B
Bán đào (96): bộ phận đất liền nhô ra biển hoặc đại dương có ba mặt tiếp giáp với nước, còn một mặt gắn với lục địa.
Bảo vệ môi trường (104): tập hợp các biện pháp giữ gìn, sử dụng hoặc phục hồi một cách hợp lí sinh giới (vì sinh vật, thực vật, động vật) và môi sinh (đất, nước, không khí, lòng đất, khí hậu....), nghiên cứu thử nghiệm thiết bị sử dụng tài nguyên thiên nhiên, áp dụng công nghệ ít có hoặc không có phế liệu,... nhằm tạo ra một không gian tối ưu cho cuộc sống của con người.
Bồn địa (110): địa hình trũng, thấp, dạng lòng chảo hình thành do kết quả của nhiều quá trình địa chất như sự sụt lún của một bộ phận vỏ Trái Đất, sự bào mòn của băng hà....
C
Cảnh quan (theo nghĩa rộng) (113): toàn cảnh của một vùng, một khu vực trên bề mặt Trái Đất có những đặc điểm nhất định về thiên nhiên, động vật, thực vật, khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng, môi trường....
Châu lục (96): bộ phận của thế giới bao gồm nhiều quốc gia nằm trên các đại lục và các đảo phụ thuộc.
Chúng tộc (115): một quần thể hay những nhóm người hình thành trong lịch sử trên một lãnh thổ nhất định cùng chung về một số đặc điểm mang tính di truyền (màu da, tóc, mũi,...) liên quan đến nguồn gốc, môi trường sống, phong tục tập quán....
Cơ cấu dân cư (cơ cấu dân số) (101): Sự phân chia tổng số dân của một nước hay một vùng thành các nhóm, các bộ phận theo một tiêu chỉ đặc trưng nhất định gọi là cơ cấu dân số.
D
Dân cư (101): tất cả những người dân sinh sống trên một lãnh thổ.
Di dân (hay chuyển cư) (134): di chuyển dân cư trong nội bộ quốc gia ( từ nông thôn ra thành thị và ngược lại, hoặc từ vùng này sang vùng khác), từ nước này sang nước khác (di dân quốc tế).
Đ
Đài nguyên (đồng rêu) (100): cảnh quan ở những vùng gần cực hay trên đỉnh của những dãy núi cao. Thực vật chủ yếu là rêu, địa y và cây bụi thấp.
Ấn Độ giáo (đạo Hin-đu) (116): tôn giáo chinh, cổ xưa nhất của người Ấn Độ. Đạo Hin-đu không có người sáng lập, không có giáo chủ, không có giáo điều mà chỉ là sự tổng hợp các hệ tín ngưỡng, triết học được hoàn thiện dần dần trong lịch sử của Ấn Độ.
Đô thị hoá (102): quá trình phát triển các thành phố trong một quốc gia hoặc quả trinh làm cho các điềm quần cư có tính chất đô thị.
Đô thị hoá tự phát (152): sự phát triển thành phố do tăng quá mức dân cư đô thị và do dân di cư từ các vùng khác đến, đặc biệt là từ nông thôn, dẫn tới nạn thất nghiệp, thiếu nhà ở, dịch bệnh.... Đô thị hoá tự phát thường xảy ra ở nước chậm phát triển, ở những nơi có mức sống quá chênh lệch giữa thành thị và nông thôn.
E
Eo đất (139): dải đất hẹp phân cách hai biển và nối hai vùng đất rộng hoặc hai lục địa với nhau.
Bán đào (96): bộ phận đất liền nhô ra biển hoặc đại dương có ba mặt tiếp giáp với nước, còn một mặt gắn với lục địa.
Bảo vệ môi trường (104): tập hợp các biện pháp giữ gìn, sử dụng hoặc phục hồi một cách hợp lí sinh giới (vì sinh vật, thực vật, động vật) và môi sinh (đất, nước, không khí, lòng đất, khí hậu....), nghiên cứu thử nghiệm thiết bị sử dụng tài nguyên thiên nhiên, áp dụng công nghệ ít có hoặc không có phế liệu,... nhằm tạo ra một không gian tối ưu cho cuộc sống của con người.
Bồn địa (110): địa hình trũng, thấp, dạng lòng chảo hình thành do kết quả của nhiều quá trình địa chất như sự sụt lún của một bộ phận vỏ Trái Đất, sự bào mòn của băng hà....
Cảnh quan (theo nghĩa rộng) (113): toàn cảnh của một vùng, một khu vực trên bề mặt Trái Đất có những đặc điểm nhất định về thiên nhiên, động vật, thực vật, khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng, môi trường....
Châu lục (96): bộ phận của thế giới bao gồm nhiều quốc gia nằm trên các đại lục và các đảo phụ thuộc.
Chúng tộc (115): một quần thể hay những nhóm người tự nhiên hình thành trong lịch sử trên một lãnh thổ nhất định cùng chung về một số đặc điểm mang tính di truyền (màu da, tóc, mũi,...) liên quan đến nguồn gốc, môi trường sống, phong tục tập quán....
Cơ cấu dân cư (cơ cấu dân số) (101): Sự phân chia tổng số dân của một nước hay một vùng thành các nhóm, các bộ phận theo một tiêu chỉ đặc trưng nhất định gọi là cơ cấu dân số.
Dân cư (101): tất cả những người dân sinh sống trên một lãnh thổ.
Di dân (hay chuyển cư) (134): di chuyển dân cư trong nội bộ quốc gia ( từ nông thôn ra thành thị và ngược lại, hoặc từ vùng này sang vùng khác), từ nước này sang nước khác (di dân quốc tế).
Đài nguyên (đồng rêu) (100): cảnh quan ở những vùng gần cực hay trên đỉnh của những dãy núi cao. Thực vật chủ yếu là rêu, địa y và cây bụi thấp.
Ấn Độ giáo (đạo Hin-đu) (116): tôn giáo chinh, cổ xưa nhất của người Ấn Độ. Đạo Hin-đu không có người sáng lập, không có giáo chủ, không có giáo điều mà chỉ là sự tổng hợp các hệ tín ngưỡng, triết học được hoàn thiện dần dần trong lịch sử của Ấn Độ.
Đô thị hoá (102): quá trình phát triển các thành phố trong một quốc gia hoặc quả trinh làm cho các điềm quần cư có tính chất đô thị.
Đô thị hoá tự phát (152): sự phát triển thành phố do tăng quá mức dân cư đô thị và do dân di cư từ các vùng khác đến, đặc biệt là từ nông thôn, dẫn tới nạn thất nghiệp, thiếu nhà ở, dịch bệnh.... Đô thị hoá tự phát thường xảy ra ở nước chậm phát triển, ở những nơi có mức sống quá chênh lệch giữa thành thị và nông thôn.
Eo đất (139): dải đất hẹp phân cách hai biển và nối hai vùng đất rộng hoặc hai lục địa với nhau.
Gấu túi (159): loài thú đặc trưng chỉ sống ở Ô-xtrây-li-a, có bộ lông mềm, màu xám, dưới bụng có một túi ấp đề nuôi con.
Gió mùa (111): gió thay đổi hướng theo mùa, hướng gió thịnh hành thay đổi mạnh từ mùa đông sang mùa hè và gần như ngược chiều nhau. Gió mùa có đặc trưng là thổi theo một hướng khá ổn định trong mỗi mùa.
Hoang mạc hoá (132): quá trình và hiện tượng đất bị khô cần, cây cỏ tự nhiên không mọc lại được, cây trồng không trồng lại được.
Ki-tô giáo (116): tôn giáo xuất hiện vào đầu Công nguyên. Từ thế kỉ III trở thành quốc giáo của La Mã và là một trong những tôn giáo có nhiều tín đồ nhất trên thế giới.
Lục địa (96): khối đất liền lớn trên bề mặt Trái Đất, xung quanh có biển và đại dương bao bọc.
Mật độ dân số (116): số dân trung binh binh sống trên một đơn vị diện tích lãnh thổ (đơn vị: người/km²).
Nhập cư (103): sự di chuyển nơi cư trú của những người từ nơi khác đến một lãnh thổ nào đó hoặc của những người nước ngoài không có quốc tịch của một nước nào đó đến để định cư vì các lí do khác nhau như kinh tế, chính trị, tôn giáo, chủng tộc. Nhập cư có thể hợp pháp hoặc trái phép.
Núi già (98): được hình thành từ thời cổ đại. Các khối núi này đã bị bào mòn, hạ thấp độ cao và có hình dáng mềm mại.
Núi trẻ (98): được hình thành trong thời gian gần đây. Các núi trẻ ít bị bào mòn, hình dáng núi còn sắc sảo với các đỉnh cao và nhọn.
Ô liu (137): một loài cây thân gỗ, mọc ở vùng Địa Trung Hải, hạt dùng để ép lấy dầu ăn.
Phát kiến địa lí (139): thuật ngữ dùng có tính quy ước để chỉ những phát hiện mới về địa lì của các nhà thám hiểm châu Âu ở thế kỉ XV – XVI trong việc tìm đường mới sang phương Đông để tim châu báu, hương liệu....
Rừng lá cứng (100): rừng phát triển ở vùng cận nhiệt đới có mùa đông mưa nhiều và mùa hè khô nóng, với thành phần thực vật là loài cây có lá thường xanh, cứng, có lớp sáp che phủ.
Rừng lá kim (rừng tai-ga) (99): rừng của môi trường ôn đới lạnh, gồm các cây có là hình kim.
Rừng hỗn hợp (Rừng hỗn giao) (99): rừng của môi trường ôn đới, vừa có cây là rộng, vừa có cây lá kim, xanh quanh năm.
Rừng lá rộng (99): rừng của môi trường ôn đới, gồm các cây có lá rộng bản, rụng lá về mùa đông.
Thảo nguyên (100): đồng cỏ vùng ôn đới, cô khi hậu hanh khô, ít mưa.
Tây Á (121): theo phân chia của Liên hợp quốc, Tây Á bao gồm các nước A-rập Xê-út, I-rắc, Ca-ta, Các Tiểu vương quốc A-rập Thống nhất (UAE), Ba-ranh, Cô-oét, -man, Y-é-men, Xi-ri, Li-băng, Gioóc-đa-ni , Pa-le-xtin, I-xra-en, Thổ Nhĩ Kỳ, Ác-mê-ni-a, A-déc-bai-gian, Gru-di-a. Trước đây, Tây còn gọi là Tây Nam Á.
Vành đai xanh (137): tên một dự án trồng hàng triệu cây xanh tạo thành bức tường tự nhiên dài hơn 8000 km chạy từ đông sang tây của lục địa Phi, được khởi động từ năm 2007. Dự án này nhằm mục đích ngăn chặn sự mở rộng của hoang mạc Xa-ha-ra.
Xem bản PDF nguyên trang sách: Lịch sử và Địa lí 7 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 177–183).
