Yêu cầu cần đạt
- Nhận biết và phân tích được luận để, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng tiêu biểu
trong văn bản; mối liên hệ giữa luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng; vai trò
của luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong việc thể hiện luận để. - Biết nhận xét, đánh giá tính chất đúng và sai của vấn đề đặt ra trong văn bản; liên
hệ được ý tưởng, thông điệp trong văn bản với bối cảnh lịch sử, văn hoá, xã hội. - Phân biệt được cách trình bày vấn đề khách quan (chỉ đưa thông tin) và cách
trình bày chủ quan (thể hiện tình cảm, quan điểm của người viết). - Hiểu được nghĩa và cách dùng tên viết tắt các tổ chức quốc tế quan trọng (như:
UN, UNESCO, UNICEF, WHO, WB, IMF, ASEAN, WTO,...). - Viết được một bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết; trình bày được
giải pháp khả thi và có sức thuyết phục.
Bài
8
Lương trỉ là một ngọn đuốc mà người ta phải cố gắng
duy trì trong tình trạng cháy sáng.
Xa-mu-en Giôn-xơn (Samuel Johnson)
Giới thiệu bài học
Trước nhiều tình huống trong cuộc sống của cá nhân và cộng đồng, chúng ta rất
cần sự dẫn dắt của tiếng nói lương tri. Đó là tiếng nói của lí trí sáng suốt, tình cảm
chân thành; tiếng nói của lẽ phải và công chính, của tinh thần trách nhiệm cao.
Tiếng nói đó có khả năng đánh thức phần tốt đẹp nhất trong mỗi người, hướng
con người đến hành động đúng đắn.
Hai văn bản nghị luận trong bài là những tiếng nói mạnh mẽ, đề cập vấn đề
nóng hổi, hệ trọng, liên quan đến sự tồn vong của nhân loại. Với thái độ trân
trọng sự sống của con người, các tác giả đã nêu lên vấn đề hết sức thiết yếu,
dùng lí lẽ sắc bén và bằng chứng xác thực để viết nên những văn bản giàu sức
thuyết phục. Kết nối về chủ đề là bài thơ của một chí sĩ cách mạng, thể hiện sự
kì vọng về vai trò của tuổi trẻ đối với vận mệnh đất nước.
Trình bày được ý kiến về một sự việc có tính thời sự, nghe và nhận biết được tính
thuyết phục của một ý kiến; chỉ ra được những hạn chế (nếu có) như lập luận thiếu
lô-gíc, bằng chứng chưa đủ hay không liên quan.
Có tinh thần trách nhiệm đối với cộng đồng, đất nước và nhân loại; sẵn sàng
lên tiếng trước những vấn đề quan trọng, gay cấn.
Đọc
Tri thức ngữ văn
Thông tin khách quan và ý kiến chủ quan
Phân biệt thông tin khách quan và ý kiến chủ quan của người viết là yêu cầu quan
trọng đối với việc đọc hiểu văn bản nghị luận. Nó giúp người đọc kiểm tra, đánh giá
được độ tin cậy, thuyết phục của lập luận và từng bước phát triển tư duy phản biện.
Thông tin khách quan thường được thể hiện ở dạng bản tin, số liệu thống kê,
phát hiện của các nhà nghiên cứu, kết quả thí nghiệm,...
Ý kiến chủ quan thường được đánh dấu bằng những cách diễn đạt như: tôi nghĩ,
tôi tin, tôi cảm thấy, theo quan điểm của tôi, chúng tôi cần,....; hoặc các từ ngữ thể hiện
cảm xúc, tình cảm, nhận xét như: thích, ghét, thú vị, rất đáng ghi nhận, thật sự có giá trị....
Nghĩa và cách dùng tên viết tắt của các tổ chức quốc tế quan trọng
Trong các loại văn bản, ta có thể gặp tên một số tổ chức quốc tế được viết tắt bằng
cách dùng các chữ cái đầu tiên của các từ trong cụm từ tiếng Anh gọi tên tổ chức đó.
Ví dụ: ASEAN là tên viết tắt của Association of South East Asian Nations (Hiệp hội
các Quốc gia Đông Nam Á); WTO là tên viết tắt của World Trade Organization (Tổ chức
Thương mại Thế giới):... Trong tạo lập văn bản, việc sử dụng tên viết tắt của các tổ chức
quốc tế như vậy cần tuân theo một số quy định.
Văn bản đọc
VĂN BẢN 1. Đấu tranh cho một thế giới hoà bình, Ga-bri-en Gác-xi-a Mác-két
(Gabriel García Márquez)
VĂN BẢN 2. Biến đổi khí hậu – mối đe doạ sự tồn vong của hành tinh chúng ta,
(trích Phát biểu của Tổng Thư kí Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu), An-tô-ni-ô
Gu-tê-rét (António Guterres)
VĂN BẢN 3. Bài ca chúc Tết thanh niên, Phan Bội Châu
Văn bản 1
Trước khi đọc
Em hãy cho biết đất nước nào đã phải hứng chịu những quả bom nguyên tử đầu
tiên trên thế giới. Vì sao hằng năm ở đất nước đó, người ta vẫn tổ chức tưởng niệm
ngày bị ném bom nguyên tử?
Đọc văn bản
Đấu tranh cho một thế giới hoà bình"
Trích, GA-BRI-EN GÁC-XI-A MÁC-KÉT (2)
[...] Chúng ta đang ở đâu? Hôm nay ngày
, hơn 50 000 đầu đạn hạt nhân đã
được bố trí trên khắp hành tinh. Nói nôm na ra, điều
đó có nghĩa là mỗi người, không trừ trẻ con, đang
ngồi trên một thùng 4 tấn thuốc nổ: Tất cả chỗ đó
nổ tung lên sẽ làm biến hết thảy, không phải là một
lần mà là mười hai lần, mọi dấu vết của sự sống
trên Trái Đất. Nguy cơ ghê gớm đó đang đè nặng
lên chúng ta như thanh gươm Đa-mô-clét, về
lí thuyết có thể tiêu diệt tất cả các hành tinh đang xoay quanh Mặt Trời, cộng thêm bốn
hành tinh nữa, và phá huỷ thể thăng bằng của Hệ Mặt Trời. Không có một ngành khoa
học hay công nghiệp nào có được những tiến bộ nhanh ghê gớm như ngành công nghiệp
hạt nhân kể từ khi nó ra đời cách đây 41 năm, không có một đứa con nào của tài năng con
người lại có một tầm quan trọng quyết định đến như vậy đối với vận mệnh thế giới.
Theo dõi
Nhân loại đang đối mặt với nguy
cơ gì?
Theo dõi
Cách sử dụng lí lẽ để tác động đến
tình cảm và nhận thức của người
nghe, người đọc.
Niềm an ủi duy nhất trước tất cả những suy diễn kinh khủng đó là nhận thức
được rằng việc bảo tồn sự sống trên Trái Đất ít tốn kém hơn là “dịch hạch(4) hạt nhân.
(1) Nhan đề của văn bản được dịch là Thanh gươm Đa-mô-clét (Damocles). Đấu tranh cho một thế giới hoà bình là
nhan đề do nhóm tác giả biên soạn Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục, 2008 đặt lại. Văn bản trích tham luận do
Ga-bri-en Gác-xi-a Mác-kết, với tư cách là khách mời, đọc tại một hội nghị quốc tế họp tại Mê-hi-cô (Mexico) tháng
8 năm 1986 thời điểm cuộc chạy đua vũ trang giữa Liên Xô và Mỹ đã lên đến đỉnh điểm. Đây là hội nghị lần thứ
hai chống chạy đua vũ trang, đòi thủ tiêu vũ khí hạt nhân do nguyên thủ sáu nước: Ấn Độ, Mê-hi-cô, Thuỵ Điển,
Ác-hen-ti-na (Argentina), Hy Lạp, Tan-da-ni-a (Tanzania) tổ chức.
(2) Ga-bri-en Gác-xi-a Mác-két (1928–2014) là nhà văn nổi tiếng người Cô-lôm-bi-a (Columbia). Ông là tác giả của một
số cuốn tiểu thuyết như Trăm năm cô đơn (1967), Tướng quân giữa mê hồn trận (1989),.... Ngoài ra, ông còn viết một số
bài luận đề cập đến những vấn đề thời sự của thế giới. Năm 1982, Ga-bri-en Gác-xi-a Mác-két đã được trao giải Nô-ben
(Nobel) Văn học nhờ những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực văn học, đặc biệt là các tiểu thuyết và truyện ngắn có
sự kết hợp giữa hiện thực và huyền ảo nhằm phản ánh những vấn đề của cuộc sống ở vùng Mỹ Latinh.
(3) Thanh gươm Đa-mô-clét điển tích lấy từ một câu chuyện ngụ ngôn Hy Lạp cổ đại. (Tên nịnh thần Đa-mô-clét được
nhà vua cho ngồi vào ngai vàng và hưởng thụ sự sung sướng. Nhưng sau đó y mới biết có một thanh gươm sắc được
nhà vua cho treo lơ lừng ngay phía trên đầu y chỉ bằng một sợi lông đuôi ngựa; từ câu chuyện đó, điển tích này được
dùng với nghĩa: sự nguy hiểm, tai hoạ có thể xảy ra bất cứ lúc nào.)
) Dịch hạch: bệnh truyền nhiễm rất nguy hiểm, do một loại vi khuẩn từ bọ chét của chuột đã mắc bệnh truyền sang
người, khi thành dịch lây lan rất nhanh, đe doạ tính mạng nhiều người; ở đây ý nói vũ khí hạt nhân đe doạ loài người
như bệnh dịch hạch.
Chỉ do sự tồn tại của nó không thôi, cái cảnh tận thế tiềm tàng trong các bệ phóng cái
chết cũng đã làm tất cả chúng ta mất đi khả năng sống tốt đẹp hơn.
Năm 1981, UNICEF đã định ra một chương
trình để giải quyết những vấn đề cấp bách cho
500 triệu trẻ em nghèo khổ nhất trên thế giới.
Chương trình này dự kiến cứu trợ về y tế, giáo dục
sơ cấp, cải thiện điều kiện vệ sinh, và tiếp tế thực
phẩm, nước uống. Nhưng tất cả đã tỏ ra là một giấc mơ không thể thực hiện được, vì
tốn kém 100 tỉ đô la. Tuy nhiên số tiền này cũng chỉ gần bằng những chi phí bỏ ra cho
100 máy bay ném bom chiến lược B.1B của Mỹ và cho dưới 7000 tên lửa vượt đại châu.
Đánh giá
Cách nêu bằng chứng kèm phân tích,
so sánh có tác dụng gì?
Và đây là một ví dụ khác trong lĩnh vực y tế: Giá của 10 chiếc tàu sân bay 2) mang
vũ khí hạt nhân kiểu tàu Ni-mít (Nimitz), trong số 15 chiếc mà Hoa Kỳ dự định đóng
từ nay đến năm 2000, cũng đủ để thực hiện một chương trình phòng bệnh trong cũng
14 năm đó và sẽ bảo vệ cho hơn 1 tỉ người khỏi bệnh sốt rét và cứu hơn 14 triệu trẻ em,
riêng cho châu Phi mà thôi.
Một ví dụ trong lĩnh vực tiếp tế thực phẩm: Theo tính toán của FAO3, năm 1985,
người ta thấy trên thế giới có gần 575 triệu người thiếu dinh dưỡng. Số lượng ca-lo
trung bình cần thiết cho những người đó chỉ tốn kém không bằng 149 tên lửa MX...
Chỉ cần 27 tên lửa MX là đủ trả tiền nông cụ cần thiết cho các nước nghèo để họ có
được thực phẩm trong bốn năm tới.
Một ví dụ trong lĩnh vực giáo dục: Chỉ hai chiếc tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân là
đủ tiền xoá nạn mù chữ cho toàn thế giới.
[...] Một nhà tiểu thuyết lớn của thời đại chúng
ta đã đặt ra câu hỏi: Phải chăng Trái Đất chúng ta
chính là địa ngục của các hành tinh khác? Có lẽ sự
việc giản đơn hơn nhiều: Nó chỉ là một cái làng
nhỏ mà thánh thần đã bỏ quên ở ngoại vi vũ trụ.
Theo dõi
Cách bình luận của tác giả về
vấn đề.
Tuy nhiên, ý nghĩ dai dẳng cho rằng Trái Đất là nơi độc nhất có phép màu của sự
sống trong Hệ Mặt Trời, ý nghĩ đó đã đẩy chúng ta tới kết luận này, không thể khác
được: Chạy đua vũ trang là đi ngược lại lí trí.
Không những đi ngược lại lí trí con người mà còn đi ngược lại cả lí trí tự nhiên nữa.
[...] Từ khi mới nhen nhúm sự sống trên Trái Đất, đã phải trải qua 380 triệu năm
con bướm mới bay được, rồi 180 triệu năm nữa bông hồng mới nở, chỉ để làm đẹp mà
thôi. Cũng đã phải trải qua bốn kỉ địa chất), con người mới hát được hay hơn chim và
mới chết vì yêu. Trong thời đại hoàng kim này của khoa học, trí tuệ con người chẳng có
gì để tự hào vì đã phát minh ra một biện pháp, chỉ cần bấm nút một cái là đưa cả quá trình
vĩ đại và tốn kém đó của hàng bao nhiêu triệu năm trở lại điểm xuất phát của nó.
(1) UNICEF (viết tắt của United Nations International Children's Emergency Fund): Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc.
24) Tàu sân bay tàu chiến loại lớn chuyên dùng để chở máy bay, có sân bay để cho máy bay cất cảnh, hạ cánh.
FAO (viết tắt của Food and Agriculture Organization): Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc.
(4) Kì địa chất, đơn vị thời gian địa chất, bậc dưới của đại địa chất, dài từ hàng triệu đến hàng chục triệu năm.
Chúng ta đến đây để cố gắng chống lại việc đó, đem tiếng nói của chúng ta tham
gia vào bản đồng ca của những người đòi hỏi một thế giới không có vũ khí và một cuộc
sống hoà bình, công bằng. Nhưng dù cho tai hoạ có xảy ra thì sự có mặt của chúng ta
ở đây cũng không phải là vô ích.
[...] Tôi rất khiêm tốn nhưng cũng rất kiên
quyết đề nghị mở ra một nhà băng lưu trữ trí nhớ
có thể tồn tại được sau thảm hoạ hạt nhân. Để cho
nhân loại tương lai biết rằng sự sống đã từng tồn tại ở đây, bị chi phối bởi đau khổ và
bất công nhưng cũng đã từng biết đến tình yêu và biết hình dung ra hạnh phúc. Để cho
nhân loại tương lai hiểu điều đó và làm sao cho ở mọi thời đại, người ta đều biết đến
tên những thủ phạm đã gây ra những lo sợ, đau khổ cho chúng ta, đã giả điếc làm ngơ
trước những lời khẩn cầu hoà bình, những lời kêu gọi làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn,
để mọi người biết rằng bằng những phát minh dã man nào, nhân danh những lợi ích
ti tiện nào, cuộc sống đó đã bị xoá bỏ khỏi vũ trụ này.
Đánh giá
Cách kết thúc văn bản có gì độc đáo?
(G.G Mác-két, Thanh gươm Đa-mô-clét,
N.V địch, báo Văn nghệ, ngày 27-9-1986)
Sau khi đọc
Trả lời câu hỏi
1
1. Nêu luận đề của bài nghị luận. Từ luận để đó, tác giả triển khai thành những
luận điểm nào?
2
2. Chọn một luận điểm em cho là tiêu biểu, phân tích cách dùng lí lẽ, bằng chứng và
nói rõ vai trò của lí lẽ, bằng chứng trong việc làm nổi bật luận điểm đó.
3
3. Dựa vào nội dung văn bản và các thông tin giới thiệu, chú thích, cho biết văn bản
được viết ra trong bối cảnh nào của thế giới. Từ đó, nêu tầm quan trọng của vấn
đề được bàn luận.
4
4. Chiến tranh hạt nhân "không những đi ngược lại lí trí con người mà còn đi ngược lại
cả lí trí tự nhiên nữa” là ý kiến chủ quan hay thông tin khách quan? Để thuyết phục
người đọc tin vào điều đó, tác giả đã chọn cách triển khai đoạn văn như thế nào?
5
5. Khi bàn về vấn đề được nêu, Mác-két bộc lộ thái độ gì? Chỉ ra cách thể hiện thái
độ của tác giả.
6
6. Qua văn bản này, tác giả muốn truyền đi thông điệp gì? Trong tình hình hiện nay
của thế giới, thông điệp đó còn có ý nghĩa nữa không? Vì sao?
7
7. Đối tượng tác động của văn bản này và văn bản Đấu tranh cho một thế giới hoà bình
của Mác-két giống nhau như thế nào? Nêu ý nghĩa của sự giống nhau đó.
Viết kết nối với đọc
Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) trả lời câu hỏi: Phải chăng nhân loại không còn
cách gì để đối phó với tình trạng Trái Đất ngày càng nóng lên?
Thực hành tiếng Việt
Nghĩa và cách dùng tên viết tắt các tổ chức quốc tế quan trọng
Nhận biết tên viết tắt các tổ chức quốc tế,
nghĩa của tên viết tắt và cách sử dụng
1
1 Đọc văn bản Đấu tranh cho một
thế giới hoà bình, gặp tên viết tắt của
tổ chức quốc tế như các trường hợp
dưới đây, em cần làm gì? Vì sao phải
làm như vậy?
Theo tính toán của FAO, năm 1985,
người ta thấy trên thế giới có gần 575
triệu người thiếu dinh dưỡng.
Năm 1981, UNICEF đã định ra một
chương trình để giải quyết những
vấn đề cấp bách cho 500 triệu trẻ
em nghèo khổ nhất trên thế giới.
Trên sách báo, ta có thể gặp những tổ hợp chữ
cái viết hoa, ví dụ: UNESCO, EU, Đó chính
là tên viết tắt của các tổ chức quốc tế. Khi viết tắt,
người ta chỉ lấy chữ cái đầu của từ trong cụm từ
tiếng Anh chỉ tên tổ chức. Ví dụ, UNESCO viết đầy
đủ là United Nations Educational, Scientific and
Cultural Organization; EU viết đầy đủ là European
Union.... Việc viết tắt tên các tổ chức quốc tế như
vậy xuất phát từ những lí do:
Tiết kiệm thời gian khi tạo lập văn bản. Tên tổ
chức quốc tế viết đầy đủ sẽ dài, nhưng khi viết tắt,
chỉ cần rất ít chữ cái.
Thuận tiện và thể hiện tính chuyên nghiệp trong
trao đổi thông tin. Những người hoạt động trong
các lĩnh vực như ngoại giao, thương mại, báo chí,
nghiên cứu quốc tế.... sử dụng thường xuyên
cách viết này.
Tăng khả năng tìm kiếm thông tin liên quan đến
tổ chức quốc tế trên in-tơ-nét.
Nghĩa của tên viết tắt tổ chức quốc tế là nghĩa
của từng từ trong cụm từ đầy đủ tạo nên tên
của tổ chức đó. Ví dụ: UNESCO (United Nations
Educational, Scientific and Cultural Organization)
nghĩa là Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá
của Liên hợp quốc; EU (European Union) nghĩa
là Liên minh châu Nếu gặp tên viết tắt các
tổ chức quốc tế như vậy trong văn bản nhưng
không có chú thích, em cần tìm hiểu, tra cứu
thông tin trên in-tơ-nét hoặc hỏi những người hiểu
biết để nắm được nghĩa của nó.
2
2 Nhận xét việc sử dụng tên viết
tắt các tổ chức quốc tế trong đoạn
văn sau:
Việt Nam là một thành viên của
UN, luôn cam kết hoàn thành nghĩa
vụ với tổ chức này. Các cơ quan của
UN như UNICEF, UNESCO, UNDP,...
luôn đồng hành cùng Việt Nam
trong việc thực hiện những chương
trình quan trọng nhằm cải thiện đời
sống của con người.
Trong tạo lập văn bản, khi sử dụng tên viết tắt
các tổ chức quốc tế, cần lưu ý:
Tất cả các chữ cái trong tên viết tắt phải được
viết in hoa.
Viết đúng trật tự các chữ cái trong tên viết tắt
của tổ chức quốc tế.
Tên viết tắt của tổ chức quốc tế xuất hiện lần đầu
trong văn bản cần phải được chú thích (ghi đầy đủ
tên của tổ chức đó bằng tiếng Anh và tiếng Việt).
Chỉ sử dụng tên viết tắt của tổ chức quốc tế khi
cần thiết, không nên dùng quá nhiều trong văn bản.
3
3 Đặt 4 câu, mỗi câu có sử dụng
tên viết tắt của một tổ chức quốc tế
sau đây:
WTO
WB
ASEAN
WHO
Văn bản 2
Trước khi đọc
Biến đổi khí hậu đã gây tác hại như thế nào đến lao động sản xuất và sinh hoạt
của cư dân ở địa phương em? Vấn đề có nghiêm trọng không? Căn cứ vào đâu mà
em kết luận như vậy?
Đọc văn bản
Biến đổi khí hậu – mối đe doạ sự tồn vong của hành tinh chúng ta"
Trích Phát biểu của Tổng Thư kí Liên hợp quốc
về biến đổi khí hậu, AN-TÔ-NI-Ô GU-TÊ-RÉT(2)
Các bạn thân mến của hành tinh Trái Đất,
Cám ơn các bạn đã đến trụ sở Liên hợp quốc
ngày hôm nay. Tôi đã đề nghị các bạn đến đây để
nghe tiếng chuông báo động. Biến đổi khí hậu là
vấn đề hạn định thời đại chúng ta – và chúng ta
đang ở vào một thời điểm có tính hạn định. Chúng ta phải đối mặt với một mối đe doạ
trực tiếp đến sự tồn vong. Biến đổi khí hậu diễn biến nhanh hơn tốc độ của chúng ta – và
điều đó đã gây nên một quả bom âm thanh SOS(4 qua thế giới chúng ta. Nếu chúng ta
không thay đổi tiến trình đến năm 2020, chúng ta có nguy cơ làm mất đi thời điểm mà
chúng ta có thể tránh được một sự biến đổi khí hậu phi mã, với những hậu quả tàn khốc
đối với con người và toàn bộ hệ thống tự nhiên vẫn dung dưỡng chúng ta. Đó là lí
do vì sao, hôm nay, tôi kêu gọi các bạn về vai trò lãnh đạo – từ các nhà chính trị, từ các
doanh nghiệp và các nhà khoa học và từ công chúng ở mọi nơi. Chúng ta có các công cụ
để tiến hành các hành động của mình một cách hiệu quả. Cái chúng ta còn thiếu – thậm
chí là cả sau Thoả thuận Pa-ri là vai trò lãnh đạo và mong muốn làm điều cần thiết. [...]
Theo dõi
Cách nêu vấn đề và xác định tầm
quan trọng của vấn đề.
Cái khiến cho tất cả những chuyện này còn gây bối rối hơn đó là chúng ta đã được
cảnh báo. Các nhà khoa học đã nói cho chúng ta từ nhiều thập kỉ trước. Nói đi và nói
lại. Quá nhiều nhà lãnh đạo đã từ chối lắng nghe. Quá ít người đã hành động với tầm
nhìn mà khoa học đòi hỏi. Chúng ta nhìn thấy kết quả. Trong một số trường hợp,
(1) Nhan đề do người biên soạn đặt. Văn bản này là bài phát biểu của An-tô-ni-ô Gu-tê-rét, Tổng Thư kí Liên hợp quốc
tại cuộc họp Đại hội đồng Liên hợp quốc (ở Niu Oóc, Hoa Kỳ) năm 2018. Bài phát biểu gióng lên hồi chuông báo
động chính phủ các quốc gia vì họ đã làm ngơ quá lâu trước những lời kêu gọi khẩn thiết của các nhà khoa học về
tình trạng khí thải nhà kính tăng vọt, đẩy hành tinh của chúng ta tới bờ vực thẳm.
(2) An-tô-ni-ô Gu-tê-rêt sinh năm 1949, là nhà chính trị và ngoại giao người Bồ Đào Nha, từng giữ chức Thủ tướng
Bồ Đào Nha từ năm 1995 đến năm 2002. Năm 2017, ông được bầu làm Tổng Thư ki Liên hợp quốc.
3) Hạn định: mức giới hạn cần định trước.
( ) SOS: tín hiệu cấp cứu quốc tế, được chấp nhận và sử dụng rộng rãi trên toàn cầu; trong văn bản này có nghĩa là
cấp cứu, khẩn cấp.
5) Phi mã: ngựa chạy, ý nói là rất nhanh (nghĩa trong văn bản).
chúng rất gần với các kịch bản “trường hợp xấu nhất
Theo dõi
Các bằng chứng được sử dụng.
Ngọn núi phía trước chúng ta rất cao. Nhưng
nó không phải là không thể vượt qua. Chúng ta
biết cách để trèo qua nó. Nói một cách đơn giản,
chúng ta cần lắp phanh lên thứ khí nhà kính phát
thải gây nguy hại và lèo lái các tác động khí hậu. Chúng ta cần nhanh chóng thoát khỏi
sự phụ thuộc vào các nhiên liệu hoá thạch . Chúng ta cần thay thế chúng với năng
lượng sạch từ nước, gió và mặt trời. Chúng ta phải ngăn chặn nạn phá rừng, phục hồi
các cánh rừng bị xuống cấp và thay đổi phương thức canh tác. Chúng ta cần gắn kết
kinh tế tuần hoàn với việc sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên. [...]
Theo dõi
Cách chuyển luận điểm và nội dung
được bàn ở luận điểm.
Giờ đây chúng ta đang đứng ở ngã tư của sự
sinh tồn. Nếu chúng ta chọn được đúng đường -
con đường hợp lẽ duy nhất – chúng ta sẽ phải tập
trung toàn bộ sức mạnh của kĩ năng con người.
Nhưng kĩ năng đã có rồi và đang cho ta các giải pháp. Và vì vậy, các bạn thân mến,
một thông điệp trung tâm khác – công nghệ ở về phía chúng ta trong cuộc chiến nhằm
vào biến đổi khí hậu. Sự gia tăng năng lượng tái tạo là rất lớn. Ngày nay, nó đang đua
tranh với – thậm chí còn rẻ hơn – than đá và dầu mỏ, đặc biệt nếu như người ta tính
đến cái giá phải trả của sự ô nhiễm. [...]
Theo dõi
Giải pháp cho vấn đề và trách nhiệm
của các đối tượng.
(1) Chuỗi thức ăn: mô hình mô tả mối quan hệ giữa các loài sinh vật trong một hệ sinh thái, ở đó, sinh vật này sẽ ăn
sinh vật khác để có được nguồn dinh dưỡng nuôi sống cơ thể.
2 Nhiên liệu hoá thạch: các nguồn năng lượng được sản xuất từ tàn dư hữu cơ của các sinh vật đã chết và phân huỷ
trong hàng triệu năm trước như dầu mỏ, than đá, khí đốt,...
(3) Kinh tế tuần hoàn: mô hình kinh tế dựa trên chu trình khép kín, các chất thải được tải sử dụng, trở thành nguyên liệu
cho sản xuất, từ đó giảm được tác động tiêu cực đến môi trường, hệ sinh thái và sức khoẻ con người.
Đó đều là những bước tiến vô cùng quan trọng. Nhưng không đủ. Việc chuyển đổi
sang một tương lai sạch hơn, xanh hơn đòi hỏi phải tăng tốc. Chúng ta đang đứng trước
một thời điểm “bỏ lỡ là mất luôn thực sự. [...] Đó là một lí do khác để hành động
bổn phận về đạo đức. Các quốc gia giàu nhất chịu trách nhiệm nhiều nhất về khủng hoảng
khí hậu, nhưng các quốc gia nghèo nhất và các dân tộc và cộng đồng bình thường nhất lại
phải nhận những tác động trước nhất và tồi tệ nhất. Chúng ta đã thấy sự bất công này trong
chu kì hạn hán cực đoan và bão lụt, thậm chí còn dữ dội hơn diễn ra không ngừng và ngày
càng gia tăng. Phụ nữ và trẻ em gái là những đối tượng đặc biệt phải trả giá – không chỉ vì
cuộc sống của họ sẽ trở nên khó khăn hơn mà bởi vì, khi thảm hoạ xảy ra, phụ nữ và trẻ em
gái luôn phải gánh chịu nặng nề hơn. Các quốc gia giàu có do đó không chỉ cần cắt giảm
lượng khí phát thải mà còn phải làm nhiều hơn để đảm bảo rằng những người bình thường
nhất có thể phát triển khả năng phục hồi cần thiết để sống qua được những tổn hại mà các
khí phát thải đó gây ra. [...]
Đã đến lúc các nhà lãnh đạo của chúng ta thể hiện rằng họ quan tâm đến những người
mà họ nắm số phận trong tay. Chúng ta cần họ thể hiện rằng họ quan tâm đến tương lai – và
ngay cả hiện tại. Đó là lí do vì sao tôi xin phép được
nhấn mạnh tới sự đại diện của giới trẻ trong những
người nghe hôm nay. Điều cần thiết là xã hội
dân sự - thanh niên, các nhóm phụ nữ, khu vực tư
nhân, các cộng đồng tín ngưỡng, các nhà khoa học và các phong trào của những người dân
thường trên khắp thế giới – đòi các nhà lãnh đạo của họ phải vào cuộc. Như tôi đã được
Đặc phái viên về Thanh niên của tôi nhắc nhở. Đặc biệt, tôi kêu gọi vai trò lãnh đạo của
phụ nữ. Khi phụ nữ được trao quyền lãnh đạo, họ là những người biết hướng tới giải pháp.
Không gì quan trọng bằng tương lai của chúng ta, và số phận của nhân loại tuỳ thuộc vào
cách chúng ta ứng phó với sự thách thức của khí hậu. [...]
Theo dõi
Kêu gọi và nêu kế hoạch hành động.
Tôi kêu gọi tất cả các nhà lãnh đạo tới hội nghị thượng đỉnh đang được chuẩn bị
vào năm tới để báo cáo không chỉ về những gì họ đang làm, mà còn là những gì họ
dự tính sẽ làm khi họ họp lại vào năm 2020 tại hội nghị khí hậu của Liên hợp quốc, ở
đó các thoả thuận sẽ được thay đổi và chắc chắn được tăng cường một cách đầy tham
vọng. Và đó là lí do vì sao tôi kêu gọi xã hội dân sự, đặc biệt những người trẻ tuổi,
tham gia vào chiến dịch vì tác động khí hậu. Chúng ta hãy sử dụng năm tới cho các
quyết định có tính chuyển đổi trong các phòng họp, phòng VIP2) và các nghị viện (3)
trên khắp thế giới. Chúng ta hãy nêu các tầm nhìn của mình, thiết lập các liên minh
và làm cho các nhà lãnh đạo của chúng ta phải lắng nghe. Tôi cam kết cá nhân mình
Hội nghị thượng đỉnh: cuộc họp tập trung những nhà lãnh đạo quan trọng từ các quốc gia để thảo luận về các vấn
đề chính trị, kinh tế, an ninh hay các vấn đề toàn cầu khác.
2) VIP: viết tắt của cụm từ Very important Person, có nghĩa là người rất quan trọng VIP thường được sử dụng để chỉ
những người có địa vị, quyền lực, hoặc có vai trò quan trọng trong một cộng đồng hoặc sự kiện nào đó, về sau mở rộng
để chỉ những gì sang trọng phục vụ cho người hoặc sự kiện quan trọng, như phòng VIP, vẻ VIP....
3 Nghị viện: tổ chức lập pháp trong hệ thống chính trị của một số quốc gia (còn được gọi là quốc hội, đại hội đại
biểu hoặc hội đồng lập pháp) có nhiệm vụ thực hiện chức năng lập pháp và giám sát các hoạt động của chính phủ.
và toàn thể Liên hợp quốc sẽ tham gia vào nỗ lực này. Chúng tôi sẽ ủng hộ tất cả các
nhà lãnh đạo nào chấp nhận thách thức mà tôi đã vạch ra hôm nay. Các bạn thân mến,
không có thời gian để lãng phí nữa.
Như những vụ cháy rừng và các đợt nóng dữ dội trong mùa hè này đã cho thấy, thể
giới đang thay đổi trước mắt chúng ta. Chúng ta đang tiến đến bên bờ vực thẳm. Không
quá muộn để thay đổi chiều hướng này, nhưng mỗi ngày qua đi có nghĩa là thế giới lại
nóng lên một chút và cái giá chúng ta phải trả cho sự thụ động của mình lại tăng thêm.
Mỗi ngày chúng ta bỏ lỡ không hành động là một ngày chúng ta bước một chút gần
hơn tới cái số phận mà không ai trong chúng ta mong muốn – một số phận mà qua các
thế hệ sẽ cộng hưởng thành sự huỷ hoại đối với nhân loại và sự sống trên Trái Đất. Số
phận của chúng ta ở trong tay chúng ta. Thế giới trông chờ mỗi chúng ta chấp nhận sự
thách thức trước khi quá muộn. Tôi trông chờ vào tất cả các bạn.
Xin cảm ơn.
(An-tô-ni-ô Gu-tê-rét, Phát biểu của Tổng Thư kí Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, Huy Toàn địch,
in trong Những bài diễn văn làm thay đổi thế giới từ 1945 đến nay, Ca-lô Ba-tà (Carlo Batà) (Chủ biên)
NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2022, tr. 199-202)
Sau khi đọc
Trả lời câu hỏi
1
1. Luận đề của văn bản là gì? Những luận điểm nào đã được triển khai nhằm làm nổi
bật luận đề? Chỉ ra mối quan hệ giữa các luận điểm đó.
2
2. Phân tích một số ví dụ để thấy được cách tác giả sử dụng lí lẽ và bằng chứng để
làm sáng tỏ luận điểm.
3
3. Trong phần đầu của văn bản, tác giả cho rằng: "Chúng ta phải đối mặt với một
mối đe doạ trực tiếp đến sự tồn vong”. Theo em, vấn đề được nêu như vậy là
đúng hay sai? Vì sao?
4
4. Xác định vị thế xã hội của người viết khi trình bày ý kiến về vấn đề. Vị thế đó cho phép
tác giả thể hiện thái độ gì khi đối thoại?
5
5. Trong văn bản, những thông tin khách quan nào được tác giả nêu ra? Dựa vào đâu
em nhận biết điều đó?
6
6. Tác giả đã nêu những giải pháp gì cho vấn đềể chống biến đổi khí hậu hiện nay? Ai
là người có trách nhiệm thực thi các giải pháp đó?
Viết kết nối với đọc
Thực hành tiếng Việt
Lựa chọn câu đơn – câu ghép, các kiểu câu ghép
1
1 Xác định câu đơn và câu ghép trong đoạn văn sau:
Chúng ta đang ở đâu? Hôm nay ngày 8-8-1986, hơn 50 000 đầu đạn hạt nhân
đã được bố trí trên khắp hành tinh. Nói nôm na ra, điều đó có nghĩa là mỗi người,
không trừ trẻ con, đang ngồi trên một thùng 4 tấn thuốc nổ: tất cả chỗ đó nổ tung lên
sẽ làm biến hết thảy, không phải là một lần mà là mười hai lần, mọi dấu vết của sự
sống trên Trái Đất. Nguy cơ ghê gớm đó đang đè nặng lên chúng ta như thanh gươm
Đa-mô-clét, về lí thuyết có thể tiêu diệt tất cả các hành tinh đang xoay quanh Mặt Trời,
cộng thêm bốn hành tinh nữa, và phá huỷ thế thăng bằng của Hệ Mặt Trời.
(G.G Mác-két, Đấu tranh cho một thế giới hoà bình)
2
2 Các câu sau thuộc kiểu câu ghép nào? Phương tiện nào được dùng để nối các vế
của từng câu ghép?
a. Đứa trẻ thì ngây thơ, chỉ kể lại những điều mà đêm đêm mẹ thường dạy khi cha vắng
nhà; nó không thể phân biệt được giữa đùa với thật vì mới có ba tuổi đầu và tin lời mẹ.
(Nguyễn Đăng Na, Người con gái Nam Xương – một bị kịch của con người)
b. Những chiếc chân bàn lung lay trong lớp đã được đóng lại nhưng không ai đánh giá
đúng ý nghĩa đôi bàn tay khéo léo của Quỳnh.
(Trần Văn Toàn, Từ “Thằng quỷ nhỏ
3
3 Đọc đoạn văn sau và thực hiện nhiệm vụ nêu ở dưới:
Cái khiến cho tất cả những chuyện này còn gây bối rối hơn đó là chúng ta đã
được cảnh báo. Các nhà khoa học đã nói cho chúng ta từ nhiều thập kỉ trước. Nói đi
và nói lại. Quá nhiều nhà lãnh đạo đã từ chối lắng nghe. Quá ít người đã hành động
với tầm nhìn mà khoa học đòi hỏi. Chúng ta nhìn thấy kết quả. Trong một số trường
hợp, chúng rất gần với các kịch bản “trường hợp xấu nhất
Năm nay, lần đầu tiên, lớp băng dày quanh năm ở bắc Grin-lan bắt đầu tan vỡ. Sự
nóng lên đột ngột này ở Bắc Cực tác động đến mô hình khí hậu của phần bắc bán cầu.
Nạn cháy rừng kéo dài hơn và lan đi xa hơn. Một số đám cháy lớn đến mức chúng thổi
muội và tro khắp thế giới, nhuộm đen các khối băng trôi và các chỏm băng, khiến cho
chúng tan chảy càng nhanh hơn.
(A. Gu-tê-rét, Biến đổi khí hậu – mối đe doạ sự tồn vong của hành tinh chúng ta)
a
a. Chỉ ra các câu đơn và câu ghép trong đoạn văn.
b
b. So sánh khả năng biểu đạt nội dung của các câu ghép và các câu đơn trong
đoạn văn trên.
Văn bản 3
Đọc văn bản
Bài ca chúc Tết thanh niên
PHAN BỘI CHÂU
Dậy! Dậy! Dậy!
Bên án một tiếng gà vừa gáy,
Chim trên cây liền ngỏ ý chào mừng.
Xuân ơi xuân, xuân có biết cho chăng?
Thẹn cùng sông, buồn cùng núi, tủi cùng trăng.
Hai mươi năm lẻ) đã từng chua với xót.
Trời đất may còn thân sống sót,
Tháng ngày khuây khoả lũ đầu xanh(3).
Thưa các cô, các chị, lại các anh:
Đời đã mới, người càng nên đổi mới.
Mở mắt thấy rõ ràng tân vận hội,
Xúm vai vào xốc vác cựu giang sơn (4).
Đi cho êm, đứng cho vững, trụ cho gan.
Dây thành bại quyết ghe phen
Ai hữu chí từ nay xin gắng gỏi:
(1) Án bàn cao có mặt bản hẹp.
2 Hai mươi năm lẻ: số năm Phan Bội Châu bôn ba hoạt động ở nước ngoài.
(3) Đầu xanh: tóc xanh (chỉ thanh thiếu niên, người trẻ tuổi); trong thời gian bị giam lỏng ở Huế, mặc dù sống kham khổ,
thiếu thốn, Phan Bội Châu vẫn nuôi dạy con của một số đồng chí đã hi sinh.
(4) Cựu giang sơn: non nước cũ; các chỉ sĩ cách mạng đầu thế kỉ XX thường dùng cụm từ này để chỉ đất nước khi còn
có chủ quyền, đối lập với tình trạng đất nước bị thực dân Pháp đô hộ.
Ghe phen: có lúc.
Xếp bút nghiên mà tu dưỡng lấy tinh thần.
Đừng ham chơi, đừng ham mặc, đừng ham ăn,
Dựng gan óc lên đánh tan sắt lửa,
Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ,
Mới thế này là mới hỡi chư quân (1)
Chữ rằng: nhật nhật tân, hựu nhật tân ...
(Phan Bội Châu – Tác phẩm chọn lọc,
Trần Hải Yến giới thiệu và tuyển chọn, NXB Giáo dục Việt Nam, 2009, tr. 64-65)
Sau khi đọc
Phan Bội Châu (1867-1940) quê ở Nghệ An, là một
nhà cách mạng lớn – người luôn sục sôi tinh thần yêu nước
và khát vọng giải phóng dân tộc. Ông kết giao với nhiều
nhà cách mạng, từng bôn ba nhiều năm ở nước ngoài,
thành lập các tổ chức yêu nước, chống thực dân Pháp.
Di sản văn học của Phan Bội Châu rất phong phú, với
nhiều thể loại, nội dung chính là kêu gọi tinh thần yêu nước,
giải phóng dân tộc. Một số tác phẩm chính: Hải ngoại
huyết thư (1906), Ngục trung thư (1913), Trùng Quang
tâm sử (khoảng 1905-1914),...
Bài ca chúc Tết thanh niên được viết theo thể hát nói ( ), nằm trong lời đáp từ
của Phan Bội Châu, khi học sinh Trường Quốc học và Trường dòng ở Huế tổ chức
chúc thọ ông, ngày 29 tháng 01 năm 1927.
Trả lời câu hỏi
1
1. Cho biết bài thơ được viết trong hoàn cảnh nào của đất nước và tình cảnh nào của
tác giả. Dựa vào đâu em biết được những điều đó?
2
2. Nêu bố cục của bài thơ. Mạch cảm xúc của bài thơ thể hiện như thế nào qua
bố cục?
3
3. Phân tích tâm trạng của tác giả thể hiện trong bài thơ và nêu những đặc điểm của
lời thơ biểu đạt tâm trạng đó.
4
4. Bài thơ đã thể hiện kì vọng gì của tác giả đối với thế hệ trẻ lúc bấy giờ?
5
5. Đặt trong bối cảnh cuộc sống hôm nay, lời kêu gọi tuổi trẻ thể hiện trong bài thơ có
ý nghĩa như thế nào?
(1) Chứ quân, các người.
2) Nhật nhật tân, hựu nhật tân: theo sách Đại học (một trong những cuốn sách kinh điển của Trung Quốc thời xưa),
bài mình để ở thùng tắm của vua Thành Thang có câu: Cầu nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân, nghĩa là “ngày một mới,
ngày một mới, lại ngày một mới".
3) Hát nói thể thơ được dùng để sáng tác phần lời cho bài hát ca trù; số câu trong bài, số chữ trong các câu, cách
gieo vần,.... của bài hát nói tương đối tự do.
Viết
Viết bài văn nghị luận về một vấn đề cần giải quyết (trong đời sống xã hội)
Trong thực tế, nhiều khi chúng ta phải đối mặt với những vấn đề của đời sống xã hội.
Việc quan tâm, bàn luận về những vấn đề như vậy là hết sức cần thiết, không chỉ có
ý nghĩa đối với mỗi cá nhân, mà còn có khả năng tác động đến nhận thức của nhiều
người. Từ đó, mọi người có thể chung tay hành động, góp phần giải quyết vấn đề bằng
những việc làm thiết thực, phù hợp với khả năng của mình.
Yêu cầu:
Phân tích bài viết tham khảo
Bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hoá của đất nước
Đã bao giờ bạn đến với non thiêng Yên Tử (Quảng Ninh),
ngắm những di tích cổ kính gắn với tên tuổi Phật hoàng
Trần Nhân Tông từ thế kỉ XIII? Đã bao giờ bạn đến với Hoa Lư (Ninh Bình), tận mắt
nhìn thấy những ngôi đền, ngôi nhà hết sức giản dị – dấu tích kinh đô của nước ta thời
nhà Đinh từ hơn 1.000 năm trước? Hay đã có khi nào bạn về Bắc Ninh dự hội Lim (tổ chức
vào ngày 13 tháng Giêng hằng năm), hoà nhập vào không khí lễ hội dân gian, được
nghe những làn điệu dân ca quan họ mượt mà, tình tứ? Cần hiểu rằng, đó là những
di sản đã được bảo tồn qua hàng trăm, hàng ngàn năm. Và hôm nay, chúng ta có trách
nhiệm tiếp tục công việc hệ trọng đó.
Nêu vấn đề nghị luận.
Di sản văn hoá của đất nước gồm những gì? Đó là
toàn bộ giá trị văn hoá ẩn chứa trong những di sản vật thể và
phi vật thể, gắn bó với cuộc sống của cộng đồng trong suốt
Luận điểm 1: Trình bày
bản chất của vấn đề.
chiều dài lịch sử. Chúng được tạo tác bởi bàn tay, khối óc của con người, nhằm
phục vụ đời sống vật chất và tinh thần của con người. Các công trình kiến trúc như
Chùa Một Cột, Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội); Thành nhà Hồ (Thanh Hoá); Cổ đô
Huế, Chùa Thiên Mụ (Thừa Thiên Huế); Nhà thờ Đức Bà (Thành phố Hồ Chí Minh),... và
bao nhiêu chùa chiền, đền đài, cầu, tháp,... được xây dựng cách đây hàng thế kỉ chính là
các di sản văn hoá. Những pho sách cổ viết bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm, đúc kết trí tuệ
của các thế hệ đi trước cũng là di sản văn hoá. Từ các loại hình sân khấu dân gian như
chèo, tuồng, ca kịch, múa rối,... cho đến những làn điệu dân ca của 54 dân tộc trên khắp
mọi miền đất nước,... đều là di sản văn hoá. Như vậy, ở bất cứ không gian sống nào,
chứng tích của quá khứ thể hiện qua di sản văn hoá cũng đang hiện diện trong đời sống
của con người hôm nay.
Khó mà đo đếm được sự quý giá của di sản văn hoá.
Trước hết, di sản văn hoá đại diện cho những giá trị tinh thần,
góp phần quan trọng tạo nên bản sắc của quốc gia. Có những
di sản đã gắn với danh xưng của quốc gia, chẳng hạn:
“đất nước Kim Tự Tháp” (Ai Cập), “đất nước Chùa Tháp" Cam-pu-chia, “đất nước
của tháp Ép-phen (Eiffel)" (Pháp),... Vì đã trường tồn qua hàng trăm, hàng ngàn năm,
cho nên di sản văn hoá giúp con người hiểu rõ hơn về lịch sử, về truyền thống lao động
và đấu tranh, về bề dày kinh nghiệm thẩm mĩ, về quan niệm đạo đức của một cộng đồng,
có tác dụng lớn trong việc giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Di sản văn hoá đã trở thành
nguồn tài nguyên quý giá cho sự phát triển ngành du lịch. Nhiều người nước ngoài hết
sức thích thú, phấn khích khi xem múa rối nước của Việt Nam, lặng lẽ đắm mình vào
không gian trầm mặc của Văn Miếu - Quốc Tử Giám, đi từ ngạc nhiên này đến ngạc
nhiên khác khi khám phá địa đạo Củ Chi,... Cũng cần nói thêm, những di sản độc đáo,
có giá trị cao không chỉ là báu vật của quốc gia, mà còn trở thành vốn quý của cả nhân
loại khi được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới.
Luận điểm 2: Đánh giá
tầm quan trọng của
vấn đề.
Mặc dù di sản văn hoá quý giá như vậy, nhưng hiện nay
nhiều công trình không tránh khỏi tình trạng xuống cấp, hư
hại, mất mát do đạn bom trong chiến tranh, do thời tiết khắc
nghiệt, do cách bảo tồn sơ sài bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết, thiếu tinh thần trách
nhiệm hoặc trình độ quản lí còn hạn chế,... Có những nơi quá chú trọng lợi ích kinh tế
trước mắt nên đã không ngần ngại xâm hại di sản. Không ít
người lại cho rằng, di sản phải được tôn tạo, phải được làm
mới để “vĩnh cửu hoá”. Thật là một quan niệm sai lầm! Xuất
phát từ sự thiếu hiểu biết đó mà họ đã huy động nhiều tiền của để “tôn tạo di sản theo
hướng “hiện đại hoá”, khiến bao nhiêu công trình trở nên lai căng, biến dạng, mất hết
vẻ đẹp tinh xảo nguyên sơ vốn có. Thật xót xa khi những cuốn sách quý trong kho tư liệu
cha ông để lại bị mục nát, hư hỏng hoặc thất lạc. Nếu cứ như thế, sẽ đến lúc có những bảo
vật hoàn toàn biến mất khỏi vốn di sản của quốc gia. Thực trạng đó cho thấy việc bảo
tồn di sản văn hoá truyền thống vẫn luôn là vấn đề có tính thời sự.
Luận điểm 3: Nêu thực
trạng của vấn đề.
Nêu và phản bác ý kiến
trái chiều.
Yêu cầu:
Nêu được vấn đề cần giải quyết trong đời sống xã hội (liên quan đến sự phát triển đất nước, đời sống của cộng đồng, quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân,...) để bàn luận.
- Trình bày được bản chất, phạm vi tác động của vấn đề đối với đời sống xã hội (theo hướng tích cực hoặc tiêu cực), tổ chức thành hệ thống luận điểm chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, bằng chứng xác thực và tiêu biểu.
- Nêu được ý kiến trái chiều về vấn đề đời sống được bàn luận để phản bác một cách có cơ sở.
- Đề xuất được các giải pháp khả thi để giải quyết những bất cập trong phạm vi vấn đề.
Nêu vấn đề nghị luận.
Luận điểm 1: Trình bày
bản chất của vấn đề.
Luận điểm 2: Đánh giá
tầm quan trọng của
vấn đề.
Luận điểm 3: Nêu thực
trạng của vấn đề.
Nêu và phản bác ý kiến
trái chiều.
Luận điểm 4: Đề xuất
giải pháp khả thi để giải
quyết vấn đề.
Làm sao để giữ gìn, phát huy và truyền truyền cho các thế hệ mai sau giá trị tinh thần, vật chất vô giá do cha ông để lại? Câu hỏi này không dành cho riêng ai. Có nhiệm vụ thuộc về nhà nước và các cơ quan chuyên trách như việc ban hành văn bản pháp luật, ban hành chính sách nhằm tăng cường năng lực điều hành, quản lí và phát huy giá trị của di sản văn hoá. Có việc thuộc về các nhà khoa học – những chuyên gia có kiến thức sâu rộng về chuyên môn, có khả năng đưa ra những phương pháp bảo tồn hợp lí nhất. Có việc thuộc chức năng của những đơn vị trực tiếp quản lí di sản cụ thể. Và dĩ nhiên, cả cộng đồng cũng như mỗi cá nhân đều phải có trách nhiệm với di sản văn hoá của đất nước, nhất là những gì có liên quan, gần gũi với đời sống hằng ngày của mọi người.
Là những con người thuộc thế hệ trẻ của đất nước, mỗi học sinh chúng ta cần phải ý thức rõ về trách nhiệm đó. Trong việc thụ hưởng di sản văn hoá như tổ chức hoạt động tham quan, học tập, trải nghiệm,... chúng ta cần luôn tuân thủ nghiêm túc các quy định; tuyệt đối tránh những việc làm có thể gây tổn hại đối với di sản; ngăn cản hoặc tố giác những kẻ cố tình phá hoại; biết giữ gìn di sản bằng sự hiểu biết và thái độ trân quý. Có như vậy, di sản văn hoá mới có thể tiếp tục tồn tại bền lâu với tương lai của đất nước.
(Nhóm biên soạn)
Thực hành viết theo các bước
a. Lựa chọn đề tài
Mục đích viết
Thuyết phục người đọc đồng tình với ý kiến của người viết về một vấn đề cần giải quyết trong đời sống xã hội hiện nay để mỗi cá nhân thấy được trách nhiệm của mình.
Người đọc
Những người quan tâm đến các vấn đề thiết yếu của đời sống xã hội, thấy được sự tác động của những vấn đề đó đối với cá nhân, cộng đồng, đất nước.
Muốn chọn được đề tài phù hợp để viết bài, em cần chú ý phạm vi nội dung mà phần Viết giới hạn (vấn đề cần giải quyết trong đời sống xã hội). Em chú ý thu thập tư liệu từ các nguồn khác nhau (sách báo, các phương tiện truyền thông....) làm cơ sở cho việc tìm đề tài. Có thể tham khảo một số vấn đề sau:
Bảo vệ, khôi phục rừng và trồng cây phủ xanh đồi trọc.
Công cuộc chuyển đổi số và vai trò của mỗi người.
Giữ gìn nguồn nước cho hôm nay và mai sau.
- Văn hoá giao thông và trách nhiệm của mỗi người.
Vai trò của thực phẩm sạch trong cuộc sống hằng ngày.
b. Tìm ý
Khi đã xác định được đề tài bài viết, cần tiến hành việc tìm ý. Phải tìm hiểu kĩ vẫn để để nắm được bản chất và các khía cạnh của nó. Từ kinh nghiệm viết bài nghị luận khi thực hiện ở phần Viết của Bài 1. Thế giới kì ảo và Bài 3. Hồn nước nằm trong tiếng mẹ cha, em có thể đặt ra các câu hỏi để tìm ý theo cách tương tự, chẳng hạn:
Vấn đề cần được giải quyết là gì? (Luận điểm 1 của bài viết tham khảo nêu vấn đề di sản văn hoá và trách nhiệm của mỗi người trong việc bảo tồn các di sản đó.
- Ý kiến của em về vấn đề như thế nào? Trong bài viết tham khảo, người viết trình bày quan điểm của mình về sự quý giá của di sản văn hoá, khẳng định tầm quan trọng của việc bảo tồn, phát huy những di sản văn hoá truyền thống đối với quốc gia và nhân loại. Người viết cũng báo động và phân tích tình trạng xuống cấp, hư hại, mất mát của di sản văn hoá do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Có thể xuất hiện ý kiến nào trái ngược với quan điểm của người viết? Cần dùng những lí lẽ, bằng chứng nào để phản bác? Có thể có nhiều góc nhìn khác nhau về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hoá, vì vậy, ý kiến trái chiều khá đa dạng. Bài viết đã nêu và phản bác ý kiến cho rằng di sản văn hoá cần được tôn tạo, làm mới theo hướng "hiện đại hoá", "vĩnh cửu hoá".
- Cần có giải pháp nào để giải quyết vấn đề? Luận điểm 4 của bài viết tham khảo nêu một số giải pháp cần thực hiện để giữ gìn và phát huy giá trị của các di sản văn hoá; đề cao trách nhiệm của mỗi người khi tham gia giải quyết vấn đề; liên hệ với bản thân (ở phần Kết bài).
c. Lập dàn ý
Các ý đã tìm được chỉ mới tồn tại dưới dạng liệt kê. Em cần lập dàn ý bằng cách sắp xếp những ý đó vào các phần theo trật tự hợp lí.
Dàn ý
- Mở bài. Giới thiệu vấn đề cần giải quyết trong đời sống xã hội, nêu sự cần thiết phải bàn luận về vấn đề.
Thân bài:
+ Trình bày ý kiến của bản thân về vấn đề, triển khai thành hệ thống luận điểm.
- Luận điểm 1: Bản chất của vấn đề đời sống được bàn luận, biểu hiện của vấn đề trong thực tế xã hội (dùng lí lẽ và bằng chứng để làm sáng tỏ).
- Luận điểm 2: Sự tác động của vấn đề đối với cá nhân, cộng đồng, đất nước theo hướng tích cực hoặc tiêu cực (dùng lí lẽ và bằng chứng để làm sáng tỏ).
- Luận điểm 3: Trách nhiệm của mỗi người trước vấn đề (dùng lí lẽ và bằng chứng để làm sáng tỏ).
+ Nêu ý kiến trái chiều về vấn đề để phản bác.
+ Đề xuất giải pháp khả thi để giải quyết vấn đề đời sống được bàn luận.
Kết bài: Khẳng định tầm quan trọng của việc nhận thức đúng đắn và giải quyết thoả đáng vấn đề nêu ra.
Khi viết bài, em cần chú ý những điểm sau đây:
- Bám sát yêu cầu của kiểu bài và dàn ý đã lập để triển khai các phần của bài viết.
Rút kinh nghiệm từ việc viết bài văn nghị luận xã hội (ở các bài trước), từ việc đọc văn bản nghị luận ở bài học này cũng như qua tìm hiểu bài viết tham khảo, em cần vận dụng linh hoạt kĩ thuật viết các phần của bài văn.
- Có thể mở bài bằng lối trực tiếp (giới thiệu nhanh vấn đề nghị luận) hoặc gián tiếp (dùng một mẩu chuyện, một thông tin, một câu nói nổi tiếng hoặc nêu ý tương phản,.... để dẫn đến vấn đề bàn luận).
Khi triển khai các luận điểm của phần Thân bài, cần đặc biệt chú ý việc sử dụng lí lẽ và bằng chứng để tăng sức thuyết phục của bài văn nghị luận (quan sát cách trình bày lí lẽ và nêu bằng chứng ở các văn bản đọc và bài viết tham khảo để học tập cách viết).
Kết bài nên liên hệ tới trách nhiệm của mỗi người trong việc giải quyết vấn đề.
Đọc bài viết thật kĩ, đặt câu hỏi để tự kiểm tra lại từng phần, từng khía cạnh và thao tác được sử dụng:
+ Vấn đề bàn luận có được nêu rõ ràng không?
+ Bản chất và từng khía cạnh của vấn đề đã được làm rõ chưa? Bản thân có ý kiến như thế nào về vấn đề? Tầm quan trọng của vấn đề đối với đời sống xã hội có được làm nổi bật không?
+ Thực trạng của vấn đề đã được nêu cụ thể chưa? Giải pháp đề xuất có tính khả thi không? Trách nhiệm của bản thân trong việc tham gia giải quyết vấn đề được nêu như thế nào?
+ Có nêu được ý kiến trái chiều để phản bác không? Nếu có, việc phản bác đã đủ cơ sở chưa?
+ Ở từng luận điểm, lí lẽ và bằng chứng được sử dụng như thế nào? Có đảm bảo sức thuyết phục không?
Bài viết có những lỗi nào về chính tả, diễn đạt (dùng từ, đặt câu, liên kết đoạn)?
- Sau khi rà soát, nếu phát hiện thấy chỗ nào chưa đạt yêu cầu thì cần bổ sung, chỉnh sửa hoặc thay thế.
Nói và nghe
Trình bày ý kiến về một sự việc có tính thời sự (trong đời sống của cộng đồng, đất nước, nhân loại)
Sự việc có tính thời sự trong đời sống của cộng đồng, đất nước, nhân loại thường thu hút sự chú ý của mọi người, dễ nảy sinh những quan điểm khác nhau. Bản chất sự việc là như thế nào? Sự việc có tính tích cực hay tiêu cực? Sự việc có tác động như thế nào đến đời sống xã hội?... Những câu hỏi như vậy có được trả lời thuyết phục hay không là tuỳ ở quan điểm nhìn nhận về sự việc của mỗi người. Điều cần thiết khi trình bày ý kiến về một sự việc là phải trình bày rõ ràng, thể hiện được chủ kiến của bản thân, từ đó tác động tích cực đến nhận thức của người nghe, nhằm cùng nhau tìm phương án khả thi để giải quyết những hệ quả nảy sinh từ sự việc đó.
Để chuẩn bị nội dung bài nói, em cần chọn được đề tài mà mình am hiểu và có hứng thú. Sau đây là một số gợi ý để em tham khảo:
Mục đích nói
Thuyết phục người nghe đồng tình với ý kiến của mình về một sự việc có tính thời sự trong đời sống của cộng đồng, đất nước, nhân loại; từ đó giúp họ có thái độ và hành động phù hợp, góp phần giải quyết những hệ quả nảy sinh từ sự việc.
Người nghe
Những người quan tâm hoặc có liên quan đến sự việc, muốn tham gia giải quyết các vấn đề nảy sinh từ sự việc.
+ Việc xả chất thải chưa qua xử lí của một đơn vị sản xuất công nghiệp.
+ Sự xuất hiện các sản phẩm trí tuệ nhân tạo và tác động của chúng đối với đời sống con người.
+ Việc phát hiện ra những hang động mới ở Quảng Bình.
+ Một dự án nhằm phát triển kinh tế, xã hội ở vùng sâu, vùng xa.
+ Việc thay thế hình thức dạy học trực tiếp bằng hình thức trực tuyến trong những tình huống cần thiết.
- Từ đề tài đã chọn, em cần lập dàn ý cho bài nói, với đủ các phần mở đầu, triển khai, kết thúc. Trong từng ý, cần ghi thêm một số bằng chứng thực tế, số liệu, những đánh giá khách quan,... để sử dụng khi trình bày.
- Mở đầu: giới thiệu sự việc (có thể tạo sự lôi cuốn bằng cách thuật lại một mẩu tin, kể lại một câu chuyện, sử dụng tranh ảnh hay đoạn phim ngắn liên quan đến sự việc,...).
- Theo dõi để nắm bắt nội dung và cách trình bày bài nói; nhận biết mức độ tin cậy của thông tin khách quan, tính thuyết phục của ý kiến do người nói nêu ra; chỉ ra những hạn chế (nếu có) như lập luận thiếu lô-gíc, bằng chứng chưa đầy đủ hay không liên quan đến sự việc.
- Triển khai: diễn giải để làm rõ bản chất của sự việc, đưa ra lí lẽ kết hợp với bằng chứng từ thực tế khách quan để thuyết phục người nghe đồng tình với ý kiến của mình.
- Kết thúc: khái quát ý nghĩa của sự việc được trình bày, nêu phương án giải quyết, liên hệ trách nhiệm của mỗi người.
- Có thể yêu cầu người nói cung cấp thêm thông tin, giải thích những điểm còn chưa rõ; trao đổi lại những chỗ chưa tán thành với cách nhìn nhận, đánh giá của người nói về sự việc.
Lưu ý. Khi trình bày ý kiến về một sự việc có tính thời sự, cần kết hợp lời nói với cử chỉ, nét mặt, ánh mắt,... tăng cường sử dụng các phương tiện hỗ trợ như tranh ảnh, đoạn phim ngắn, các tài liệu liên quan đến sự việc,...
Tổ chức trao đổi, đánh giá, rút kinh nghiệm về hoạt động nói và nghe xoay quanh các khía cạnh sau:
- Sự việc được trình bày có tính thời sự không? Sự việc đó có ý nghĩa như thế nào trong đời sống của cộng đồng, đất nước, nhân loại?
Người nói trình bày sự việc rõ ràng chưa? Đã thể hiện rõ ý kiến của cá nhân về sự việc chưa? Sử dụng lí lẽ và bằng chứng có phù hợp không?
Cách người nói sử dụng các phương tiện phi ngôn ngữ và phương tiện hỗ trợ, tương tác với người nghe đã đạt yêu cầu chưa?
- Người nghe có thái độ như thế nào khi người nói trình bày? Có thể hiện được sự chủ động, tích cực khi tiếp nhận thông tin và tương tác với người nói không? Nhận biết và đánh giá như thế nào về mức độ thuyết phục của bài nói?
Củng cố, mở rộng
Kẻ bảng vào vở để hệ thống hoá kiến thức về hai văn bản nghị luận Đấu tranh cho một thế giới hoà bình và Biến đổi khí hậu – mối đe doạ sự tồn vong của hành tinh chúng ta, trong bảng có các cột để ghi các thông tin: vấn đề được bàn luận, các luận điểm chính, lí lẽ, bằng chứng.
Trình bày ý kiến của em về đề tài: "Chỉ có con người mới cứu được Trái Đất". Hãy lập dàn ý, viết phần Mở bài và đoạn đầu của Thân bài.
Dựa vào dàn ý của bài viết ở câu 2 để lập dàn ý cho bài thuyết trình; dựa vào dàn ý đó để tập trình bày bài nói.
Tìm đọc hai văn bản nghị luận xã hội, ghi vắn tắt vào vở các thông tin: luận để nghị luận, các luận điểm chính, cách sử dụng lí lẽ và bằng chứng, mối liên hệ giữa vấn đề nghị luận với đời sống.
Thực hành đọc
Khi đọc văn bản dưới đây, em cần chú ý những vấn đề sau:
- Luận đề của văn bản; các luận điểm được triển khai từ luận đề.
- Cách sử dụng lí lẽ và bằng chứng để làm sáng tỏ từng luận điểm.
Thái độ của người viết đối với vấn đề được bàn luận.
- Thông điệp em rút ra được từ văn bản.
Chuẩn bị hành trang
VŨ KHOAN
Tết năm nay là sự chuyển tiếp giữa hai thế kỉ, và hơn thế nữa, là sự chuyển tiếp giữa hai thiên niên kỉ. Trong thời khắc như vậy, ai ai cũng nói tới sự chuẩn bị hành trang bước vào thế kỉ mới, thiên niên kỉ mới.
Trong những hành trang ấy, có lẽ sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất. Từ cổ chí kim bao giờ con người cũng là động lực phát triển của lịch sử. Trong thế kỉ tới mà ai ai cũng thừa nhận rằng nền kinh tế tri thức sẽ phát triển mạnh mẽ thì vai trò của con người lại càng nổi trội.
Cần chuẩn bị những cái cần thiết trong hành trang mang vào thế kỉ mới, trong khi chúng ta đã chứng kiến sự phát triển như huyền thoại của khoa học và công nghệ, làm cho tỉ trọng trí tuệ trong một sản phẩm ngày một lớn. Chắc rằng chiều hướng này sẽ
Vũ Khoan (1937-2023) quê ở tỉnh Hà Tây (nay thuộc thành phố Hà Nội), là nhà hoạt động chính trị, từng đảm nhiệm các chức vụ Bộ trưởng Bộ Thương mại, Phó Thủ tướng Chính phủ.
Kinh tế tri thức: nền kinh tế chủ yếu dựa vào tri thức, trên cơ sở thành tựu của khoa học và công nghệ, sản phẩm tạo ra tiêu tốn ít tài nguyên vật chất và sức lao động.
ngày càng gia tăng. Một phần dưới tác động của những tiến bộ về khoa học và công nghệ, sự giao thoa, hội nhập giữa các nền kinh tế chắc chắn sẽ sâu rộng hơn nhiều.
Trong một thế giới như vậy, nước ta lại phải cùng một lúc giải quyết ba nhiệm vụ: thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu của nền kinh tế nông nghiệp; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đồng thời lại phải tiếp cận ngay với nền kinh tế tri thức. Làm nên sự nghiệp ấy đương nhiên là những con người Việt Nam với những điểm mạnh và điểm yếu của nó.
Cái mạnh của con người Việt Nam không chỉ chúng ta nhận biết mà cả thế giới đều thừa nhận là sự thông minh, nhạy bén với cái mới. Bản chất trời phú ấy rất có ích trong xã hội ngày mai mà sự sáng tạo là một yêu cầu hàng đầu. Nhưng bên cạnh cái mạnh đó cũng còn tồn tại không ít cái yếu. Ấy là những lỗ hổng về kiến thức cơ bản và thiên hướng chạy theo những môn học “thời thượng”, nhất là khi năng lực thực hành và sáng tạo bị hạn chế do lối học chay, học vẹt nặng nề. Không nhanh chóng lấp những lỗ hổng này thì thật khó bề phát huy trí thông minh vốn có và không thể thích ứng với nền kinh tế mới chứa đựng đầy tri thức cơ bản và biến đổi không ngừng.
Cái mạnh của người Việt Nam ta là sự cần cù, sáng tạo. Điều đó thật hữu ích trong một nền kinh tế đòi hỏi tỉnh thần kỉ luật rất cao và thái độ rất nghiêm túc đối với công cụ và quy trình lao động với những máy móc, thiết bị rất tinh vi. Tiếc rằng ngay trong mặt mạnh này của chúng ta cũng lại ẩn chứa những khuyết tật không tương tác chút nào với một nền kinh tế công nghiệp hoá chứ chưa nói đến nền kinh tế tri thức. Người Việt Nam ta cần cù thì cần cù thật, nhưng lại thiếu đức tính tỉ mỉ. Khác với người Nhật vốn cũng nổi tiếng cần cù lại thường rất cẩn trọng trong khâu chuẩn bị công việc, làm cái gì cũng tính toán chi li từ đầu, người Việt Nam ta thường dựa vào tính tháo vát của mình, hành động theo phương châm “nước đến chân hãy nhảy”, “liệu cơm gắp mắm". Do còn chịu ảnh hưởng nặng nề của phương thức sản xuất nhỏ và cách sống ở nơi thôn dã vốn thoải mái và thanh thản nên người Việt Nam ta chưa có được thói quen tôn trọng những quy định nghiêm ngặt của công việc là cường độ khẩn trương. Ngay bản tính “sáng tạo” một phần nào đó cũng có mặt trái ở chỗ ta hay loay hoay “cải tiến”, làm tắt, không coi trọng nghiêm ngặt quy trình công nghệ. Trong một xã hội công nghiệp và “hậu công nghiệp những khuyết tật ấy sẽ là những vật cản ghê gớm.
Trong một “thế giới mạng”, ở đó hàng triệu người trên phạm vi toàn cầu gắn kết với nhau trong một mạng in-tơ-nét thì tính cộng đồng là một đòi hỏi không thể thiếu được. Nhân dân ta có truyền thống lâu đời đùm bọc, đoàn kết với nhau theo phương châm “nhiễu điều phủ lấy giá gương”. Bản sắc này thể hiện mạnh mẽ nhất trong cảnh đất nước lâm nguy, ngoại bang đe doạ. Nhưng tiếc rằng phẩm chất cao quý ấy thường
lại không đậm nét trong việc làm ăn, có thể do ảnh hưởng của phương thức sản xuất nhỏ, tính đố kị vốn có của lối sống theo thứ bậc không phải theo năng lực và lối nghĩ “trâu buộc ghét trâu ăn” đối với người hơn mình ở làng quê thời phong kiến. Ta có thể quan sát thấy điều đó ngay trong cả những việc nhỏ nhặt: ví dụ vào thăm bảo tàng thì người Nhật túm tụm vào với nhau chăm chú nghe thuyết minh, còn người Việt Nam ta lại lập tức tản ra xem những thứ mình thích; người Hoa ở nước ngoài thường cưu mang nhau song người Việt lại thường đố kị nhau.
Bước vào thế kỉ mới, nước ta sẽ hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế thế giới. Bản tỉnh thích ứng nhanh sẽ giúp dân ta tận dụng những cơ hội, ứng phó với thách thức do tiến trình hội nhập đem lại. Nhưng thái độ kì thị đối với sự kinh doanh, thói quen ảnh hưởng từ bao cấp, nếp nghĩ sùng ngoại hoặc bài ngoại quá mức đều sẽ cản trở sự phát triển của đất nước. Thói quen ở không ít người thích tỏ ra “khôn vặt”, “bóc ngắn cắn dài”, không coi trọng chữ “tín” sẽ gây tác hại khôn lường cho quá trình kinh doanh và hội nhập.
Bước vào thế kỉ mới, muốn “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” thì chúng ta sẽ phải lấp đầy hành trang bằng những điểm mạnh, vứt bỏ những điểm yếu. Muốn vậy thì khâu đầu tiên, có ý nghĩa quyết định là hãy làm cho lớp trẻ – những người chủ thực sự của đất nước trong thế kỉ tới – nhận ra điều đó, quen dần với những thói quen tốt đẹp ngay từ những việc nhỏ nhặt nhất.
(In trong Một góc nhìn của tri thức, tập một,
NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2003, tr. 31-34)
Kết nối tri thức với cuộc sống
Xem bản PDF nguyên trang sách: Ngữ văn 9 tập 2 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 66–88).
