĩ rằng súng đạn sẽ làm cho chúng tôi im lặng, nhưng họ đã thất bại. Từ sự im lặng đó đã vang lên hàng ngàn tiếng nói. Những kẻ khủng bố tưởng rằng họ sẽ thay đổi được mục đích của tôi và ngăn chặn khát vọng của tôi. Nhưng không có gì thay đổi trong cuộc sống của tôi, ngoại trừ một điều: sự yếu đuối, sợ hãi và tuyệt vọng đã không còn tồn tại trong tôi. [...]
(3) Anh chị em thân mến! Khi nhìn thấy bóng tối, chúng ta nhận ra tầm quan trọng của ánh sáng. Khi phải câm lặng, chúng ta nhận ra tầm quan trọng của tiếng nói. Tương tự, khi chúng tôi ở Xơ-oát (Swat), miền Bắc Pa-ki-xtan, chúng tôi nhận ra tầm quan trọng của cây bút và quyển sách khi nhìn thấy súng đạn. Câu ngạn ngữ “Ngòi bút mạnh hơn gươm giáo” là rất đúng. Những kẻ cực đoan sợ sách bút. Sức mạnh của giáo dục khiến họ run sợ. Họ sợ tiếng nói của phụ nữ. Sức mạnh của tiếng nói phụ nữ khiến họ sợ hãi. Đây chính là lí do họ đã giết 14 sinh viên trường y vô tội trong cuộc tấn công mới đây ở Que-ta (Quetta). Đây cũng chính là lí do họ giết hại nhiều nữ giáo viên và các nhân viên tiêm vắc-xin sởi ở Khi-bo Pa-khun-kho-ta-va (Khyber Pakhunkhtawa) và FATA(1). Và cũng là lí do họ đánh bom trường học mỗi ngày. Bởi vì họ đã và đang sợ sự thay đổi, sợ sự bình đẳng mà chúng tôi sẽ đem đến cho xã hội của mình. [...]
(4) Giáo dục cần hoà bình. Nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là Pa-ki-xtan và Áp-ga-ni-xtan (Afghanistan), nạn khủng bố, chiến tranh và xung đột khiến trẻ em không thể đến trường. Chúng tôi thực sự mệt mỏi với những cuộc chiến này. Phụ nữ và trẻ em đang phải chịu đau khổ về nhiều mặt ở nhiều nơi trên thế giới. Ở Ấn Độ, trẻ em nghèo vô tội là nạn nhân của lao động trẻ em. Nhiều trường học bị phá huỷ ở Ni-giê-ri-a (Nigeria). Người dân ở Áp-ga-ni-xtan bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa cực đoan suốt nhiều thập kỉ. Các bé gái phải làm việc của các bà nội trợ và bị buộc phải lấy chồng từ sớm. Nghèo đói, thiếu tri thức, bị đối xử bất công và bị tước đoạt các quyền con người cơ bản là những vấn nạn chính mà cả nam giới và phụ nữ phải đối mặt. [...]
(5) Anh chị em thân mến! Đây chính là lúc chúng ta cần lên tiếng. Vì vậy hôm nay, chúng tôi kêu gọi các nhà lãnh đạo thế giới thay đổi các chính sách chiến lược vì lợi ích của hoà bình và phồn vinh.
Chúng tôi kêu gọi các nhà lãnh đạo thế giới rằng mọi thoả thuận cần phải bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em. Một thoả thuận đi ngược lại các quyền của phụ nữ là không thể chấp nhận. Chúng tôi kêu gọi tất cả các chính phủ đấu tranh chống nạn khủng bố và bạo lực, để bảo vệ trẻ em khỏi sự tàn bạo và xâm hại.
(Ma-la-la Y-u-xa-pho-dây, Phát biểu tại Hội nghị về thanh niên của Liên hợp quốc, https://awpc.cattcenter.iastate.edu/2018/03/05/un-speech-on-youth-education-july-12-2013/, Ngân Hà - Vương Anh lược dịch)
Thực hiện các yêu cầu
• Chọn phương án đúng (làm vào vở)
Câu 1.
Xác định loại văn bản của đoạn trích.
A. Văn bản thông tin
B. Văn bản nghị luận
C. Văn bản văn học
Câu 2.
Vấn đề chính mà bài phát biểu đề cập là gì?
A. Quyền con người của cả nam và nữ nói chung
B. Quyền bình đẳng về cơ hội của phụ nữ trong các lĩnh vực
C. Quyền được sống trong hoà bình của mọi người
D. Quyền được học tập và bảo vệ của phụ nữ và trẻ em trong hoà bình
Câu 3.
Người trình bày vấn đề xác định tư cách, vị thế nào để nêu ý kiến?
A. Một cá nhân bị xâm phạm nhân quyền cần cất lên tiếng nói của mình.
B. Một người đại diện cho tất cả những người cần được bảo vệ nhân quyền.
C. Một người phụ nữ bị áp bức, bị tước đoạt quyền học tập cần bảo vệ chính mình.
D. Một người dân Pa-ki-xtan bị xâm phạm nhân quyền, cần đấu tranh.
Câu 4.
Mục đích chính của người nói được thể hiện trong đoạn trích trên là gì?
A. Nêu rõ trước Liên hợp quốc vấn đề vi phạm nhân quyền đối với phụ nữ và trẻ em và sự cần thiết phải hành động để bảo vệ những quyền đó
B. Trình bày rõ vấn đề quyền được học tập của phụ nữ và trẻ em đang bị xâm phạm, kêu gọi hành động để bảo vệ quyền đó
C. Kêu gọi các nhà lãnh đạo thế giới và Liên hợp quốc hành động, thay đổi chính sách vì quyền được học tập và bảo vệ của phụ nữ và trẻ em
D. Tố cáo thực trạng xâm phạm quyền học tập và quyền sống của phụ nữ và trẻ em ở các nước chậm phát triển trên thế giới
Câu 5.
Xác định biện pháp tu từ thể hiện ở các từ in đậm trong câu: "Khi nhìn thấy bóng tối, chúng ta nhận ra tầm quan trọng của ánh sáng”.
A. So sánh
B. Hoán dụ
C. Nhân hóa
C. Ẩn dụ
• Trả lời câu hỏi
Câu 1.
Đối tượng hướng tới để tác động của văn bản là những người hoặc tổ chức nào?
Câu 2.
Người trình bày đã dùng những yếu tố nào để nêu thông tin khách quan, bày tỏ ý kiến và tác động tới đối tượng cần thuyết phục?
Câu 3.
Vấn đề cần trình bày được triển khai trong các phần của văn bản như thế nào? Nêu rõ mục đích và ý chính của từng phần.
Câu 4.
Trong phần 3 của văn bản, tác giả cho rằng: "Khi nhìn thấy bóng tối, chúng ta nhận ra tầm quan trọng của ánh sáng”. Theo em, vấn đề được nêu như vậy là đúng hay sai? Vì sao?
Lựa chọn một trong những vấn đề sau để viết bài văn nghị luận xã hội:
Việc học tập có thực sự cần thiết và có thể đem lại những lợi ích nào cho cuộc sống của mỗi trẻ em trên thế giới?
Vì sao mọi trẻ em trên thế giới cần được bảo vệ và học tập trong hoà bình?
Thảo luận với các bạn trong nhóm học tập về một trong những vấn đề sau:
Vì sao mọi trẻ em trên thế giới cần được bảo vệ và học tập trong hoà bình?
Giáo dục có thực sự làm thay đổi cuộc sống của mỗi con người?
Kết nối tri thức với cuộc sống
Xem bản PDF nguyên trang sách: Ngữ văn 9 tập 2 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 131–137).
