Yêu cầu cần đạt
- Nhận biết và phân tích được nét độc đáo về hình thức của bài thơ thể hiện qua bố cục, kết cấu, ngôn ngữ, biện pháp tu từ.
- Nhận biết và phân tích được tình cảm, cảm xúc, cảm hứng chủ đạo của người viết thể hiện qua văn bản.
- Nhận biết và phân tích được chủ đề, tư tưởng, thông điệp mà văn bản muốn gửi đến người đọc thông qua hình thức nghệ thuật của văn bản; phân tích được một số căn cứ để xác định chủ đề.
- Hiểu được sự phát triển của ngôn ngữ thể hiện qua những nghĩa mới của từ ngữ và từ ngữ mới; biết vận dụng để trau dồi vốn từ.
- Bước đầu biết làm một bài thơ tám chữ; viết được đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về một bài thơ tám chữ.
- Biết thảo luận về một vấn đề đáng quan tâm trong đời sống phù hợp với lứa tuổi.
- Có tình yêu đối với thơ ca và vẻ đẹp của con người, cuộc sống được thể hiện trong thơ.
Thuật ngữ: Thơ sáu chữ, bảy chữ, tám chữ · Kết cấu · Chủ đề · Sự phát triển của ngôn ngữ
7
Với Nàng Thơ, tôi có đàn muôn điệu;
Với Nàng Thơ, tôi có bút muôn màu.
Thế Lữ
Giới thiệu bài học
Thơ ca là bản hoà âm cất lên từ những rung động tâm hồn của nhà thơ trước thiên nhiên và cuộc sống. Ngôn ngữ thơ ca đặc biệt giàu nhạc tính, có thể diễn tả mọi cung bậc cảm xúc, mọi tình cảm của con người. Vì thế, thơ là cây đàn ngân lên muôn điệu của tâm hồn.
Hai bài thơ và một văn bản nghị luận văn học trong bài học này sẽ giúp em cảm nhận và hiểu về muôn điệu tâm hồn trong thơ ca, từ đó biết rung động cùng vẻ đẹp mà nhà thơ đã diễn tả trong mỗi vẫn thơ.
Tri thức ngữ văn
Thơ sáu chữ, bảy chữ, tám chữ là những thể thơ được xác định dựa vào số chữ (tiếng) trong mỗi dòng thơ. Các dòng thơ thường được ngắt nhịp một cách linh hoạt.
Bài thơ sáu chữ, bảy chữ, tám chữ có số lượng dòng không hạn chế; có thể chia khổ hoặc không; thường sử dụng vẫn chân, gieo vần liền hoặc vẫn cách.
Kết cấu là toàn bộ cách tổ chức, sắp xếp, liên kết các yếu tố tạo nên tác phẩm nghệ thuật. Trong thơ, đó là cách tổ chức, sắp xếp, liên kết mạch cảm xúc, thế giới hình tượng và các phương tiện ngôn ngữ được dùng để biểu đạt.
Một số căn cứ để xác định chủ đề
Chủ đề của tác phẩm văn học thường được người đọc tự rút ra từ toàn bộ nội dung của tác phẩm. Tuy vậy, trong nhiều trường hợp, một số yếu tố nổi bật của tác phẩm có thể là căn cứ quan trọng để xác định chủ đề:
Nhan để có thể hé lộ cho người đọc phần nào chủ đề của tác phẩm.
Một số yếu tố khác gắn với đặc trưng thể loại có thể giúp người đọc nắm được chủ đề của tác phẩm, chẳng hạn, với thơ: mạch cảm xúc, hình ảnh ...; với truyện, kịch: nhân vật, sự kiện, xung đột.... đôi khi là lời phát biểu trực tiếp của nhân vật hay lời người kể chuyện.
Sự phát triển của ngôn ngữ: nghĩa mới của từ ngữ và từ ngữ mới
Từ vựng của một ngôn ngữ luôn vận động, phát triển cùng với sự vận động, phát triển của xã hội. Sự phát triển từ vựng thường diễn ra theo những hình thức sau: phát triển nghĩa của từ ngữ trên cơ sở nghĩa gốc của nó; sáng tạo từ ngữ mới trên cơ sở từ ngữ đã có; tiếp nhận từ ngữ tiếng nước ngoài.
Văn bản đọc
VĂN BẢN 1. Tiếng Việt, Lưu Quang Vũ
VĂN BẢN 2. Mưa xuân, Nguyễn Bính
VĂN BẢN 3. Một kiểu phát biểu luận để độc đáo của Xuân Diệu ở bài thơ “Vội vàng”, Phan Huy Dũng
Trước khi đọc
1
Giới thiệu trước lớp một số câu ca dao, tục ngữ hay bài thơ nói về tiếng mẹ đẻ mà em đã sưu tầm được.
2
Nghe bài hát Tiếng Việt (nhạc Lê Tâm, lời thơ Lưu Quang Vũ) và nêu cảm nhận về tình cảm của người nghệ sĩ đối với tiếng nói dân tộc.
Đọc văn bản
Tiếng Việt
LƯU QUANG VŨ
Tiếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm
Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về
Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm
Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre
Tiếng kéo gỗ nhọc nhằn trên bãi nắng
Tiếng gọi đò sông vắng bến lau khuya
Tiếng lụa xẻ đau lòng thoi sợi trắng
Tiếng dập dồn nước lũ xoáy chân đê
Tiếng cha dặn khi vun cành nhóm lửa
Khi hun thuyền gieo mạ lúc đưa nôi
Tiếng mưa dội ào ào trên mái cọ
Nón ai xa thăm thẳm ở bên trời
"Đá cheo leo trâu trèo trâu trượt..."
Đi mòn đàng dứt cỏ đợi người thương
Đây muối mặn gừng cay lòng khế xót
Ta như chim trong tiếng Việt như rừng
Theo dõi
Số tiếng trong mỗi dòng, vần và nhịp thơ.
Hình dung
Những hình ảnh, âm thanh cuộc sống mà tiếng nói của con người đã hoà quyện trong đó.
(1) Hun thuyền đốt lửa hong mặt ngoài thuyền gỗ hoặc thuyền nan nhằm chống ngắm nước, rêu mốc, bảo vệ thuyền.
Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói
Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ
Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa(1)
Óng tre ngà và mềm mại như tơ
Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát
Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh
Như gió nước không thể nào nắm bắt
Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh
Dấu hỏi dựng suốt ngàn đời lửa cháy
Một tiếng vườn rợp bóng lá cành vươn
Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối
Tiếng heo may gợi nhớ những con đường
Một đảo nhỏ xa xôi ngoài biển rộng
Vẫn tiếng làng tiếng nước của riêng ta
Tiếng chẳng mất khi Loa Thành đã mất
Nàng Mị Châu quỳ xuống lạy cha giả.
Tiếng thao thức lòng trai ôm ngọc sáng
Dưới cát vùi sóng dập chẳng hề nguôi
Tiếng tùi cực kẻ ăn cầu ngủ quán
Thành Nguyễn Du vằng vặc nỗi thương đời.
Trái đất rộng giàu sang bao thứ tiếng
Cao quý thâm trầm rực rỡ vui tươi
Tiếng Việt rung rinh nhịp đập trái tim người
Như tiếng sáo như dây đàn máu nhỏ.
Hình dung
Những hình ảnh làm nổi bật vẻ đẹp của tiếng Việt.
Hình dung
Sức mạnh trường tồn và toả lan của tiếng Việt.
(1) Câu thơ này có bản in là: Ôi tiếng Việt như đất cày, như lụa, người biên soạn chọn bản này vì sát với bản gốc viết tay của nhà thơ.
Buồm lộng sóng xô, mai về trúc nhớ
Phá cũi lồng vời vợi cánh chim bay
Tiếng nghẹn ngào như đời mẹ đắng cay
Tiếng trong trẻo như hồn dân tộc Việt.
Mỗi sớm dậy nghe bốn bề thân thiết
Người qua đường chung tiếng Việt cùng tôi
Như vị muối chung lòng biển mặn
Như dòng sông thương mến chảy muôn đời.
Ai thuở trước nói những lời thứ nhất
Còn thô sơ như mảnh đá thay rìu
Điều anh nói hôm nay, chiều sẽ tắt
Ai người sau nói tiếp những lời yêu?
Ai phiêu bạt nơi chân trời góc biển
Nhớ quặn lòng tiếng Việt tái tê
Ai ở phía bên kia cầm súng khác
Cùng tôi trong tiếng Việt quay về.
Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ
Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn
Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá
Tiếng Việt ơi tiếng Việt ân tình.
Chú ý
Cách nhà thơ thể hiện tình cảm đối với tiếng Việt.
(Lưu Quang Vũ, Tiếng Việt, in trong Thơ Việt Nam 1945-1985, NXB Giáo dục, 1987, tr. 297-299)
Những hình ảnh làm nổi bật vẻ đẹp
của tiếng Việt.
Tiếng thao thức lòng trai ôm ngọc sáng
Dưới cát vùi sóng dập chẳng hề nguôi
Tiếng tủi cực kẻ ăn cầu ngủ quán
Thành Nguyễn Du vằng vặc nỗi thương đời.
Trái đất rộng giàu sang bao thứ tiếng
Cao quý thâm trầm rực rỡ vui tươi
Tiếng Việt rung rinh nhịp đập trái tim người
Như tiếng sáo như dây đàn máu nhỏ.
Buồm lộng sóng xô, mai về trúc nhớ
Phá cũi lồng vời vợi cánh chim bay
Tiếng nghẹn ngào như đời mẹ đắng cay
Tiếng trong trẻo như hồn dân tộc Việt.
Sức mạnh trường tồn và toả lan
của tiếng Việt.
Mỗi sớm dậy nghe bốn bề thân thiết
Người qua đường chung tiếng Việt cùng tôi
Như vị muối chung lòng biển mặn
Như dòng sông thương mến chảy muôn đời.
Ai thuở trước nói những lời thứ nhất
Còn thô sơ như mảnh đá thay rìu
Điều anh nói hôm nay, chiều sẽ tắt
Ai người sau nói tiếp những lời yêu?
Ai phiêu bạt nơi chân trời góc biển
Nhớ quặn lòng tiếng Việt tái tê
Ai ở phía bên kia cầm súng khác
Cùng tôi trong tiếng Việt quay về.
Ôi tiếng Việt suốt đời tôi mắc nợ
Quên nỗi mình quên áo mặc cơm ăn
Trời xanh quá môi tôi hồi hộp quá
Tiếng Việt ơi tiếng Việt ân tình.
Cách nhà thơ thể hiện tình cảm
đối với tiếng Việt.
Sau khi đọc
- Lưu Quang Vũ (1948–1988) quê ở Đà Nẵng, là nhà
thơ, nhà viết kịch, nhà văn tài năng. Thơ Lưu Quang Vũ
bay bổng, tài hoa, giàu cảm xúc, nhiều trăn trở, khát khao.
Lưu Quang Vũ có đóng góp đặc biệt cho ngành sân khấu
với những vở kịch đặt ra nhiều vấn đề thời sự nóng hổi, bức
thiết của đời sống. Một số tác phẩm tiêu biểu: Hương cây
Bếp lửa (in chung, 1968), Mây trắng của đời tôi (1989),
Bầy ong trong đêm sâu (1993),... (thơ); Hồn Trương Ba, da
hàng thịt (1981), Người trong cõi nhớ (1982), Tôi và chúng
ta (1984), Tin ở hoa hồng (1986).... (kịch); Mùa hè đang đến (1983), Người kép
đóng hổ (1984).... (truyện).
- Bài thơ Tiếng Việt được in trong tập thơ Mây trắng của đời tôi.
Trả lời câu hỏi
1.
Xác định những đặc điểm của thể thơ tám chữ thể hiện trong bài thơ Tiếng Việt.
2.
Bài thơ Tiếng Việt là lời của ai, bộc lộ cảm xúc về đối tượng nào? Điều đó có ý nghĩa gì?
3.
Trong cảm nhận của nhà thơ, tiếng Việt rất gần gũi thân thương, bao gồm muôn
vàn âm thanh của cuộc sống đời thường. Hãy phân tích một hình ảnh thơ đã thể
hiện điều đó một cách đặc sắc.
4.
Những yếu tố cụ thể trong tiếng Việt (âm thanh, ý nghĩa của từ ngữ) và chữ viết
tiếng Việt gợi lên trong tác giả những liên tưởng gì? Hãy phân tích một vài câu thơ
thể hiện sự liên tưởng mà em thấy thú vị, độc đáo.
5.
Trong các khổ thơ 8 đến 12, nhà thơ đã làm nổi bật sức mạnh trường tồn của tiếng
Việt như thế nào?
6.
Phân tích tình cảm của nhà thơ đối với tiếng Việt được thể hiện qua ba khổ thơ cuối.
7.
Xác định mạch cảm xúc và nhận xét về kết cấu của bài thơ.
8.
Nêu chủ đề và căn cứ xác định chủ đề của bài thơ Tiếng Việt. Cảm hứng chủ đạo
của bài thơ là gì?
9.
Em cần làm gì để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt?
Viết kết nối với đọc
Viết đoạn văn (khoảng 7-9 câu) ghi lại cảm nghĩ của em về vẻ đẹp của tiếng Việt
được thể hiện trong năm khổ thơ đầu của bài thơ Tiếng Việt.
Thực hành tiếng Việt
Nghĩa của từ ngữ
1
Xác định nghĩa của những từ ngữ in đậm trong các khổ thơ sau của bài thơ
Tiếng Việt:
a.
Tiếng thao thức lòng trai ôm ngọc sáng
Dưới cát vùi sóng dập chẳng hề nguôi
Tiếng tủi cực kẻ ăn cầu ngủ quán
Thành Nguyễn Du vằng vặc nỗi thương đời.
b.
Buồm lộng sóng xô, mai về trúc nhớ
Phá cũi lồng vời vợi cánh chim bay
Tiếng nghẹn ngào như đời mẹ đắng cay
Tiếng trong trẻo như hồn dân tộc Việt.
2
Tìm và nêu tác dụng của từ láy được sử dụng trong các khổ thơ sau của bài thơ
Tiếng Việt:
a.
Tiếng kéo gỗ nhọc nhằn trên bãi nắng
Tiếng gọi đò sông vắng bến lau khuya
Tiếng lụa xé đau lòng thoi sợi trắng
Tiếng dập dồn nước lũ xoáy chân đê
b.
Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát
Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh
Như gió nước không thể nào nắm bắt G
Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh.
3
Phân tích tác dụng của các thành ngữ được gợi nhắc trong bài thơ Tiếng Việt.
Biện pháp tu từ
4
Xác định và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong những đoạn thơ
sau của bài thơ Tiếng Việt:
a.
Mỗi sớm dậy nghe bốn bề thân thiết
Người qua đường chung tiếng Việt cùng tôi
Như vị muối chung lòng biển mặn
Như dòng sông thương mến chảy muôn đời.
b.
Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa
Ông tre ngà và mềm mại như tơ
c.
Ai phiêu bạt nơi chân trời góc biển
Nhớ quặn lòng tiếng Việt tái tê
Ai ở phía bên kia cầm súng khác
Cùng tôi trong tiếng Việt quay về.
d.
Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối
Tiếng heo may gợi nhớ những con đường.
Văn bản 2
Trước khi đọc
1.
Chia sẻ những câu ca dao, bài thơ viết về mùa xuân mà em biết.
2.
Nêu cảm nhận của em về mùa xuân.
Đọc văn bản
Mưa xuân
NGUYỄN BÍNH
Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già
Lòng trẻ còn như cây lụa trắng
Mẹ già chưa bán chợ làng xa.
Số tiếng trong mỗi dòng, vần và
nhịp thơ.
Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ,
Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”
Lòng thấy giăng tơ một mối tình
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh
Hình như hai má em bừng đỏ
Có lẽ là em nghĩ đến anh.
Bốn bên hàng xóm đã lên đèn
Em ngửa bàn tay trước mái hiên
Mưa chấm bàn tay từng chấm lạnh
Thế nào anh ấy chả sang xem!
Khung cảnh làng quê mùa xuân.
Em xin phép mẹ, vội vàng đi
Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe.
Mưa bụi nên em không ướt áo
Thôn Đoài cách có một thôi đê.
Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm
Em mải tìm anh chả thiết xem.
Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh,
Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em.
Chờ mãi anh sang anh chẳng sang
Thế mà hôm nọ hát bên làng
Năm tao bảy tuyết anh hồ hẹn
Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng!
Mình em lầm lụi trên đường về
Có ngắn gì đâu một dải đê!
Áo mỏng che đầu mưa nặng hạt
Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya.
Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay
Hòa xoan đã nát dưới chân giày
Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ
Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày.”
Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày
Bao giờ em mới gặp anh đây?
Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ
Để mẹ em rằng hát tối nay?
Tâm trạng của “em” khi “anh” lỡ hẹn.
(Tuyển tập Nguyễn Bính, NXB Văn học, Hà Nội, 1986, tr. 25-26)
(1) Thôi khoảng không gian tương đối dài, thôi đề: một đoạn đề dài.
(2) Năm tao bảy tuyết (thành ngữ): nhiều lần.
Sau khi đọc
- Nguyễn Bính (1918–1966) quê ở Nam Định, là nhà
thơ nổi tiếng từ phong trào Thơ mới. Thơ Nguyễn Bỉnh
đằm thắm, thiết tha, gần gũi với ca dao, thể hiện tình
yêu đối với làng quê và văn hoá truyền thống của dân
tộc. Tác phẩm tiêu biểu: Tâm hồn tôi (1940), Lỡ bước
sang ngang (1940), Hương cố nhân (1941), Mây tần
(1942), Nước giếng thơi (1956), Đêm sao sáng (1962)
(thơ); Trong bóng cờ bay (1957), Tiếng trống đêm xuân
(1958) (truyện thơ)....
- Bài thơ Mưa xuân được in trong tập Lỡ bước sang ngang.
Trả lời câu hỏi
1.
Xác định số tiếng trong mỗi dòng thơ, cách gieo vần, ngắt nhịp của bài thơ.
2.
Bài thơ là lời tự tình của một cô gái xưng "em". Lời tự tình ấy cho biết câu chuyện gì
về "em"?
3.
Xác định bố cục, mạch cảm xúc của bài thơ.
4.
Em cảm nhận như thế nào về sự thay đổi tâm trạng của cô gái từ lúc "mưa xuân
phơi phới bay” đến khi "mùa xuân đã cạn ngày"?
5.
Không gian mùa xuân của làng quê Bắc Bộ và dòng tâm trạng, cảm xúc của cô gái
có mối liên hệ như thế nào? Chỉ ra những hình ảnh thơ thể hiện mối liên hệ đó.
6.
Em có nhận xét gì về ngôn ngữ của bài thơ?
7.
Hãy nêu cảm hứng chủ đạo, chủ đề của bài thơ Mưa xuân và cho biết căn cứ vào
đâu em xác định chủ để đó.
Viết kết nối với đọc
Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) nêu cảm nhận của em về không gian mùa xuân
của làng quê Bắc Bộ được gợi lên trong bài thơ Mưa xuân.
Thực hành tiếng Việt
Nghĩa mới của từ ngữ và từ ngữ mới
1
Bên cạnh nghĩa gốc, các từ ngân hàng,
cổng, gạo cội, lăn tăn còn có nghĩa chuyển mới
xuất hiện. Hãy xác định nghĩa mới của mỗi từ và
đặt câu với từ được dùng theo nghĩa mới đó.
2
Tìm từ ngữ mới trong tiếng Việt được hình
thành theo hai cách sau (mỗi cách tìm 2 từ ngữ):
a.
Tạo từ ngữ mới trên cơ sở những từ ngữ có
sẵn trong tiếng Việt.
b.
Tiếp nhận từ ngữ tiếng nước ngoài.
3
Đọc các đoạn thơ sau trong bài Mưa xuân
và thực hiện yêu cầu nêu ở dưới:
a.
Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng với đầy
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ,
Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”.
b.
Lòng thấy giăng tơ một mối tình
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh
Hình như hai má em bừng đỏ
Có lẽ là em nghĩ đến anh.
Yêu cầu:
(1)
Xác định nghĩa của những từ ngữ in đậm.
(2)
Đặt câu với mỗi từ ngữ in đậm.
Biện pháp tu từ
4.
Xác định biện pháp tu từ trong các khổ thơ
sau của Mưa xuân và nêu tác dụng:
a.
Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già
Lòng trẻ còn như cây lụa trắng
Mẹ già chưa bán chợ làng xa.
Từ vựng của tiếng Việt luôn được mở
rộng, phát triển cùng với sự phát triển
của xã hội. Có những cách phát triển
từ vựng chủ yếu sau:
- Phát triển nghĩa của từ ngữ trên cơ
sở nghĩa gốc của nó. Ví dụ: ngôi sao
có nghĩa chỉ “thiên thể nhìn thấy như
điểm sáng lấp lánh trên bầu trời ban
đêm” , gần đây có thêm nghĩa chỉ
"người đạt thành tích nổi bật trong
biểu diễn nghệ thuật hoặc hoạt động
thể thao, được công chúng khán giả
hâm mộ"; chuột có nghĩa chỉ “thú gặm
nhấm, mõm nhọn, tai bầu dục, đuôi
thon dài, thường phá hại mùa màng
và có thể truyền bệnh dịch hạch”, gần
đây có thêm nghĩa chỉ “bộ phận của
máy tính, khi chuyển động trên một
mặt phẳng cho phép làm chuyển dịch
con chạy trên màn hình”. Sự chuyển
nghĩa ở những từ này dựa trên một số
điểm tương đồng giữa các đối tượng
được biểu thị. Những nghĩa chuyển
đó được coi là nghĩa mới. Nghĩa mới
của từ tuy xuất hiện trong thời gian
gần đây nhưng được sử dụng rộng rãi
trong giao tiếp.
- Tạo từ ngữ mới trên cơ sở những từ
ngữ đã có trong tiếng Việt. Ví dụ: kinh tế
tri thức (kinh tế + tri thức), năng lượng
xanh (năng lượng + xanh), máy bay
không người lái (máy bay + không +
người lái), sốt giá (sốt + giá), dữ liệu lớn
(dữ liệu + lớn), thư viện số (thư viện +
số), thư điện tử (thư + điện tử)....
- Tiếp nhận từ ngữ tiếng nước ngoài.
Ví dụ: in-tơ-nét, (quần) jean, (nhạc)
pop, (máy) photocopy, mít tinh,...
b.
Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm,
Em mải tìm anh chả thiết xem.
Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh,
Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em.
c.
Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay
Hòa xoan đã nát dưới chân giày
Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ
Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày.”
Văn bản 3
Đọc văn bản
Một kiểu phát biểu luận đề độc đáo của Xuân Diệu ở bài thơ Vội vàng
PHAN HUY DŨNG
Xuân Diệu có viết những truyện mà ông tự gọi là truyện tưởng. Chả cứ văn
xuôi, trong thơ ông cũng có những bài tưởng, luận đề. Vội vàng là một trong số đó.
Bài thơ đã được cấu tứ trên “luận để” này: phải tận hưởng gấp gấp những lạc
thú cuộc đời, bởi đời người hữu hạn, tuổi trẻ có kì mà thời gian trôi như nước xiết.
Có bao nhiêu đoạn thơ là có chừng ấy luận điểm khẳng định cơ sở của hành động “vội
vàng”. Giữa chúng, tưởng có thể đặt thêm những quan hệ từ như bởi lẽ (sau bốn câu
đầu), nhưng (sau chín câu tiếp đó), vì vậy (trước câu Mau đi thôi!...). Đây là một giả
định có cơ sở, bởi chính trong bài thơ, nếu không có những quan hệ từ vừa kể thì
các dạng câu và lớp từ rất đặc trưng của một văn bản đòi hỏi phải có sự lập luận
lô-gíc đã xuất hiện khá dày rồi (các câu: Muốn... cho, Nói làm chi... nếu, các từ:
nghĩa là, nên, phải chăng, cho,...).
Tuy nhiên, không nên từ đặc điểm khá nổi bật này mà đánh đồng giá trị thẩm
mĩ cá biệt, đích thực của bài thơ với giá trị luận để được nó chứng minh. Luận đề đó
tuy có nét mới mẻ so với thơ ca truyền thống nhưng chẳng phải là một “phát minh”
của tác giả Thơ thơ. Nó vốn là con đẻ của ý thức về cái tôi cá nhân trong văn học
phương Tây thế kỉ XIX và cũng có quan hệ xa gần với những niềm bâng khuâng ta
từng bắt gặp trong thơ ca cổ điển phương Đông của Lý Bạch (Cổ nhân bỉnh chúc
dạ du - Người xưa cầm đuốc chơi đêm), của Tô Thức (Chỉ khủng dạ thâm hoa thuy
khứ/ Cổ thiêu cao chúc chiếu hồng trang - Canh khuya những sợ rồi hoa ngủ/ Khêu
ngọn đèn cao ngắm vẻ hồng), của Nguyễn Trãi (Tiếc xuân cầm đuốc mảng chơi đêm)...
Thực ra, có lẽ trong ý thức sáng tạo, Xuân Diệu luôn nghĩ mình phát ngôn theo
sức hút của bản thân luận đề. Nhưng thực tế là: Luận để trở nên hấp dẫn, trở nên mới
mẻ chính nhờ phần cá biệt hoá của Xuân Diệu - cá biệt hoá bằng thứ cảm xúc nồng
nàn hình như chỉ riêng ông mới có.
Thoạt đầu, sự xuất hiện của hai “nhân vật” chính của bài thơ là tôi và cuộc đời
(hay thời gian) có vẻ giống như sự hình tượng hoá của luận đề. Nhưng do là một
nhà thơ của cảm giác, tác giả Vội vàng đã không bằng lòng với sự xuất hiện nhợt
nhạt của “nhân vật” và ông đã tìm cách làm cho nó sống dậy. Cuộc đời (hay thời
gian) không phải hiện ra như một khái niệm khô cứng mà như một thực thể sống
động mang nhiều tỉnh danh. Nó vừa là nắng, gió, vừa là tuần tháng mật, đồng nội
xanh rì, cành tơ phơ phất, khúc tình si, ánh sáng chớp hàng mi, cặp môi gân, vừa
là xuân, lượng trời, trời đất, tháng năm, sông núi, mùa,... Với nó, ta có thể tắt (Tôi
muốn tắt nắng đi), buộc (Tôi muốn buộc gió lại), hôn (Tháng Giêng ngon như một
cặp môi gần), cắn (Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!), ôm (Ta muốn ôm), riết
(Ta muốn riết mây đưa và gió lượn), say (Ta muốn say cánh bướm với tình yêu), thâu
(Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều),... Cũng vì nó, lòng ta dấy lên bao thứ tình
cảm, vừa bâng khuâng, tiếc nuối (Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời), vừa hờn
giận (Phải chăng hòn vì nỗi phải bay đi?), vừa sợ hãi (Phải chăng sợ độ phai tàn
sắp sửa?). Tất cả những hành động và tình cảm đó đều có cơ sở, bởi cuộc đời tổn
tại rất cụ thể bằng màu, hương, bằng âm thanh với cái ngon, vị ngọt riêng của nó.
Việc nhân hoá, hình tượng hoa cuộc đời được tác giả thực hiện đạt đến nỗi chính
ông cũng đâm ra tin chắc có sự hiện hình cụ thể của đối tượng ngay trước mắt mình.
Trong cơn tự kỉ ám thị ( ), nhà thơ hối hả níu giữ sắc màu, hương vị; tham lam vơ cả
bàn tiệc của cuộc đời vào vòng tay, cất tiếng van vỉ thời gian hãy dừng lại, giãy giụa
trong dự cảm tuyệt vọng (Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa...), rồi sực tỉnh và
quật lên trong cuộc chạy thi với thời gian (Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm)...
Đến lượt mình, chứng kiến cuộc đọ sức, giằng giật giữa hai “nhân vật”, độc giả bỗng
bị tác giả ám thị, bị nhịp điệu của bài thơ chi phối, cũng thở gấp theo “làn roi quất”
của thể thơ năm chữ với cách diễn tả đanh, gọn, cũng choáng ngợp với điệp ngữ này
đây mời mọc giữa sự chuyển điệu bất ngờ của bài thơ (từ câu năm chữ sang câu tám
chữ khai mở cảm xúc), cũng có một cảm giác ngon rất vật chất với câu Tháng Giêng
ngon như một cặp môi gần mà sự bố trí từ ngon rơi đúng vào chỗ ngắt nhịp đã tạo
nên một hiệu quả nghệ thuật tuyệt vời..., sau hết, cũng muốn reo vang cùng nhà thơ
trong lời phán định cuối cùng từ một tư thế khẳng định bản ngã đầy quyền uy của
một uy quyền xứng đáng: Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!...
Như vậy, sự “minh hoạ của Xuân Diệu ở bài Vội vàng đã không dẫn đến cái chết
của thơ ca mà ngược lại, nó làm cho tiếng nói của thơ ca trở nên say đắm hơn, vì
tiếng nói ấy cất lên từ vũ đài chiến thắng của một cá tính sáng tạo đối với cái xác
tư tưởng. Không nghi ngờ gì nữa, Xuân Diệu đã biến cái luận để chung chung kia
Tự kỉ ám thị tự làm mờ mắt mình", ở đây chỉ những suy nghĩ làm mờ khả năng nhận thức.
thành cái luận đề của riêng mình, thành sự chiêm nghiệm, thành điều tâm huyết
của một cá thể, một cá nhân mê say sự sống.
Ngoài những điều đã phân tích ở trên, có thể thấy thêm ngay trong cái khung lập
luận lô-gíc có vẻ cứng nhắc của kết cấu bài thơ, bản sắc Xuân Diệu cũng được thể
hiện rõ nét. Để “minh hoạ” luận đề, điều cần thiết là nêu các luận điểm. Nhưng đối
với Xuân Diệu, sự vắn tắt của luận điểm dường như không thể chứa đựng hết, hay
đúng hơn là buộc trói những nỗi niềm, những say sưa, chếnh choáng của ông. Để
thoát ra khỏi mâu thuẫn này, ông tận dụng triệt để thủ pháp liệt kê, coi trọng chất lượng
nhưng lại tham cả số lượng. Ai đó có thể tạm bằng lòng với một câu: Của ong bướm
này đây tuần tháng mật, nhưng Xuân Diệu thì không, ông phải nói nữa, nói mãi, nói
cho thoả. Cũng một ý đó, ngay ở đoạn này, ông đã kéo dôi bài thơ ra đến bốn câu.
Đến khi không thể không dừng lại, ông vẫn tiếc, vẫn còn cố nói với thêm được một
câu nữa: Và này đây ánh sáng chớp hàng mi... Chính câu thơ có liên từ và này và
một câu khác nữa. Và non nước, và cây, và cỏ rạng đã phản ánh hết sức sinh động
cá tính thơ Xuân Diệu: muốn giãi bày, muốn kể lể không thôi niềm yêu cuộc sống.
Đọc toàn bộ thơ Xuân Diệu, ta sẽ thú vị nhận ra một điều: tần suất xuất hiện của liên
từ và rất cao, kể cả khi nó không hiện diện trực tiếp, ta vẫn thấy bóng dáng nó thấp
thoáng khắp nơi, như một ám ảnh.
Và... và... và... đó là bàn tay ấm nóng của tác giả Thơ thơ, Gửi hương cho
gió chìa ra về mọi hướng trong một niềm khao khát giao cảm vô biên.
(Phan Huy Dũng, Tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông, một góc nhìn, một cách đọc,
NXB Giáo dục Việt Nam, 2009, tr. 116-118)
Sau khi đọc
Trả lời câu hỏi
1.
Căn cứ vào nhan đề bài viết, hãy xác định vấn đề được bàn luận trong bài nghị luận.
2.
Trong bài nghị luận, tác giả đã trình bày những luận điểm nào? Nêu mối quan hệ
giữa các luận điểm đó.
3.
Xác định các lí lẽ và bằng chứng mà tác giả sử dụng để làm sáng tỏ luận điểm được
trình bày trong phần (4).
4.
Trong bài nghị luận, tác giả có nêu ý kiến nhận xét trái chiều. Đó là ý kiến nào?
Việc nêu ý kiến đó có tác dụng gì?
5.
Thông qua bài nghị luận trên, em thấy tác giả có ý kiến như thế nào về quan niệm sống
của Xuân Diệu? Em có tán thành ý kiến đó không? Vì sao?
6.
Theo cảm nhận của tác giả bài nghị luận, trong "muôn điệu” của "tâm hồn” thơ,
bài thơ Vội vàng có đặc điểm riêng nào?
Viết
A. Tập làm một bài thơ tám chữ
Các nhà thơ là những nghệ sĩ dạo lên muôn vàn thanh âm diễn tả mọi rung động
tâm hồn của họ trước thế giới, để thiên nhiên, con người trở nên đẹp hơn. Trong phần
Đọc, em đã được học tri thức ngữ văn về thể thơ tám chữ. Hãy vận dụng những kiến
thức đã học ấy để thể hiện cảm xúc của mình qua việc tập làm một bài thơ tám chữ.
1
TRƯỚC KHI VIẾT
a. Lựa chọn đề tài
Cuộc sống quanh ta muôn màu muôn sắc, gợi cho ta rất nhiều thi hứng. Em có thể
chọn một đề tài đem lại cho mình nhiều cảm xúc nhất. Những đề tài gợi ý để em lựa
chọn: thiên nhiên, quê hương, đất nước, thầy cô, bạn bè, mái trường,...
b. Lựa chọn hình ảnh biểu đạt cảm xúc
- Từ đề tài đã chọn, tìm chi tiết, hình ảnh để lại trong em ấn tượng sâu sắc nhất,
gợi lên trong em nhiều rung động nhất, phù hợp với đề tài để gửi gắm tình cảm của
mình. Ví dụ: em có thể chọn hình ảnh cánh rừng, dòng sông, bầu trời, ngọn núi,... nếu
muốn viết về đề tài thiên nhiên; chọn hình ảnh lớp học, thầy cô, bạn bè,... nếu muốn
viết về đề tài mái trường;...
Sau khi tìm được chi tiết, hình ảnh đặc sắc, hãy xác định tình cảm, cảm xúc của mình:
yêu mến, nhớ thương, hạnh phúc, tự hào hay buồn, tiếc nuối, bâng khuâng,... Chẳng hạn:
nỗi buồn khi phải chia xa mái trường để nghỉ hè; những niềm vui bên thầy cô, bạn bè...
- Diễn tả dòng cảm xúc của em theo sự vận động của chi tiết, hình ảnh trong bài
thơ. Sử dụng những từ ngữ chọn lọc để biểu đạt chính xác nhất cảm xúc của em.
c. Gieo vần, ngắt nhịp
Ngắt nhịp linh hoạt theo mạch cảm xúc và nội dung biểu đạt, vì vậy nhịp có thể
tuân theo đặc điểm của thể thơ hoặc phá cách.
- Sử dụng vẫn chân; vẫn liền hoặc vẫn cách. Ví dụ:
Tôi hôm nay/ sống trong lòng/ miền Bắc
Sờ lên ngực/ nghe trái tim/ thẩm nhắc
Hai tiếng thiêng liêng/ hai tiếng miền Nam
Tôi nhớ không nguôi/ ánh sáng màu vàng
Tôi quên sao được/ sắc trời xanh biếc
Tôi nhớ cả/ những người/ không quen biết.
(Tế Hanh, Nhớ con sông quê hương)
Em hãy chọn tiếng thích hợp với chỗ trống trong những dòng thơ sau để tập gieo vần:
Gió nhẹ nhẹ, hương cỏ cây nhẹ nhẹ
Thoảng bay lên, hương mạ dưới đồng xa
Tự đâu đó, hương muôn hoa mới hé
Như khói trầm từ đỉnh rộng bao
Hơi xuân ấm trả cho trời đất lặng
Tiếng reo ca nhí nhảnh và ngây thơ
Của đàn sáo say phơi mình dưới ...
Chim nghệ vàng rỉa cánh trên nhành
(Theo Tố Hữu, Xuân lòng)
2
VIẾT
- Viết câu thơ đầu tiên: Có thể nêu ấn tượng của em về chi tiết, hình ảnh gợi cho em
nhiều cảm xúc hay giới thiệu, miêu tả đặc điểm của đối tượng được thể hiện trong bài
thơ. Chú ý tiếng cuối cùng của dòng thơ để gieo vần trong những dòng tiếp theo. Tuỳ
thuộc vào cảm xúc của em và nội dung biểu đạt trong câu thơ mà ngắt nhịp phù hợp.
Sau đó, hãy phát triển cảm xúc dựa trên câu thơ đầu tiên bằng cách diễn tả cảm xúc
về những chi tiết miêu tả cụ thể đối tượng, về những sự việc diễn ra với đối tượng....
- Sử dụng từ tượng thanh, tượng hình, từ láy; biện pháp tu từ như so sánh, nhân hoá,
ẩn dụ, điệp ngữ,... để tăng tính gợi hình, gợi cảm cho câu thơ.
Phần kết bài thơ, em có thể nêu những suy tư, chiêm nghiệm, thông điệp muốn
chuyển tải tới người đọc.
3
CHỈNH SỬA
Em cần chỉnh sửa để hoàn thiện bài thơ. Dựa trên những đặc trưng của thể thơ
tám chữ, rà soát xem bài thơ đã đảm bảo được các yêu cầu đó hay chưa. Nếu chưa thì
điều chỉnh. Em hãy xem xét bài thơ vừa làm trên những yêu cầu sau:
Hình thức nghệ thuật:
+ Đảm bảo đúng số lượng tiếng trong mỗi dòng thơ.
+ Gieo vần đúng quy định.
+ Nhịp thơ phù hợp với cảm xúc.
+ Có hình ảnh.
+ Sử dụng biện pháp tu từ.
Nội dung:
+ Cảm xúc tự nhiên, dung dị.
+ Có chủ đề, thông điệp.
B. Viết đoạn văn ghi lại cảm nghĩ về một bài thơ tám chữ
Ở các lớp 7, 8, em đã được học cách viết đoạn văn nêu cảm xúc về bài thơ bốn
chữ, năm chữ và đoạn văn nêu cảm nghĩ về một bài thơ tự do. Trong bài học này, em
sẽ được tìm hiểu cách viết đoạn văn nêu cảm nghĩ về một bài thơ tám chữ.
Yêu cầu:
Giới thiệu được bài thơ (nhan đề, tác giả); nêu ấn tượng chung về bài thơ.
- Nêu được cảm nghĩ về một số nét nổi bật trong nội dung và nghệ thuật của bài
thơ; chỉ ra tác dụng của thể thơ tám chữ trong việc tạo nên nét độc đáo của
bài thơ.
- Khái quát được cảm nghĩ về bài thơ.
Phân tích bài viết tham khảo
Tình yêu đất nước trong bài thơ Tiếng Việt của Lưu Quang Vũ
Bài thơ Tiếng Việt của nhà thơ Lưu Quang Vũ để lại
trong tôi niềm xúc động sâu xa về tình yêu quê hương, đất
nước. Tình yêu ấy biểu hiện dung dị qua tình yêu tiếng Việt
và ngân lên thành những lời ngợi ca ngôn ngữ dân tộc.
Cảm xúc của bài thơ khởi nguồn từ cảm nhận về sự hoà
quyện của tiếng Việt trong muôn vàn âm thanh, hình ảnh
của cuộc sống bình dị; thể hiện thành niềm tự hào về vẻ đẹp,
niềm tin vào sức mạnh trường tồn và lắng đọng trong ba
khổ thơ cuối với những băn khoăn, khắc khoải về tương lai của tiếng nói dân tộc.
Tiếng Việt biểu đạt tình cảm, suy tư của những người lao động, vang lên trong những
khung cảnh thân thương, gợi cảm xúc bâng khuâng đến nao lòng đối với mỗi người Việt:
tiếng mẹ gọi trên “Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về”, “Tiếng cha dặn khi vun cành
nhóm lửa/ Khi hun thuyền, gieo mạ, lúc đưa nôi”; tiếng kéo gỗ, tiếng gọi đò, câu hát
lời ru “rung rinh nhịp đập trái tim người”... Đó là tất cả những gì gần gũi, thân thiết,
máu thịt nhất đối với mỗi chúng ta. Tiếng Việt kết tinh từ bao giọt mồ hôi mặn chát,
những gừng cay muối mặn mà vẫn chan chứa những tâm
tình ngọt ngào, say đắm của nhân dân. Biện pháp tu từ so
sánh: “Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa/ Óng tre ngà và
mềm mại như tơ”, “Tiếng tha thiết, nói thường nghe như háť"
thể hiện sự cảm nhận tinh tế, sâu sắc của nhà thơ về bản sắc
dân tộc kết tinh trong tiếng nói: vừa mộc mạc, chân chất, vừa
tinh tế, uyển chuyển, giàu nhạc tính. Biện pháp tu từ ẩn dụ:
Giới thiệu bài thơ
(nhan đề, tác giả) và
nêu ấn tượng chung
về bài thơ.
Nêu cảm nghĩ về nội
dung bài thơ.
Nêu cảm nghĩ về hình
thức nghệ thuật của
bài thơ (hình ảnh, biện
pháp tu từ, đặc điểm
thể thơ tám chữ) và tác
dụng trong việc biểu
đạt nội dung.
“Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối” diễn tả một cách hình ảnh, nhấn mạnh khả năng
gọi liên tưởng của ngôn ngữ dân tộc. Những câu thơ rất dung dị nhưng càng ngẫm càng
thấy thấm thía, xúc động, khiến người đọc tự hào về vẻ đẹp của tiếng Việt. Không
những đẹp, tiếng Việt còn có sức mạnh kì diệu. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử,
tiếng Việt vẫn như dòng sông chảy muôn đời lưu giữ truyền thống yêu nước, nhân ái,
hoà hợp dân tộc của người Việt Nam; là sợi dây kết nối tâm hồn, tư tưởng của mọi cá
nhân trong cộng đồng cũng như những người con lưu lạc, xa xứ. Trong ba khổ thơ
cuối, nhà thơ bày tỏ mối băn khoăn, dự cảm về tương lai của tiếng Việt bằng câu hỏi:
“Ai người sau nói tiếp những lời yêu?”. Từ tình cảm yêu mến, tự hào về tiếng nói dân
tộc, nhà thơ bày tỏ tình yêu và sự kính trọng nhân dân bởi chính họ – những người lao
động kéo gỗ, chèo đò, dệt lụa, ăn cầu ngủ quán... - đã sáng tạo, đổ mồ hôi, công sức
vun đắp cho tiếng Việt ngày càng giàu đẹp hơn và chịu đựng gian khổ, hi sinh, đổ máu
để cho tiếng Việt mãi mãi là tiếng nói của một dân tộc có chủ
quyền. Vẻ đẹp, sự kì diệu
của tiếng Việt cũng là vẻ đẹp, sự kì diệu của tâm hồn nhân
dân, dân tộc Việt Nam. Thể thơ tám chữ với lối gieo vần và
cách ngắt nhịp tương đối linh hoạt khiến cho bài thơ trở
thành một bản nhạc nhiều âm điệu... Bài thơ, với nội dung
tư tưởng lớn lao, sâu sắc được thể hiện trong một hình thức dung dị mà tài hoa đã làm
rung động trái tim biết bao thế hệ người đọc.
Khái quát cảm nghĩ về
bài thơ.
(Nhóm biên soạn)
Thực hành viết theo các bước
a. Lựa chọn bài thơ
Hãy chọn trong số những bài thơ em đã
học, đã đọc một bài thơ tám chữ mà em có
ấn tượng sâu sắc và cảm nhận được giá trị
nội dung và nghệ thuật của nó.
b. Tìm ý
Căn cứ vào yêu cầu của đoạn văn nêu cảm nghĩ về một bài thơ tám chữ, em hãy
tiến hành những công việc sau:
- Đọc kĩ bài thơ và ghi lại đặc điểm của tác phẩm trên các phương diện:
+ Vần thơ, nhịp thơ; chú ý những nét đặc sắc trong cách gieo vần, ngắt nhịp của
bài thơ so với cách gieo vần, ngắt nhịp đặc trưng của thể thơ tám chữ.
+ Nội dung và mạch cảm xúc của bài thơ với những trạng thái, cung bậc cụ thể.
Trình bày cảm nghĩ về một bài thơ tám
chữ, qua đó giúp người đọc cảm nhận
được cái hay, cái đẹp của bài thơ.
Những người yêu thơ, mong muốn tìm
hiểu về bài thơ.
+ Những hình ảnh độc đáo, từ ngữ đặc sắc, biện pháp tu từ sáng tạo,... mà tác giả
sử dụng để biểu đạt các cung bậc cảm xúc.
+ Chủ đề, thông điệp của bài thơ.
Ghi lại cảm nghĩ chung của em về bài thơ.
c. Lập dàn ý
Em hãy lập dàn ý theo gợi ý dưới đây:
- Mở đoạn:
+ Giới thiệu bài thơ (nhan đề, tác giả).
+ Nêu ấn tượng chung về bài thơ.
Thân đoạn:
+ Trình bày cảm nghĩ về nội dung (mạch cảm xúc, chủ đề, thông điệp,...) của
bài thơ.
+ Nêu cảm nghĩ về những yếu tố nghệ thuật và tác dụng của chúng trong việc
biểu đạt nội dung; nêu tác dụng của thể thơ tám chữ trong việc tạo nên nét đặc sắc
của bài thơ.
Kết đoạn: Khái quát cảm nghĩ về bài thơ.
2
VIẾT BÀI
Viết các câu văn phù hợp để triển khai những nội dung đã xác định trong dàn ý.
Các câu cần hướng về chủ đề chung của đoạn để tạo sự mạch lạc cho đoạn văn.
- Sử dụng các từ ngữ diễn tả chân thực, chính xác cảm nghĩ về bài thơ; lưu ý sử dụng
từ ngữ liên kết để đoạn văn được chặt chẽ về hình thức.
3
CHỈNH SỬA BÀI VIẾT
Sau khi hoàn thành bài viết, em hãy rà soát và chỉnh sửa theo những gợi ý dưới đây:
Phần Mở đoạn đã giới thiệu được tên bài thơ, tác giả và nêu ấn tượng, cảm nghĩ
chung của em về bài thơ chưa? Bổ sung nếu còn thiếu.
Phân Thân đoạn đã sử dụng những từ ngữ biểu đạt cảm nghĩ về mạch cảm xúc,
chủ đề, thông điệp và những yếu tố nghệ thuật đặc sắc của bài thơ hay chưa? Các câu
có cùng hướng về một chủ đề và có các từ ngữ liên kết phù hợp hay không? Bổ sung
hoặc điều chỉnh nếu chưa đáp ứng được yêu cầu.
Phần Kết đoạn đã nêu khái quát cảm nghĩ về bài thơ chưa? Nếu chưa đáp ứng
được yêu cầu thì cần chỉnh sửa hoặc viết lại.
Nói và nghe
Thảo luận về một vấn đề đáng quan tâm trong đời sống phù hợp với lứa tuổi (được gợi ra từ tác phẩm văn học)
Giữa văn học và cuộc sống có mối quan hệ phong phú. Thông qua các tác
phẩm văn học, người đọc có thể cảm nhận được muôn mặt của cuộc sống. Nhiều
vấn đề thực tiễn được các tác giả phản ánh trong tác phẩm gợi cho bạn đọc những
suy tư, trăn trở, mong muốn tìm ra giải pháp giúp xã hội văn minh, tiến bộ hơn.
Trong bài học này, em sẽ thảo luận về một vấn đề đời sống phù hợp với lứa tuổi
được gợi ra từ tác phẩm văn học đã học để rèn luyện kĩ năng thảo luận về một vấn
để sao cho hiệu quả.
1
TRƯỚC KHI THẢO LUÂN
Để chuẩn bị cho hoạt động thảo luận, cần
thực hiện các bước chuẩn bị trước khi thảo luận
như đã thực hành ở bài 2, bài 4, bài 5.
Đề tài thảo luận là một vấn đề đáng quan tâm
trong đời sống phù hợp với lứa tuổi được gọi ra từ
tác phẩm văn học đã học như bài thơ Tiếng Việt
(Lưu Quang Vũ), Mưa xuân (Nguyễn Bính).... Có
thể chọn thảo luận một trong những vấn đề sau:
tiếng Việt trên các vùng miền của đất nước; những
hiện tượng ảnh hưởng tiêu cực đến tiếng Việt; vai trò
của thế hệ trẻ đối với sự phát triển của tiếng Việt;
ý nghĩa của thơ ca đối với đời sống con người....
2
THẢO LUẬN
Mở đầu: Người chủ trì nêu vấn đề thảo luận đã được thống nhất ở phần chuẩn bị.
Triển khai:
+ Các thành viên tham gia thảo luận phát biểu ý kiến dưới sự điều hành của người
chủ trì. Cần chú ý theo dõi những ý kiến trước đó để nắm được nội dung thảo luận. Khi
trình bày ý kiến của mình về vấn đề, nếu đồng tình với phát biểu nào trước đó thì nêu ý
kiến tán thành; nếu không đồng tình thì có thể nêu ý kiến phản đối. Dù đồng tình hay phản
đối thì người phát biểu cũng cần đưa ra những lí lẽ, bằng chứng xác đáng.
+ Các thành viên tham gia phát biểu trao đổi, giải đáp thoả đáng ý kiến góp ý và
câu hỏi từ phía người nghe với tinh thần cầu thị, tôn trọng các quan điểm khác biệt.
+ Thư kí ghi chép nội dung các ý kiến thảo luận thành biên bản.
Kết thúc: Dựa trên các ý kiến đã trao đổi, thảo luận, người chủ trì tổng kết các nội
dung chính đã thảo luận; khẳng định ý nghĩa của việc thảo luận về vấn đề, cảm ơn sự
đóng góp của các thành viên tham gia.
Giúp những người tham gia
thảo luận hiểu vấn đề một cách
đầy đủ, sâu sắc và có giải pháp
phù hợp; các thành viên tham
dự thêm thấu hiểu lẫn nhau.
Các thành viên tham gia cuộc
thảo luận và những người yêu
thích văn học, quan tâm đến
mối quan hệ giữa văn học với
đời sống.
3
ĐÁNH GIÁ
Đánh giá về ý nghĩa của vấn đề thảo luận (tính thiết thực đối với đời sống của
lứa tuổi học sinh); chất lượng các ý kiến phát biểu (sự tập trung vào vấn đề trọng tâm,
tính độc đáo của các ý kiến, cách sử dụng lí lẽ và bằng chứng....); mức độ giải quyết vấn
đề qua các ý kiến thảo luận (tính thiết thực, khả thi của giải pháp mà các ý kiến nêu ra).
Trao đổi, rút kinh nghiệm về sự kết hợp ngôn ngữ nói với ngôn ngữ cơ thể và hiệu
quả sử dụng các phương tiện hỗ trợ; cách tổ chức, điều hành cuộc thảo luận (vai trò
của người chủ trì, thư kí, các thành viên tham gia thảo luận; sự cởi mở, thân thiện, sôi nổi
của không khí thảo luận;...).
Củng cố, mở rộng
1.
Lập bảng ghi lại những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của hai bài thơ
Tiếng Việt (Lưu Quang Vũ), Mưa xuân (Nguyễn Bính).
2.
Tìm đọc một số bài thơ của Lưu Quang Vũ và Nguyễn Bính. Trao đổi với các bạn
về những nét đặc sắc trong sáng tác của mỗi nhà thơ.
3.
Tìm đọc một số bài thơ sáu chữ, bảy chữ, tám chữ. Ghi vào nhật kí đọc sách
cảm nhận của em về những bài thơ đó.
4.
Chia sẻ quan niệm về thơ ca, Thế Lữ viết:
Với Nàng Thơ, tôi có đàn muôn điệu;
Với Nàng Thơ, tôi có bút muôn màu.
(Cây đàn muôn điệu)
Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) trình bày suy nghĩ của em về quan niệm đó.
Thực hành đọc
Khi đọc văn bản dưới đây, em cần chú ý những vấn đề sau:
- Số tiếng trong mỗi dòng, số dòng trong mỗi khổ thơ, vẫn và nhịp thơ.
Bố cục, kết cấu, mạch cảm xúc của bài thơ.
- Những hình ảnh nổi bật, biện pháp tu từ đặc sắc trong bài thơ.
- Chủ đề của bài thơ và căn cứ để xác định chủ đề.
1 trước khi thảo luân
Mục đích thảo luận
Giúp những người tham gia
thảo luận hiểu vấn đề một cách
đầy đủ, sâu sắc và có giải pháp
phù hợp; các thành viên tham
dự thêm thấu hiểu lẫn nhau.
Người nghe
Các thành viên tham gia cuộc
thảo luận và những người yêu
thích văn học, quan tâm đến
mối quan hệ giữa văn học với
đời sống.
2 thảo luận
Triển khai:
+ Các thành viên tham gia thảo luận phát biểu ý kiến dưới sự điều hành của người
chủ trì. Cần chú ý theo dõi những ý kiến trước đó để nắm được nội dung thảo luận. Khi
trình bày ý kiến của mình về vấn đề, nếu đồng tình với phát biểu nào trước đó thì nêu ý
kiến tán thành; nếu không đồng tình thì có thể nêu ý kiến phản đối. Dù đồng tình hay phản
đối thì người phát biểu cũng cần đưa ra những lí lẽ, bằng chứng xác đáng.
+ Các thành viên tham gia phát biểu trao đổi, giải đáp thoả đáng ý kiến góp ý và
câu hỏi từ phía người nghe với tinh thần cầu thị, tôn trọng các quan điểm khác biệt.
+ Thư kí ghi chép nội dung các ý kiến thảo luận thành biên bản.
Kết thúc: Dựa trên các ý kiến đã trao đổi, thảo luận, người chủ trì tổng kết các nội
dung chính đã thảo luận; khẳng định ý nghĩa của việc thảo luận về vấn đề, cảm ơn sự
đóng góp của các thành viên tham gia.
3 đánh giá
1. Lập bảng ghi lại những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của hai bài thơ
Tiếng Việt (Lưu Quang Vũ), Mưa xuân (Nguyễn Bính).
2. Tìm đọc một số bài thơ của Lưu Quang Vũ và Nguyễn Bính. Trao đổi với các bạn
về những nét đặc sắc trong sáng tác của mỗi nhà thơ.
3. Tìm đọc một số bài thơ sáu chữ, bảy chữ, tám chữ. Ghi vào nhật kí đọc sách
cảm nhận của em về những bài thơ đó.
4. Chia sẻ quan niệm về thơ ca, Thế Lữ viết:
Với Nàng Thơ, tôi có đàn muôn điệu;
Với Nàng Thơ, tôi có bút muôn màu.
(Cây đàn muôn điệu)
Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) trình bày suy nghĩ của em về quan niệm đó.
Miền quê
NGUYỄN KHOA ĐIỂM
Lại về mảnh trăng đầu tháng
Mông lung mặt đồng bóng chiều,
Tiếng ếch vùi trong cỏ ấm
Lúa mềm như vai thân yêu
Mùa xuân, là mùa xuân đấy
Thả chim, cỏ nội hương đồng
Đàn trâu bụng tròn qua ngõ
Gõ sừng lên mảnh trăng cong
Có gì xôn xao đằm thắm
Bao nhiêu trông đợi chóng chầy
Đàn em tóc dài mười tám
Thương người ra lính hôm mai
Để rồi bao nhiêu gió thổi
Bên giếng làng, ngoài bến sông
Có tiếng hát như con gái
Cao cao như vầng trăng trong...
(Thơ Nguyễn Khoa Điềm, Tuyển tập 40 năm do tác giả chọn,
NXB Văn học, Hà Nội, 2011, tr. 72)
Đọc mở rộng
1 Tìm đọc một số truyện trinh thám và một số bài thơ sáu chữ, bảy chữ, tám chữ.
Ghi vào nhật kí đọc sách những thông tin quan trọng mà em thu nhận được từ văn bản.
2 Trao đổi với các bạn về:
Chủ đề, không gian, thời gian, chi tiết, cốt truyện, nhân vật chính, lời người
kể chuyện trong một truyện trinh thám em đã đọc; những thay đổi trong suy nghĩ,
tình cảm, lối sống và cách thưởng thức, đánh giá của em sau khi đọc truyện.
- Chủ đề và căn cứ để xác định chủ đề; cảm xúc, cảm hứng chủ đạo của người viết;
những nét độc đáo về hình thức của bài thơ sáu chữ, bảy chữ, tám chữ em đã đọc
thể hiện qua bố cục, kết cấu, ngôn ngữ, biện pháp tu từ.
3 Học thuộc lòng một số đoạn thơ, bài thơ sáu chữ, bảy chữ, tám chữ mà em yêu thích.
Xem bản PDF nguyên trang sách: Ngữ văn 9 tập 2 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 44–65).
