Yêu cầu cần đạt

  • Nhận biết và phân tích được một số yếu tố của hài kịch như: xung đột, hành động, nhân vật, lời thoại, thủ pháp trào phúng.
  • Nhận biết được một số yếu tố của truyện cười như: cốt truyện, bối cảnh, nhân vật và ngôn ngữ.
  • Nhận biết được câu hỏi tu từ, nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn của câu; nêu được tác dụng của việc sử dụng câu hỏi tu từ và nghĩa hàm ẩn; giải thích được nghĩa của một số câu tục ngữ thông dụng.
  • Viết được bài văn nghị luận về một vấn đề đời sống; nêu được lí lẽ, bằng chứng thuyết phục.
  • Trình bày được ý kiến về một vấn đề xã hội; nghe và tóm tắt được nội dung thuyết trình của người khác.
  • Có ý thức tránh những việc làm kệch cỡm, lố lăng; hướng đến cách ứng xử phù hợp.

Cái hài đánh trúng hơn bất kì vũ khí nào.

(Tục ngữ Pháp)

Giới thiệu bài học

Cuộc sống không thể thiếu tiếng cười. Có tiếng cười vui, sảng khoái; có tiếng cười đầy sức mạnh, có thể góp phần loại bỏ những cái xấu trong đời sống. Điều gì làm chúng ta cười? Con người đã dùng những cách thức, những loại hình nghệ thuật nào để tạo nên tiếng cười trước những thói tật của chính mình? Em sẽ tìm thấy một phần câu trả lời qua bài học này.

Ở bài học trước, em đã làm quen với những biểu hiện của tiếng cười qua thơ trào phúng Đường luật. Trong bài học này, em tiếp tục khám phá những cách thức tạo ra tiếng cười ở các văn bản thuộc thể loại hài kịch và truyện cười. Những bài ca dao trào phúng kết nối với chủ đề bài học sẽ cho em hiểu rõ hơn ý nghĩa phong phú và biểu hiện đa dạng của tiếng cười trong văn học.

Đọc

Tri thức ngữ văn

Hài kịch

Hài kịch là một thể loại của kịch(1), hướng vào sự cười nhạo cái xấu xa, lố bịch, lạc hậu,... đối lập với các chuẩn mực về cái tốt đẹp, tiến bộ. Trong hài kịch có nhiều hình thức xung đột, nhưng phổ biến nhất là sự không tương xứng giữa cái bên trong với cái bên ngoài. Xung đột kịch biểu hiện qua hành động kịch với các sự việc, tình huống gây cười. Nhân vật chính trong hài kịch là những kiểu người có tính cách tiêu biểu cho các thói xấu đáng phê phán: hà tiện, tham lam, kiêu căng, khoe mẽ,... Lời đối thoại trong hài kịch mang đậm tính khẩu ngữ; cấu trúc đối thoại dựa trên những nội dung đối nghịch. Hài kịch thường sử dụng các thủ pháp trào phúng như: tạo tình huống kịch tính, cải trang; dùng điệu bộ gây cười; dùng thủ pháp phóng đại, chơi chữ, gây hiểu lầm, thoại bỏ lửng, nhại,...

Truyện cười

Truyện cười là một thể loại tự sự có dung lượng nhỏ, dùng tiếng cười nhằm chế giễu những thói hư tật xấu, những điều trái tự nhiên, trái thuần phong mĩ tục của con người và còn nhằm mục đích giải trí. Truyện cười thường ngắn, cốt truyện tập trung vào sự việc có yếu tố gây cười, tình huống trớ trêu, những nghịch lí trong đời sống,... Bối cảnh được xây dựng trong truyện cười thường bị cường điệu so với thực tế, có yếu tố bất ngờ. Nhân vật chính trong truyện cười thường là đối tượng bị chế giễu. Ngôn ngữ truyện cười dân dã, nhiều ẩn ý.

Truyện cười thường là truyện dân gian, tuy nhiên cũng có cả ở hình thức truyện kể của văn học viết.

Câu hỏi tu từ

Câu hỏi tu từ là câu hỏi không dùng để hỏi mà để khẳng định, phủ định, bộc lộ cảm xúc,... Khác với câu hỏi thông thường, câu hỏi tu từ được sử dụng nhằm đạt một số hiệu quả giao tiếp như tăng sắc thái biểu cảm, biểu đạt ý nghĩa một cách tế nhị, uyển chuyển.

Nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn của câu

Nghĩa tường minh là nghĩa được diễn đạt trực tiếp bằng các từ ngữ trong câu. Nghĩa hàm ẩn là nghĩa được suy ra từ nghĩa tường minh của cả câu, từ nghĩa của từ ngữ trong câu và từ ngữ cảnh sử dụng câu.

(1)

Kịch: loại hình nghệ thuật tổng hợp, vừa thuộc sân khấu, vừa thuộc văn học, trong đó, kịch bản là phương diện văn học của kịch.

Văn bản đọc

VĂN BẢN 1.

Trưởng giả học làm sang (trích), Mô-li-e (Molière)

VĂN BẢN 2.

Chùm truyện cười dân gian Việt Nam

VĂN BẢN 3.

Chùm ca dao trào phúng

Văn bản 1

Trước khi đọc

Hãy chia sẻ những cảm nhận của em về một diễn viên hài hoặc bộ phim, tiểu phẩm, chương trình hài mà em yêu thích.

Đọc văn bản

Trưởng giả học làm sang

Trích, MÔ-LI-E
HỒI THỨ HAI
LỚP V
PHÓ MAY(3), THỢ BẠN(4)
(Mang bộ lễ phục(5) của ông Giuốc-đanh)
ÔNG GIUỐC-ĐANH, NHỮNG TÊN HẦU

Theo dõi

Cách trình bày văn bản kịch bản (chỉ dẫn, lời thoại).

Ông Giuốc-đanh:
  • À! Bác đã tới đấy à! Tôi đang sắp phát cáu lên với bác đấy.
Phó may:
  • Tôi không làm sao đến sớm hơn được, ấy là tôi đã cho hai chục chú thợ bạn xúm lại chiếc áo của ngài đấy.
Ông Giuốc-đanh:
  • Bác đã gửi đến cho tôi đôi tất lụa chật quá, tôi khổ sở vô cùng mới xỏ chân vào được, và đã đứt mất hai mắt rồi đấy.
Phó may:
  • Rồi nó giãn ra, lo lại không rộng quá ấy chứ.
(1)

Trưởng giả: người xuất thân bình dân, nhờ làm ăn buôn bán mà giàu có.

(2)

Trưởng giả học làm sang là một vở kịch 5 hồi. Nhân vật trung tâm của vở kịch là ông Giuốc-đanh (Jourdain), con một nhà buôn giàu có. Lão là người ít hiểu biết. Do rất tôn sùng giới quý tộc nên lão muốn học theo những cung cách quý tộc để "làm sang". Lão còn mơ tưởng đến một bà hầu tước, muốn bày tỏ tình yêu với bà. Nhiều người, trong đó có cả một vị bá tước là Đô-răng (Dorante), đã lợi dụng tính cách đó để moi tiền lão. Lão không đồng ý cho con gái Luy-xin (Luxile) lấy chàng Clê-ông (Cléonte) vì chàng không phải là quý tộc. Được đầy tớ bày mưu, Clê-ông cải trang thành hoàng tử Thổ Nhĩ Kỳ đến cầu hôn Luy-xin và được ông Giuốc-đanh ưng thuận.

(3)

Phó may: thợ may chính.

(4)

Thợ bạn: thợ phụ cho thợ may chính.

(5)

Lễ phục: trang phục may theo kiểu quy định để mặc trong những dịp đặc biệt.

Ông Giuốc-đanh:
  • Phải, nếu tôi cứ làm đứt mắt mãi. Lại đôi giày bác bảo đóng cho tôi, làm tôi đau chân ghê gớm.
Phó may:
  • Thưa ngài, đâu có.
Ông Giuốc-đanh:
  • Đâu có là thế nào?
Phó may:
  • Không, không đau đâu mà.
Ông Giuốc-đanh:
  • Tôi bảo đau, là đau.
Phó may:
  • Ngài cứ tưởng tượng ra thế.
Ông Giuốc-đanh:
  • Tôi tưởng tượng vì tôi thấy đau. Lí với lẽ hay chưa kia!
Phó may:
  • Thưa đây là bộ áo lễ phục đẹp nhất triều, và thích hợp nhất. Sáng chế ra được một kiểu áo lễ phục trang nghiêm mà không phải màu đen(1), thật là một kì công tuyệt tác. Tôi thách các thợ may giỏi nhất mà làm nổi đấy.
Ông Giuốc-đanh:
  • Thế này là thế nào? Bác may hoa ngược mất rồi.
Phó may:
  • Ngài có bảo là ngài muốn may xuôi hoa đâu.
Ông Giuốc-đanh:
  • Lại còn phải bảo cái đó à?
Phó may:
  • Vâng, phải bảo chứ. Vì tất cả những người quý phái đều mặc như thế này cả.
Theo dõi

Chi tiết thợ may may áo ngược hoa.

Ông Giuốc-đanh:
  • Những người quý phái mặc ngược hoa à?
Phó may:
  • Thưa ngài, vâng.
Ông Giuốc-đanh:
  • À! Thế thì được đấy.
Phó may:
  • Nếu ngài muốn, thì sẽ xoay hoa xuôi lại thôi mà.
Ông Giuốc-đanh:
  • Không, không.
Phó may:
  • Ngài chỉ việc bảo tôi.
Ông Giuốc-đanh:
  • Đã bảo không mà. Bác làm thế này được rồi. Bác cho rằng tôi mặc thể này có vừa sát không?
Phó may:
  • Còn phải nói! Tôi thách một hoạ sĩ lấy bút mà vẽ cho sát hơn được(2). Ở nhà tôi có một chú thợ bạn, may quần cộc(3) thì tài nhất thiên hạ, và một chú khác, về may áo chẽn(4), là anh hùng của thời đại.
(1)

Thời bấy giờ ở Pháp, bộ lễ phục trang trọng phải may bằng vải màu đen.

(2)

Lấy bút vẽ vào người cũng không sát hơn, nghĩa là may áo quá chật (thợ may ăn bớt vải).

(3)

Quần cộc: trang phục của tầng lớp quý tộc Pháp thế kỉ XVII, có thể dài đến đầu gối hoặc đến mắt cá chân.

(4)

Áo chẽn: trang phục của tầng lớp quý tộc Pháp thế kỉ XVII, may sát người, che kín từ cổ đến thắt lưng.

Ông Giuốc-đanh:
  • Bộ tóc giả với lông cắm mũ(1) có được chỉnh tề không?
Phó may:
  • Mọi thứ đều tốt cả.
Ông Giuốc-đanh:

(Nhìn áo mặc của phó may) – Ô kìa! Bác phó may, đây đúng là thứ hàng của bộ áo bác may cho tôi lần trước mà. Tôi nhận đúng nó rồi.

Phó may:
  • Chả là thứ hàng đẹp quá nên tôi đã có ý gạn lấy một bộ áo cho tôi thì phải.
Ông Giuốc-đanh:
  • Phải, nhưng đáng lẽ đừng gạn vào áo của tôi.
Phó may:
  • Ngài có muốn mặc thử áo không?
Ông Giuốc-đanh:
  • Có, đưa tôi.
Phó may:
  • Khoan đã. Phải có thể thức chứ. Tôi có đem người đến để mặc áo cho ngài theo nhịp điệu, vì những loại áo này phải mặc có nghỉ lễ. Ở này! Vào đây, các chú. Các chú hãy mặc bộ áo này cho ngài đây, theo cách thức mặc cho những người quý phái.

Bốn chú thợ bạn ra, hai chú cởi tuột quần cộc tập võ của lão, và hai chú kia cởi áo lót của lão ra. Rồi họ mặc áo mới vào cho lão; và ông Giuốc-đanh đi đi lại lại giữa đám họ và phô áo mới cho họ xem có được không. Tất cả những việc đó làm theo nhịp đàn của tất cả ban hợp xướng.

Tưởng tượng

Cảnh ông Giuốc-đanh mặc áo.

Thợ bạn:
  • Bẩm ngài quý tộc, xin ngài ban cho các anh em ít tiền uống rượu.
Theo dõi

Các cách gọi của thợ bạn dành cho ông Giuốc-đanh.

Thợ bạn:
  • Ngài quý tộc.
Ông Giuốc-đanh:

(Ngài quý tộc) – Ấy đấy, ăn mặc ra người quý phái thì thế đấy! Cứ bo bo y phục trưởng giả, thì chẳng có ai gọi là “Ngài quý tộc!”. Đây, thưởng cho câu “Ngài quý tộc” đây này.

Thợ bạn:
  • Bẩm tướng công, anh em đa tạ tướng công ạ.
Ông Giuốc-đanh:

(Tướng công) – Ồ! Ồ! “Tướng công!” Hãy thong thả, chú mình. “Tướng công” là đáng thương lắm, “tướng công” không phải là một câu tầm thường đâu nhé. Này, tướng công ban cho các chú đấy.

Thợ bạn:
  • Bẩm tướng công, tất cả các anh em sẽ đi uống rượu chúc sức khoẻ của đại nhân!
(1)

Bộ tóc giả với lông cắm mũ: các thứ gắn với trang phục của tầng lớp quý tộc Pháp thế kỉ XVII. Bác phó may được ông Giuốc-đanh tín nhiệm giao cho việc cung cấp tất cả các bộ phận phục trang đặt làm ở nơi khác.

Ông Giuốc-đanh:

(Đại nhân) – ỐI ỐI
Thong thả, đừng đi vội, gọi ta là “Đại nhân!”
(Nói riêng) – Quả đáng tội nó mà đi tới Đức ông,
thì nó sẽ được cả túi tiền mất. Này, thưởng cho
câu “Đại nhân” đây.

Thợ bạn:
  • Bẩm tướng công, anh em xin bái tạ ơn Người.
Ông Giuốc-đanh:

(Nói riêng) – Thế là phải chăng, ta đang sắp cho nó tất cả túi tiền.

Bốn chú thợ bạn vui mừng nhảy múa, khúc múa này làm thành màn phụ thứ hai.

Hồi thứ ba

Lớp i

ÔNG GIUỘC-ĐANH, NHỮNG TÊN HẦU

Ông Giuốc-đanh:
  • Chúng bay hãy đi theo tao, để tao đi phố chưng diện bộ áo của tao một tí, cần nhất là hai đứa bay phải đi bám gót tao, cho thiên hạ thấy rõ chúng bay là quân hầu của tao đấy nhé.
Những tên hầu:
  • Bẩm ông, vâng ạ.
Ông Giuốc-đanh:
  • Gọi con Ni-côn (Nicole) lên đây cho tao sai bảo. Thôi, cứ đứng yên đấy, nó lên kia rồi.

Lớp II

NI-CÔN, ÔNG GIUỐC-ĐANH, NHỮNG TÊN HẦU

Ông Giuốc-đanh:
  • Ni-côn!
Ni-côn:
  • Dạ?
Ông Giuốc-đanh:
  • Nghe đây!
Ni-côn:
  • Hí, hí, hí, hí, hí!
Ông Giuốc-đanh:
  • Mày cười cái gì?
Ni-côn:
  • Hỉ, hí, hí, hí, hí, hí!
Suy luận

Tại sao lời thoại của nhân vật Ni-côn chủ yếu là tiếng cười?

Ông Giuốc-đanh:
  • Cái con mất dạy này, làm cái trò gì thế?
Ni-côn:
  • Hi, hi, hi! Trông ông ăn mặc đến hay! Hí, hí, hí!
Ông Giuốc-đanh:
  • Thế nào?
Ni-côn:
  • Ôi! Ôi giời ơi! Hí, hỉ, hí, hí!
Ông Giuốc-đanh:
  • Con ranh con, lạ chưa kia? Mày trêu tao đấy hẳn?
Ni-côn:
  • Không, thưa ông con đâu dám thế. Hí, hí, hí, hí, hí!
Ông Giuốc-đanh:
  • Mày mà còn cười nữa thì tao vả cho vỡ mặt bây giờ.
Ni-côn:
  • Thưa ông, con không thể nào nhịn được. Hí, hí, hỉ, hí!
Ông Giuốc-đanh:
  • Mày không thôi đi phỏng?
Ni-côn:
  • Thưa ông, con xin lỗi ông, nhưng nom ông buồn cười quá, con không thể nào nín cười được. Hỉ, hỉ, hỉ!
Ông Giuốc-đanh:
  • Cái con này mới láo chứ!
Ni-côn:
  • Nom ông như thế kia, tức cười quá. Hí, hí!
Ông Giuốc-đanh:
  • Tao thì...
Ni-côn:
  • Xin ông bỏ quá cho. Hi, hí, hí, hí!
Ông Giuốc-đanh:
  • Này, hễ mày còn cười một tí nào nữa, tao thề sẽ cho mày một cái tát bằng trời giáng cho mà xem.
Ni-côn:
  • Dạ vâng, thưa ông, thế là hết rồi, con không cười nữa ạ.
Ông Giuốc-đanh:
  • Cứ rờ hồn đấy. Mày phải lau chùi ngay cho kịp...
Ni-côn:
  • Hí, hí!
Ông Giuốc-đanh:
  • Tao bảo rằng phải lau chùi phòng khách, và...
Ni-côn:
  • Hi, hí!
Ông Giuốc-đanh:
  • Chứa thái phồng?
Ni-côn(1):
  • Thôi, thưa ông, thà là ông cứ đánh con đi nhưng để cho con được cười bằng thích, còn hơn. Hi, hí, hỉ, hỉ, hí!
Theo dõi

Lời đề nghị của Ni-côn.

Ông Giuốc-đanh:
  • Điên tiết thật!
Ni-côn:
  • Xin ông làm ơn để cho con cười. Hi, hí, hí!
Ông Giuốc-đanh:
  • Tao mà...
Ni-côn:
  • Thưa ô... ông, không cử... ời, thì con tức bụng mà chết mất. Hi, hí, hí!
Ông Giuốc-đanh:
  • Có con chết treo nào mà lại như cái con này, hỗn hỗn láo láo, cười sằng sặc vào mặt tao, chứ không nghe tao dặn bảo công việc.

(Mô-li-e, Trường giả học làm sang, Tuấn Đô dịch,
NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2021, tr. 59-67)

(1)

Theo bản in năm 1734: Ni-côn (cười lăn quay xuống đất).

Sau khi đọc

Mô-li-e (1622 – 1673) là một trong những nhà viết hài kịch lớn nhất nước Pháp và thế giới. Hài kịch Mô-li-e là tiếng cười khoẻ khoắn, yêu đời, vui nhộn mà sâu sắc, thâm trầm. Mỗi nhân vật chính trong hài kịch Mô-li-e là hiện thân của một tính cách nhất định: đạo đức giả, hà tiện, thông thái rởm, học đòi, ảo tưởng,... Những vở hài kịch tiêu biểu của Mô-li-e: Tác-tuýp (1664), Lão hà tiện (1668), Trưởng giả học làm sang (1670), Người bệnh tưởng (1673),...

Trưởng giả học làm sang phê phán thói học đòi, rởm đời, lố bịch của những người giàu có nhưng ít hiểu biết, ham danh vọng hão huyền đến mức loá mắt, không nhận ra được thật hay giả, tốt hay xấu, trở thành kẻ lố bịch và ngu ngốc đến mức bị lợi dụng, cợt nhạo mà vẫn không hết ảo tưởng, mù quáng.

Trả lời câu hỏi

1.

Trang phục của ông Giuốc-đanh được diễn tả ở những chi tiết nào trong đoạn trích?

2.

Ở Lớp II, Hồi thứ ba, hành động cười của nhân vật Ni-côn cho biết điều gì về bộ trang phục của ông Giuốc-đanh? Nếu em là nhân vật Ni-côn, em có thấy bộ trang phục của ông Giuốc-đanh là đáng cười không? Vì sao?

3.

Ông Giuốc-đanh đặt làm trang phục với mong muốn gì? Hãy chỉ ra nét tính cách nổi bật ở nhân vật và giải thích vì sao ông dễ dàng bị những người thợ may lừa mị, lợi dụng và trở thành đáng cười trong mắt người hầu.

4.

Lời thoại trong các lớp kịch có gì đáng chú ý?

5.

Xoay quanh sự việc mặc trang phục của ông Giuốc-đanh, em hãy chỉ ra những nét tương phản trong hành động của ông Giuốc-đanh và các nhân vật.

6.

Nêu một vài thủ pháp trào phúng trong đoạn trích.

7.

Giả sử em được đóng vai ông Giuốc-đanh để diễn đoạn trích này, em sẽ chọn trang phục, thể hiện dáng vẻ, điệu bộ của nhân vật như thế nào?

8.

Theo em, trong cuộc sống hiện nay còn có những người như ông Giuốc-đanh không? Cho ví dụ.

Viết kết nối với đọc

Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) trình bày suy nghĩ của em về chi tiết phó may may áo ngược hoa trong đoạn trích trên.

Thực hành tiếng Việt

Câu hỏi tu từ

Nhận biết câu hỏi tu từ

Đọc các ví dụ sau:

a.

Có đi xem phim với tớ không?
Cậu không thấy tớ còn nhiều bài tập thế này à?

Câu thứ nhất là câu có mục đích hỏi. Câu thứ hai có hình thức là câu hỏi nhưng lại biểu thị sự từ chối (không đi xem phim được). Vậy câu thứ hai là câu hỏi tu từ.

b.

Mẹ ơi, trên mây có người gọi con:
"Bọn tớ chơi từ khi thức dậy cho đến lúc chiều tà. Bọn tớ chơi với bình minh vàng, bọn tớ chơi với vầng trăng bạc".
Con hỏi: “Nhưng làm thế nào mình lên đó được?".
Họ đáp: “Hãy đến nơi tận cùng trái đất, đưa tay lên trời, cậu sẽ được nhấc bổng lên tận tầng mây".
"Mẹ mình đang đợi ở nhà – con bảo – “Làm sao có thể rời mẹ mà đến được?".

(Ta-go, Mây và sóng)

Câu “Nhưng làm thế nào mình lên đó được?" là câu có mục đích hỏi. Câu "Làm sao có thể rời mẹ mà đến được?" dùng hình thức câu hỏi nhưng là để khẳng định (không thể đi chơi ở những nơi kì thú, xa xôi). Vậy câu “Làm sao có thể rời mẹ mà đến được? là câu hỏi tu từ.

Tác dụng của câu hỏi tu từ

Trong giao tiếp, câu hỏi tu từ nhằm thu hút sự quan tâm của người nghe, làm cho lời nói thêm uyển chuyển, giàu sắc thái biểu cảm. Câu “Cậu không thấy tớ còn nhiều bài tập thế này à? ở ví dụ a cho thấy người được rủ đi xem phim đưa ra lí do để từ chối lời mời, mong nhận được sự thông cảm của người mời.

Câu hỏi tu từ được dùng trong văn học nhằm làm tăng sắc thái biểu cảm, gợi ra nhiều ý nghĩa, tạo hiệu quả thẩm mĩ cho văn bản. Câu “Làm sao có thể rời mẹ mà đến được?” ở ví dụ b là sự khẳng định tình cảm gắn bó, không thể tách rời của con với mẹ.

1

Chỉ ra các câu hỏi tu từ trong đoạn trích vở kịch Trưởng giả học làm sang. Giải thích vì sao đó là những câu hỏi tu từ.

2

Hãy viết lại các câu hỏi tu từ em tìm được ở bài tập 1 thành câu kể (kết thúc bằng dấu chấm) sao cho vẫn giữ được ý nghĩa thông báo của câu. So sánh hiệu quả của câu hỏi tu từ và hiệu quả của câu kể.

3

Chuyển đổi các câu sau đây sang hình thức câu hỏi tu từ:
a. Tôi không làm sao đến sớm hơn được, ấy là tôi đã cho hai chục chú thợ bạn xúm lại chiếc áo của ngài đấy.
b. - Hãy thong thả, chú mình.
(Mô-li-e, Trưởng giả học làm sang)

4

Những câu kết thúc bằng dấu chấm hỏi trong đoạn văn dưới đây có phải câu hỏi tu từ không? Vì sao?
Ơi ơi người em gái xoã tóc bên cửa sổ! Em yêu mùa xuân có phải vì nghe thấy rạo rực nhựa sống trong cành mai, gốc đào, chồi mận ở ngoài vườn? Chàng trai kia yêu mùa xuân, phải chăng là tại lúc đôi mùa giao tiễn nhau, chàng tưởng như nghe thấy đồi núi chuyển mình, sông hồ rung động trong cuộc đổi thay thường xuyên của cuộc đời? Mà người thiếu phụ nọ ở chân trời góc biển yêu mùa xuân có phải là vì đấy là mùa xanh lên hi vọng được trở về nơi bến đợi sông chờ để ngâm lại khúc bạc đầu với người ra đi chưa biết ngày nào trở lại?
(Vũ Bằng, Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt)

5.

Hãy đặt câu hỏi tu từ cho từng tình huống sau đây:
a. Bày tỏ cảm xúc khi được nhận một món quà từ người thân.
b. Bày tỏ suy nghĩ về một nhân vật trong tác phẩm văn học đã học hoặc đã đọc.

Văn bản 2

Trước khi đọc

Hãy nêu tên những truyện cười mà em biết. Chọn kể một truyện cười em cho là thú vị.

Đọc văn bản

Chùm truyện cười dân gian Việt Nam

Lợn cưới, áo mới
Anh nọ tính hay khoe của, một hôm may được cái áo mới bèn mặc vào, ra cửa đứng để mong có ai đi qua người ta khen. Nhưng đứng từ sáng đến chiều, chẳng thấy ma nào ngó đến. Đang lúc ấy, bỗng thấy một anh cũng có tính hay khoe của, chạy qua cửa hỏi to lên rằng:

  • Tôi có con lợn cưới, bác có thấy nó chạy qua đây không?

Anh ta liền phanh hai vạt áo ra mà trả lời:

  • Này bác có lợn kia ơi! Từ lúc mặc cái áo mới này, tôi chẳng thấy có con lợn nào chạy qua đây cả.
So sánh

Cách hỏi và cách trả lời của hai nhân vật.

Two men, one wearing a new blue outfit and another holding a pig, with speech bubbles. The man in blue is showing off his clothes, the other is asking about a pig.

(Kho tàng truyện tiếu lâm Việt Nam, Nguyễn Cừ – Phan Trọng Thương biên soạn, sưu tầm, chọn tuyển,
NXB Văn học, Hà Nội, 2001, tr. 184)

Treo biển

Một cửa hàng bán cá làm cái biển đề mấy chữ to tướng:
“Ở ĐÂY CÓ BẢN CÁ TƯƠI”. Biển vừa treo lên, có người qua đường xem, cười bảo:

  • Nhà này xưa nay quen bán cá ươn hay sao mà bây giờ lại phải đề biển là “cá tươi”?

Nhà hàng nghe nói, bỏ ngay chữ “tươi” đi.
Hôm sau, có người khác đến hỏi cá, cũng nhìn lên biển cười bảo:

  • Chẳng lẽ người ta đến hàng hoa mua cá hay sao mà phải đề là “ở đây”?

Nhà hàng nghe nói, bỏ ngay hai chữ “ở đây” đi.
Cách vài hôm lại có người khác đến mua cá, mua xong, cũng nhìn lên biển, cười bảo:

  • Ở đây chẳng bán cá thì bày cá ra để khoe hay sao mà phải đề là “có bán”?

Nhà hàng nghe thấy cũng có lí liền bỏ hai chữ “có bán” đi. Thành ra chỉ còn mỗi một chữ “cá”, trong bụng chắc từ giờ chẳng còn ai bắt bẻ gì nữa.
Vài hôm sau nữa, người láng giềng sang chơi, nhìn cái biển nói:

  • Chưa đi đến đầu phố, đã ngửi thấy mùi tanh, đến gần đầy những cá, ai chẳng biết mà còn để biển làm gì nữa.

Thế là nhà hàng cất cái biển đi luôn.

Theo dõi

Hành động của nhà hàng mỗi khi có người nhận xét cái biển.

Suy luận

Vì sao nhà hàng cất cái biển?

(Theo Kho tàng truyện tiếu lâm Việt Nam,
Nguyễn Cừ – Phan Trọng Thương biên soạn, sưu tầm, chọn tuyển, Sđd, tr. 81-82)

Nói dóc(1) gặp nhau

Có một anh đi làm ăn xa lâu ngày về làng, bà con xúm đến hỏi chuyện lạ phương xa. Anh nọ được dịp, trổ tài nói dóc:

  • Nhiều cái lạ lắm, nhưng lạ nhất là chuyện này: Có một cái ghe dài không lấy gì đo cho xiết. Một người tuổi hai mươi đứng ở đầu mũi bắt đầu đi ra đằng lái, đi đến giữa cột buồm thì đã già, râu tóc bạc phơ, cứ thế đi, đến chết vẫn chưa tới lái.
Theo dõi

Chú ý độ dài của chiếc ghe.

(1)

Nói dóc: nói khoác lác và bịa đặt cho vui hay để ra vẻ ta đây.

Trong làng ấy có một anh nói dóc khác, nghe thấy chuyện anh kia, liền kể ngay một câu chuyện khác:

  • Thế đã lấy chi làm lạ! Tôi đi rừng thấy một cây cao ghê gớm. Có một con chim đậu trên cành cây ấy, đánh rơi một hột đa. Hột đa rơi xuống lưng chừng gặp mưa, gặp bụi rồi nảy mầm, đâm rễ thành cây đa. Cây đa lớn lên, sinh hoa, kết quả, hột đa ở cây đa đó lại rơi vãi ra, đâm chồi nảy lộc thành nhiều cây đa con. Đa con lớn lên, sinh hoa kết quả, lại nảy ra đàn cây đa cháu, cứ thế mãi cho đến khi rơi tới đất thì đã bảy đời tất cả.

Anh chàng đi xa về nghe thế cãi:

  • Làm gì có cây cao vậy? Không thể tin được.

Anh kia lúc đó mới cười:

  • Nếu không có cây cao như thế thì lấy đâu ra gỗ để đóng chiếc ghe của anh?
Theo dõi

Chú ý chiều cao của cái cây.

(Kho tàng truyện tiếu lâm Việt Nam,
Nguyễn Cừ – Phan Trọng Thương biên soạn, sưu tầm, chọn tuyển, Sđd, tr. 220-221)

Sau khi đọc

Trả lời câu hỏi

1.

Các truyện Lợn cưới, áo mới; Treo biển; Nói dóc gặp nhau phê phán những tính xấu nào của con người?

2.

Đối thoại của hai nhân vật trong truyện Lợn cưới, áo mới có gì đặc biệt? Trong tình huống đó, cách hỏi và trả lời thông thường sẽ như thế nào?

3.

Tính cách anh chàng có áo mới trong truyện Lợn cưới, áo mới được thể hiện qua những chi tiết nào?

4.

Nhà hàng bán cá trong truyện Treo biển đã hành động như thế nào trước những lời nhận xét của mọi người? Nếu là chủ của nhà hàng thì em sẽ làm gì trước những lời nhận xét đó?

5.

Ở truyện Treo biển, sự lặp lại tình huống bị chê – gỡ biển nhiều lần có tác dụng gì?

6.

Có điều gì khác thường ở lời nói của hai nhân vật trong truyện Nói dóc gặp nhau?

7.

Theo em, trong Nói dóc gặp nhau, chi tiết nào tạo ra sự bất ngờ cho truyện?

8.

Đối với thói hư tật xấu của con người, truyện cười có thể đả kích, lên án hay bông đùa, giễu cợt nhẹ nhàng, giáo dục kín đáo. Em có nhận xét gì về sắc thái của tiếng cười trong mỗi câu chuyện ở bài học này?

Viết kết nối với đọc

Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) trình bày suy nghĩ của em về một tính cách đáng phê phán được nói đến trong những truyện cười trên.

Văn bản 3

Đọc văn bản

1.
Chập chập rồi lại cheng cheng
Con gà sống lớn để riêng cho thầy
Đơm xôi thì đơm cho đầy
Đơm mà vơi đĩa thì thầy không ưa.

Con mèo mà trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đường xa
Mua mắm mua muối giỗ cha con mèo.

Anh là con trai học trò
Em mà thách cưới thế anh lo thế nào?
Em khoe em đẹp như sao
Để anh lận đận ra vào đã lâu
Mẹ em thách cưới cho nhiều
Thử xem anh nghèo có cưới được không

Nghèo thì bán bể bán sông
Anh cũng cố cưới lấy công ra vào
Cưới em trăm tám ông sao
Trăm tấm lụa đào mươi cót (1) trầu cau
Cưới em một trăm con trâu
Một nghìn con lợn, bồ câu tám nghìn
Cưới em tám vạn quan tiền
Để làm tế lễ gia tiên ông bà
Cưới em một chĩnh vàng hoa
Mười chum vàng cốm bạc là trăm nong
Cưới em ba chum mật ong
Mười thúng mỡ muỗi ba nong quýt đầy...

(Nguyễn Xuân Kinh (Chủ biên). Ca dao người Việt, quyển 3,
NXB Khoa học xã hội. Hà Nội, 2015, tr. 90, 172-173, 183)

Sau khi đọc

Trả lời câu hỏi

1.

Bài ca dao số 1 nói về hoạt động nào của con người? Em căn cứ vào đâu để nhận biết điều đó?

2.

Bài ca dao số 1 phê phán đối tượng nào? Tại sao đối tượng đó lại bị phê phán?

3.

Bài ca dao số 2 tạo dựng sự tương phản, đối nghịch dựa trên yếu tố nào? Bài ca dao đó thể hiện tính cách gì của mèo và quan hệ như thế nào giữa mèo với chuột?

4.

Ở bài ca dao số 3, anh học trò đem bán những thứ gì để có tiền dẫn cưới? Hãy nhận xét về đồ dẫn cưới của anh học trò nghèo. Có thể có những điều này trong thực tế không?

5.

Bài ca dao số 3 lên án hủ tục gì? Cách lên án có tạo ra sự căng thẳng không? Vì sao?

(1)

Cót: đồ đựng làm bằng những tấm được đan từ nan nửa mỏng (tương tự như thùng, bó,...).

Chùm ca dao trào phúng

Chập chập rồi lại cheng cheng
Con gà sống lớn để riêng cho thầy
Đơm xôi thì đơm cho đầy
Đơm mà với đĩa thì thầy không ưa.

Nghèo thì bản bể bán sông
Anh cũng cố cưới lấy công ra vào
Cưới em trăm tám ông sao
Trăm tấm lụa đào mươi cót (1) trầu cau
Cưới em một trăm con trâu
Một nghìn con lợn, bồ câu tám nghìn
Cưới em tám vạn quan tiền
Để làm tế lễ gia tiên ông bà
Cưới em một chĩnh vàng hoa
Mười chum vàng cốm bạc là trăm nong
Cưới em ba chum mật ong
Mười thúng mỡ muỗi ba nong quýt đầy...

(Nguyễn Xuân Kinh (Chủ biên). Ca dao người Việt, quyền 3,
NXB Khoa học xã hội. Hà Nội, 2015, tr. 90, 172-173,183)

1

Cót đồ đựng làm bằng những tấm được đan từ nan nửa mỏng (tương tự như thùng, bó,...).

Thực hành tiếng Việt

1

Đặt trong ngữ cảnh cuộc đối thoại
được thể hiện ở bài ca dao số 2, nghĩa
hàm ẩn của câu “Chú chuột đi chợ
đường xa/ Mua mắm mua muối giỗ cha
con mèo" là gì?

2

Theo em, qua câu ca dao “Cưới em
ba chum mật ong/ Mười thúng mỡ muỗi
ba nong quýt đầy...", anh học trò thực sự
muốn nói điều gì?

3

Cho biết nghĩa hàm ẩn của những
câu in đậm trong các trường hợp sau:
a. Chập chập rồi lại cheng cheng
Con gà sống lớn để riêng cho thấy.
b. Ông Giuốc-đanh: - Thế này là thế
nào? Bác may hoa ngược mất rồi.
Phó may: – Ngài có bảo là ngài muốn
may xuôi hoa đâu.
Ông Giuốc-đanh: - Lại còn phải bảo
cái đó à?
Phó may: Vâng, phải bảo chứ. 10
Vì tất cả những người quý phái đều
mặc như thế này cả.

Nhận biết nghĩa tường minh
và nghĩa hàm ẩn của câu

  • Trong giao tiếp bằng ngôn từ, có những ý nghĩa

được hiển thị ngay trên từ ngữ (nghĩa tường minh)
và có những ý nghĩa ngầm chứa, cần phải
suy luận mới biết được (nghĩa hàm ẩn).

  • Có những nghĩa hàm ẩn tuỳ thuộc ngữ

cảnh. Ví dụ:
Ngày mai tôi đi Hà Nội.
Có thể hiểu là: “Ngày mai tôi không gặp mặt
với nhóm được”, nhưng cũng có thể hiểu: “Anh
có cần gửi gì cho người thân ở Hà Nội thì tôi sẽ
mang giúp cho",... Những nghĩa này tuỳ thuộc
vào nội dung trao đổi trước đó giữa người nói
(người viết) và người nghe (người đọc).
Có những nghĩa hàm ẩn không tuỳ thuộc vào
ngữ cảnh. Ví dụ:
Nó lại đi Đà Lạt.
Câu này cho biết một người nào đó đi Đà Lạt,
và nhờ từ lại mà ta có thể suy ra trước đó người
này đã từng đi Đà Lạt. Nghĩa hàm ẩn này được
suy ra từ nghĩa của từ ngữ ở trong câu, chứ
không tuỳ thuộc vào ngữ cảnh.

  • Nghĩa hàm ẩn giúp chuyển tải nhiều điều ý

nhị, kín đáo, sâu xa,...; làm cho giao tiếp ngôn
từ được uyển chuyển, phong phú, thú vị. Đặc
biệt, trong văn học, các nội dung, thông điệp
mà tác giả muốn chuyển tải thường được thể
hiện dưới hình thức nghĩa hàm ẩn. Ví dụ:
Chuột chủ chê khỉ rằng hôi
Khỉ mới trả lời: Cả họ mày thơm.
(Ca dao)
Chuột chù và khỉ đều là các loài có mùi hôi.
Nhưng chuột chù lại chê khỉ trong khi chính
mình cũng hôi. Nghĩa tường minh trong câu trả
lời của khỉ là lời khen, nghĩa hàm ẩn thể hiện
sự mỉa mai chuột chù. Câu ca dao có hàm ý
phê phán những người không tự biết cái xấu
của mình mà còn đi chê bai người khác.

4

Xác định nghĩa hàm ẩn của các câu
tục ngữ dưới đây:
a. Có tật giật mình.
b.
Đời người có một gang tay
Ai hay ngủ ngày, còn có nửa gang.
c.
Cười người chớ vội cười lâu
Cười người hôm trước, hôm sau người cười.
d. Lời nói gói vàng.
e. Lưỡi sắc hơn gươm.

Viết

Viết bài văn nghị luận về một vấn đề đời sống (một thói xấu của con người trong xã hội hiện đại)

Con người thường có xu hướng vươn tới những điều tốt đẹp, tự hoàn thiện chính
mình. Đi liền với quá trình đó, mỗi người cần rèn khả năng nhận ra thói hư tật xấu của
bản thân và những người xung quanh nhằm tự điều chỉnh, loại bỏ nó. Các văn bản
đọc trong bài đã giúp em nhận ra những điều đáng phê phán của con người. Ở phần
Viết này, em sẽ học cách bàn về một thói xấu của con người trong xã hội hiện nay.
Qua bài viết, em có cơ hội trình bày suy nghĩ nghiêm túc của mình về những phương
diện chưa hoàn thiện của con người, dùng lí lẽ sắc bén và bằng chứng xác thực để
thuyết phục người đọc đồng tình với suy nghĩ của em, góp phần làm cho cuộc sống
của chúng ta ngày càng tốt đẹp hơn.

Yêu cầu:

  • Nêu được vấn đề nghị luận.
  • Làm rõ vấn đề nghị luận (giải thích vấn đề đời sống được bàn luận).
  • Trình bày được ý kiến phê phán của người viết, nêu rõ lí lẽ và bằng chứng để

chứng minh sự phê phán là có cơ sở.
Đối thoại với những ý kiến khác (giả định) nhằm khẳng định quan điểm của người viết.

Phân tích bài viết tham khảo

Hiện tượng học đòi trong giới trẻ hiện nay

Trong giờ sinh hoạt lớp, thầy giáo cho chúng tôi xem bức ảnh một nam học sinh
mặc đồng phục, mái tóc rất lạ, một bên cắt ngắn, một bên để dài, lại nhuộm màu vàng
rực, hơi giống một ca sĩ nước ngoài. Thầy hỏi cả lớp rằng các em có coi đây là một hiện
tượng học đòi không. Lúc đó tôi mới thực sự suy nghĩ về
thói học đòi trong giới trẻ hiện nay và tìm hiểu về nó.

Thế nào là học đòi? Học đòi là học theo những điều xấu
hoặc không phù hợp. Từ điển tiếng Việt giải thích “học đòi”
là “bắt chước theo những việc không hay một cách thiếu
suy nghĩ”. Con người nói chung thường hay học theo người khác, nhất là những người
nổi tiếng. Những điều ta học ở họ, nếu làm ta tốt hơn, thì đó là sự học hỏi, tự hoàn thiện
bản thân, vươn theo hình mẫu lí tưởng. Còn nếu những điều học ở họ làm ta trở nên
lố bịch, kệch cỡm, không tương xứng với địa vị, tư cách của mình, không phù hợp với
điều kiện, hoàn cảnh của bản thân thì ta thành kẻ học đòi.

Học đòi là hiện tượng thường thấy trong giới trẻ hiện nay.
Tuy không phải là điều gì quá tai hại, nhưng học đòi cũng
mang đến nhiều hệ luy, ảnh hưởng không tốt đến lối sống của thanh thiếu niên.

Bản thân tôi và các bạn trong lớp cũng từng có những lúc đua theo một vài hình mẫu
mình cho là hay, là sành điệu hay là “ngầu”. Bạn học sinh mà thầy tôi lấy làm ví dụ trong
giờ sinh hoạt lớp cũng vậy. Thường thấy nhất là bắt chước một thành viên ban nhạc hay
một diễn viên yêu thích về kiểu tóc, kiểu móng tay, kiểu trang phục, giày dép,... Nhưng
theo tôi, sắm cái áo cái quần, làm kiểu tóc giống diễn viên thì đâu phải mình biến thành
người nổi tiếng. Hơn nữa, mình đang là học sinh, môi trường của mình là trường học,
nếu chạy theo bề ngoài của người khác cho dù là đẹp đối với họ thì cũng không phù
hợp với mình. Nó cũng không làm tăng giá trị của mình lên trong mắt bạn bè. Mẹ tôi
bảo: “Chiếc áo không làm nên thầy tư quả rất đúng. Vẻ bề ngoài đâu phải lúc nào
cũng phản ánh giá trị thực bên trong.

Trong giới trẻ còn có hiện tượng bắt chước người khác để cho bằng bạn bằng bè.
Đây cũng là một khía cạnh của học đòi. Bản thân không có tiền nhưng đòi bố mẹ mua
những thứ đắt tiền như điện thoại thông minh, máy ảnh chuyên dụng, xe đạp, xe máy
đời mới,... để không bị coi là kém cỏi. Trên mạng xã hội hiện nay xuất hiện những diễn
đàn, nhóm chia sẻ sự giàu có hoặc sành điệu, phô trương hình thức, chạy theo những
thứ bề ngoài phù phiếm. Nhiều bạn học sinh thích thể hiện bản thân, muốn tạo dựng
hình ảnh bản thân cũng tham gia vào các nhóm đó.

Tôi cho rằng, một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng học đòi là chúng ta
sai lầm trong cách xác lập giá trị con người. Điều làm cho một người được coi trọng là
khả năng, trí tuệ, tâm hồn, nhân cách chứ không phải cái bề ngoài màu mè, phô trương. Tôi
được biết có những người rất nổi tiếng, giàu có nhưng lối sống lại rất giản dị. Tôi cũng từng
thấy có bạn học sinh ăn mặc sành điệu, đi xe đẹp nhưng nói năng tục tằn, thiếu văn hoá.

Có thể có bạn cho rằng bắt chước người khác không phải
là điều xấu. Bắt chước, làm theo người khác vốn là bản tính
tự nhiên của con người. Từ khi là đứa trẻ cho đến khi trưởng
thành, con người luôn
có xu hướng bắt chước người khác. Học hỏi người khác cũng là một cách bắt chước.
Tuy nhiên, khi bắt chước mà không suy nghĩ đến việc bản thân có phù hợp không, việc
bắt chước có gây trò cười cho mọi người không, có gây hậu quả gì không,... thì sự bắt
chước đó trở thành học đòi.

Như vậy, sự học đòi không hẳn đã gây nguy hại ngay lập
tức cho ta, nhưng làm ta mất khả năng định hướng giá trị bản
thân, khó xác định cái gì là phù hợp với mình, chạy theo người
khác, làm mất đi cái riêng của mình. Tôi tin rằng, sau khi nghe thầy nêu vấn đề ở buổi
sinh hoạt lớp, tôi và các bạn sẽ có dịp soi vào bản thân mình và những người xung quanh,
tự điều chỉnh suy nghĩ và hành vi, không bị sa đà vào thói học đòi vô bổ.

(Bài làm của học sinh, có chỉnh sira)

Thực hành viết theo các bước

Trước khi viết

Lựa chọn đề tài

Em hãy suy ngẫm về chính mình và quan sát
hành vi, lối sống của những người xung quanh
hoặc tìm hiểu trên sách báo, phương tiện truyền
thông để nhận ra những thói xấu của con người,
từ đó chọn được vấn đề để bàn luận.

Sau đây là một số đề tài gợi ý để em lựa chọn:

Sự tuỳ tiện khi tham gia giao thông của
một số người dân.
Thói kiêu ngạo, thích chơi trội của một bộ
phận thanh thiếu niên.

  • Thói lười nhác, hay than vãn.

Sự ba phải, thiếu chủ kiến khi làm việc nhóm.
Thói ích kỉ.
Lối sống ảo mà một số người đang theo đuổi.

Mục đích viết
Phê phán một thói xấu của con người
trong xã hội hiện đại, thuyết phục
người đọc đồng tình với quan điểm
của mình về vấn đề đó.

Người đọc
Những người quan tâm đến vấn đề
xã hội được bàn luận trong bài, đặc
biệt là những người có thể có quan
điểm khác biệt với người viết.

Tìm ý

Sau khi xác định được vấn đề nghị luận, em hãy tìm ý bằng cách trả lời một số câu hỏi:
Vấn đề được nêu ra là gì?

Cần nêu rõ vấn để bàn luận, xác định xem thói xấu được nói tới là của những đối
tượng nào, trong những hoàn cảnh nào. Ví dụ ở bài viết tham khảo, vấn đề được nêu là
sự “học đòi trong giới trẻ hiện nay". Sự học đòi không chỉ có trong giới trẻ, và cũng không
phải là “căn bệnh" của thời nay mà thời nào cũng có. Nhưng trong phạm vi đề tài, bài viết
chỉ dừng lại ở việc bàn về thói học đòi trong giới trẻ hiện nay, cụ thể là lứa tuổi học sinh.
Vấn đề đó được hiểu như thế nào? Vì sao nó đáng phê phán?

Muốn phê phán một vấn đề, cần phải hiểu rõ về nó. Do vậy, việc làm rõ các khía
cạnh của vấn đề là rất quan trọng. Khi đã hiểu rõ thì mới giải thích được vì sao nó đáng
bị phê phán. Ví dụ, ở bài viết tham khảo, người viết đã dựa vào từ điển để giải thích
thói “học đòi”, đồng thời đối sánh với “học hỏi” để thấy được sự khác biệt về bản chất
giữa hai hành vi. Chỉ ra hệ luỵ của học đòi như “làm ta trở nên lố bịch, kệch cỡm, không
tương xứng với địa vị, tư cách của mình, không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của
bản thân", khẳng định nó đáng bị phê phán.

  • Làm thế nào để ý kiến phê phán của mình có sức thuyết phục?

Để sự phê phán có sức thuyết phục, cần nêu lí lẽ và bằng chứng cụ thể, tránh sự
áp đặt chủ quan. Ví dụ ở bài viết tham khảo, người viết đưa ra những bằng chứng trong
thực tế và trong sách báo, phân tích các hậu quả, thậm chí còn dẫn những trải nghiệm
của bản thân. Người viết đi sâu vào một số luận điểm như “học đòi khi không biết cái
gì hợp với mình, cái gì không , “bắt chước người khác để cho bằng bạn bằng bè”, sai
lầm trong cách xác lập giá trị con người” và có sự phân tích cụ thể nhằm thuyết minh
cho ý kiến phê phán.

  • Liệu có ý kiến nào không đồng tình với ý kiến phê phán của mình không?

Trước một thói xấu nào đó, có người chê bai, lên án; lại có người không đánh giá
như vậy. Điều này tuỳ vào góc nhìn và quan điểm. Người viết cần có chủ kiến vững vàng,
hình dung các ý kiến trái ngược để đối thoại.

Lập dàn ý

Em hãy sắp xếp các ý tìm được thành một dàn ý.

Dàn ý
Mở bài: Nêu vấn đề nghị luận (một thói xấu của con người trong xã hội
hiện đại).
Thân bài:
+ Làm rõ vấn đề nghị luận.
+ Trình bày ý kiến phê phán, nêu lí lẽ và bằng chứng để chứng minh sự phê
phán là có cơ sở.
+ Nêu ý kiến không đồng tình (giả định) với ý kiến của người viết và tranh
luận với ý kiến đó.
Kết bài: Khẳng định ý kiến phê phán, rút ra bài học.

Viết bài

Khi viết bài, em cần chú ý:

  • Lí lẽ cần sáng rõ, chặt chẽ.
  • Các bằng chứng cần đa dạng, xác thực. Nêu cả những trải nghiệm của bản thân

(nếu có).

  • Khi phê phán cần sử dụng lời lẽ đúng mực.

Chỉnh sửa bài viết

Đối chiếu bài viết của em với yêu cầu của kiểu bài văn nghị luận về một vấn đề
đời sống (một thói xấu của con người trong xã hội hiện đại), chỉnh sửa những chỗ cần
thiết sao cho:

  • Vấn đề nghị luận được nêu một cách rõ ràng, được giải thích đầy đủ, toàn diện.

Ý kiến phê phán được nêu một cách mạch lạc, chắc chắn, lí lẽ xác đáng và
bằng chứng thuyết phục.

  • Ý kiến phê phán được khẳng định trên cơ sở đối sánh với các quan điểm khác về

vấn để.

Nói và nghe

Trình bày ý kiến về một vấn đề xã hội (một thói xấu của con người trong xã hội hiện đại)

Ở phần Viết, em đã học cách viết bài văn nghị luận trình bày ý kiến phê phán một
thói xấu của con người trong xã hội hiện đại. Khi viết, ta thường nêu ý kiến một cách
thẳng thắn, phân tích vấn đề rõ ràng, có trình tự. Cũng đề tài ấy, khi đối thoại trực tiếp
với người nghe, làm thế nào để ý kiến phê phán của mình thuyết phục được người
nghe mà không gây cảm giác căng thẳng? Ở bài học này, em sẽ học cách trình bày ý
kiến phê phán sao cho hiệu quả. Mặt khác, trước một vấn đề xã hội cần phê phán, sẽ
có nhiều ý kiến khác nhau. Phải có những kĩ năng cần thiết mới có thể nắm bắt được
nội dung chính của các ý kiến khác và xử lí thông tin đúng hướng. Muốn như vậy, em
cần luyện thao tác nghe và tóm tắt nội dung trình bày của người khác về vấn đề được
quan tâm.

Trước khi nói

Dựa vào kết quả đã thực hiện ở phần
Viết, hãy lập một dàn ý ngắn gọn cho bài
nói bao gồm các phần Mở đầu, Triển khai,
Kết luận và thể hiện được các ý chính ở
mỗi phần.

Gạch dưới những ý em dự định sẽ
nhấn mạnh trong bài nói.

Mục đích nói
Phê phán một thói xấu của con người
trong xã hội hiện đại, qua đó có nhận thức
đúng đắn và thái độ sống phù hợp.

Người nghe
Những người quan tâm đến vấn đề em
trình bày, có ý thức xây dựng lối sống và
hoàn thiện bản thân.

  • Nếu nội dung bài nói tương tự những vấn đề đã đề cập trong các văn bản của

phần Đọc (thói khoe khoang, sự thiếu chủ kiến, thói khoác lác, thói đạo đức giả,...), em
có thể dựa vào đó để bổ sung bằng chứng.

  • Tìm kiếm các thông tin từ sách báo, tranh ảnh, phương tiện nghe nhìn (nếu có),...

để minh hoạ vấn đề.

Trình bày bài nói

Về phía người nói:

Giới thiệu vấn đề (có thể đi thẳng vào vấn đề hoặc kể một tình huống dẫn tới
vấn đề).

  • Lần lượt trình bày từng nội dung của vấn đề theo dàn ý đã chuẩn bị.

Nêu ý kiến phê phán một cách đúng mực, có thể thêm chút hài hước. Chú ý
phản ứng của người nghe để tìm kiếm sự đồng thuận hoặc sẵn sàng đối thoại.

Về phía người nghe:

  • Lắng nghe, theo dõi để nắm bắt ý kiến của người nói về vấn đề. Chú ý những

chỗ người nói nhấn mạnh hoặc những từ khoá, những thông tin được lặp lại nhiều lần
trong bài nói.
Ghi tóm tắt nội dung trình bày của người nói. Bản tóm tắt cần thể hiện đầy đủ,
chính xác những nội dung chính trong bài nói. Các thông tin này cần ghi ngắn gọn,
rõ ràng, được trình bày kết hợp với các kí hiệu tạo sơ đồ tóm tắt văn bản (gạch đầu
dòng, gạch nối, mũi tên,...). Ghi chú những thắc mắc hoặc những suy nghĩ riêng của
mình vào bản tóm tắt nhằm chuẩn bị cho phần trao đổi.

Sau khi nói

Người nói và người nghe trao đổi về bài nói theo một số gợi ý sau:
Vấn đề được nói tới có sát hợp với cuộc sống của con người trong xã hội hiện
nay không?

  • Ý nghĩa thiết thực của vấn đề được trình bày là gì?

Nội dung và cách trình bày của người nói (thái độ, giọng nói, các phương tiện hỗ
trợ, khả năng tương tác với người nghe,...) có thuyết phục không?

  • Ý kiến trao đổi của người nghe có tác dụng làm rõ hơn vấn đề hoặc bổ sung cho

vấn đề người nói trình bày không?

Củng cố, mở rộng

1

Nêu các thủ pháp trào phúng của thể loại hài kịch, truyện cười qua các văn bản
đã học trong bài.

2

Từ các văn bản đã học đó, em nhận thấy tiếng cười có sức mạnh như thế nào
đối với đời sống con người?

3

Tìm đọc một số vở hài kịch và truyện cười viết về những thói xấu của con người.
Chọn trong số đó một tác phẩm em thích nhất và trả lời các câu hỏi sau:
a. Tác phẩm phê phán thói xấu nào?
b. Thủ pháp trào phúng là gì?
c. Chi tiết nào em thấy thú vị nhất?

4

“Cười là một hình thức chế ngự cái xấu.” (Phương Lựu – Trần Đình Sử – Lê Ngọc Trà,
Lí luận văn học, tập 1, NXB Giáo dục, 1986, tr. 241).

Hãy viết đoạn văn (khoảng 7−9 câu) trình bày suy nghĩ của em về ý kiến trên.

Thực hành đọc

Khi đọc văn bản dưới đây, em cần chú ý những vấn đề sau:

  • Những đặc điểm của thể loại truyện cười.

Vấn đề bị đem ra phê phán.
Thủ pháp trào phúng của truyện.

Giá không có ruồi!

Trích, A-DÍT NE-XIN 1) (Aziz Nesin)

Lúc lên mười tuổi, nó bảo:

Úi dà! Nếu tôi cũng có cặp sách như những đứa khác, cũng có đồ chơi, có
những quyển tranh đẹp như chúng, thì xem tôi học giỏi không nào!... Đây tôi lại
chẳng có gì cả! Thế thì làm sao mà học giỏi được!

1

A-dit Ne-xin (1915 - 1995) là nhà văn trào phúng nổi tiếng người Thổ Nhĩ Kỳ.

Đến năm mười ba, nó cũng có đủ sách, vở, bút, cặp và đồ chơi như những đứa trẻ
khác. Nhưng nó học vẫn không được. Nó lại than phiền:

  • Quần áo đẹp thì không có! Nhà cửa thì chật chội, cả mấy bố, mẹ và anh chị em tôi

phải ở chung trong một buồng. Thế thi học làm sao được! Giá tôi được một cái buồng,
một cái tủ sách và bàn học riêng xem! Tôi không học giỏi bằng mấy chúng nó ấy à!

Năm mười tám tuổi, người ta dành cho hắn một cái buồng riêng.

Học giỏi thế quái nào được, nếu đến tuổi tôi mà trong túi chẳng có nổi lấy mười
lia! Muốn mua sách vở nhưng lại không có tiền.

Năm hai mươi tuổi, trong túi hắn lúc nào cũng đã có ít nhất mười lia, có khi còn
nhiều hơn.

Ôi! Mong sao học chóng xong để ra đi làm! Tốt nghiệp đại học rồi tôi sẽ làm việc
cật lực cho mà xem!... Tôi sẽ bắt đầu viết truyện... À không! Viết hẳn tiểu thuyết ấy
chứ! Chao ôi! Ước gì tôi chóng được ra trường.

[...] Năm hăm tám tuổi, khi đã có công ăn việc làm tử tế, hắn kêu:

  • Điều kiện thiếu thốn thế thì sáng tác thế quái nào được! Ít ra là phải có hai buồng

và có máy thu thanh! Lúc nào làm việc mệt, mở máy ra nghe nhạc cho đỡ mệt, sau đó
lại tiếp tục làm việc. Như thể tinh thần mới sảng khoái, làm việc mới có hiệu quả được
chứ! Ôi! Giá tôi có một chiếc máy thu thanh thì hay biết chừng nào!

Năm hăm chín tuổi, hắn tậu được một căn nhà hai buồng và sắm được một cái máy thu
thanh. Nhưng tác phẩm mà hắn dự định từ bao nhiêu năm nay vẫn đúng nguyên tại chỗ.

Chao ôi là cô đơn! – Hắn thở dài. – Sự cô đơn làm cho lòng tôi trống trải như
một bãi sa mạc! Thử hỏi như thế làm sao tôi có thể tìm ra cảm hứng sáng tác được! Ôi!
Phải có một tia nắng nào sưởi ấm được lòng ta! Phải có một ngôi sao nào đem lại cho
ta nguồn vui và nguồn sức mạnh! Phải có một người nào mà vì họ ta sẵn sàng làm việc
quên ăn quên ngủ chứ!... Ai là người có thể làm thần tượng cho ta, có thể làm mục đích
của đời ta? Ôi, tình yêu của ta! Người ở đâu?.

Đến năm ba mươi hắn gặp được nàng. Hắn yêu nàng và cũng được nàng yêu lại.
Cuộc sống của hắn bắt đầu tràn đầy ý nghĩa. Nhưng cuốn tiểu thuyết mà hắn ấp ủ từ
hồi còn niên thiếu vẫn chẳng nhích thêm được một dòng nào.

Yêu đúng là một hạnh phúc tuyệt vời! – Hắn suy nghĩ – nhưng nếu cứ yêu mãi
mà không cưới thì vẫn chưa thể an tâm làm việc được. Ta phải cưới thôi. Có lấy vợ
rồi thì cuộc sống mới ổn định, mới có thể hoàn toàn yên tâm lao vào sự nghiệp. Chà,
mong sao ta sớm cưới được nàng! Bấy giờ ta thể sẽ lao đầu vào sáng tác, không bỏ phí
lấy một phút cho mà xem!

1

Lia: đơn vị tiền tệ của Thổ Nhĩ Kỳ.

Năm băm hai tuổi hắn cưới vợ. Cuộc sống vợ chồng của hắn hạnh phúc lắm. Nhưng
không hiểu sao hắn vẫn không thể bắt tay vào cái sự nghiệp cả đời của hắn được. Ấy là
vì hắn lại tìm thấy những lí do thật là xác đáng – bây giờ trên vai hắn có cả một gánh
nặng gia đình. Quanh năm suốt tháng hẳn phải lo chạy vạy kiếm miếng ăn. Thế thì thì
giờ đâu để hắn ngồi sáng tác nữa?

Năm băm sáu tuổi hắn được tăng lương. Nhưng ta hãy nghe hắn nói:

  • Đã đành là mình có nhà riêng đấy! Nhung nhà cửa chật chội quá! Trẻ con lại suốt

ngày nô đùa ầm ĩ, không sao làm việc được. Giá mình kiếm được ngôi nhà độ bốn,
năm buồng thì tuyệt quá! Lúc ấy mình sẽ làm việc phải biết nhé! Phải xắn tay áo lên
mà làm mới được!

Năm băm tám tuổi hắn dọn đến ở một biệt thự năm buồng. Song tác phẩm của hắn
vẫn không tiến thêm được một tí nào. Hắn vẫn chưa thể làm việc được. Nhưng phải
đâu là lỗi tại hắn?

  • Làm sao mà có thể sáng tác trong một ngôi nhà ở ngay giữa khu phố đông đúc

ồn ào như thế?! Các người có giỏi thi sáng tác xem nào! Không! Mình cần có một nơi
yên tĩnh, nếu dọn được đến một nơi yên tĩnh thì nhất định thế nào mình cũng làm việc
được, mà làm ra trò chứ không phải đùa!

Năm bốn mươi tuổi hẳn dọn đến một khu phố tĩnh mịch. Ngôi nhà của hắn thật
rộng rãi và thoáng mát. Từ cửa sổ nhìn ra phong cảnh đẹp tuyệt trần. Bây giờ chắc hẳn
phải bắt tay vào sáng tác thực sự được rồi chứ gì nữa? Vẫn chưa à? Tại sao vậy?

  • Chà! - Hắn than phiền. – Sáng tác gì được khi mà trong nhà không có những đồ

vật đẹp! Không có những bức tranh quý, không có những bộ sa lông êm, không có
một cái bàn viết cho ra trò, không có những tấm thảm mịn! Muốn sáng tác thì mắt phải
được nhìn những đồ đạc xinh đẹp, tai phải được nghe những điệu nhạc du dương chứ!

Than ôi! Không biết có ngày nào mình thực hiện được cái ước mơ ấy không?
Được thế, mình thể sẽ dốc hết sức ra mà làm việc, cho thiên hạ biết tay!...

Năm bốn hai tuổi hắn có được tất cả những thứ hắn mơ ước: những đồ đạc quý giá
và tiện nghi đầy đủ. Nhưng chẳng hiểu sao hắn không tài nào tập trung tư tưởng vào
công việc được. Tác phẩm của hắn vẫn không nhích thêm được chút nào.

Trời ơi! – Hắn bảo thế. - Các người có hiểu đâu hoàn cảnh của tôi! Các người
cứ nhìn bên ngoài nên tưởng tôi sung sướng, mãn nguyện lắm, không còn điều gì phải
phàn nàn nữa... Mà kể ra tôi cũng mãn nguyện thật, vì tiền bạc lúc nào cũng rủng rỉnh,
không lúc nào thiếu cả, lại được vợ đẹp con khôn, nhà cao cửa rộng nữa. Đồ đạc trong
nhà thì toàn loại quý và tiện nghi đầy đủ, thì giờ lại nhiều nữa này... Thế nhưng... phải
mỗi cái tội là... ruồi! Ruồi nhiều quá! Ruồi không còn làm ăn gì được nữa! Nó cứ
bâu vào người, cứ vo ve bên tai nghe sốt cả ruột, tư tưởng không sao tập trung được!

Ban ngày không chợp mắt nổi vì ruồi, thành ra ban đêm không còn sức để thức mà
sáng tác nữa. Giá không có ruồi thì tôi làm việc phải biết nhé! Cứ gọi là làm như điên
ấy chứ [...] Tôi thề như vậy! Nhưng... cái lũ ruồi khốn kiếp!... Tôi không biết làm
thế nào với chúng cả. Đóng cửa lại thì nóng, mà che rèm thì mất đẹp.

Các người bảo tôi làm việc về mùa đông ư? Nhưng có thực là mùa đông không
có ruồi không? Trời ơi! Không hiểu ai sinh ra giống ruồi làm gì không biết? Tôi chịu
không hiểu nổi.

Năm nay hắn mới bốn hai tuổi. Vì thế chúng ta vẫn chưa hết hi vọng. Một ngày kia,
khi giống ruổi bị tiêu diệt hết trên thế gian này, như điều hắn mơ ước, thì chắc chắn thế
nào hắn cũng sẽ làm việc không ngơi tay để tạo ra cho thế giới cái tác phẩm vĩ đại của
hắn. Đấy, rồi các bạn xem!

(A-dit Ne-xin, Những người thích đùa, Thái Hà địch,
NXB Văn học, Hà Nội, 2016, tr. 138-143)

Đọc mở rộng

1

Tìm đọc một số bài thơ trào phúng viết theo thể thất ngôn bát cú, tứ tuyệt
Đường luật; một số hài kịch và truyện cười. Ghi vào nhật kí đọc sách những thông tin
đáng chú ý về nội dung và hình thức nghệ thuật của các văn bản mà em đã đọc.

2

Trao đổi với các bạn về:

  • Chủ đề, các yếu tố thi luật của thơ thất ngôn bát cú và thơ tứ tuyệt Đường luật

(bố cục, niêm, luật, vần, nhịp, đối) và nghệ thuật trào phúng của tác giả.

  • Chủ đề và các yếu tố của hài kịch như: xung đột, hành động, nhân vật, lời thoại,

thủ pháp trào phúng được sử dụng trong văn bản.
Chủ đề và các yếu tố của truyện cười như: cốt truyện, bối cảnh, nhân vật và
ngôn ngữ của văn bản đã đọc.

Xem bản PDF nguyên trang sách: Ngữ văn 8 tập 1 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 99–123).