Yêu cầu cần đạt

  • Nhận biết được một số yếu tố thi luật của thơ thất ngôn bát cú và thơ tứ tuyệt Đường luật như: bố cục, niêm, luật, vẫn, nhịp, đối.
  • Nhận biết và phân tích được tác dụng của một số thủ pháp nghệ thuật chính của thơ trào phúng.
  • Nhận biết được nghĩa của một số yếu tố Hán Việt thông dụng và nghĩa của những từ, thành ngữ có yếu tố Hán Việt đó; hiểu được sắc thái nghĩa của từ ngữ và biết lựa chọn, sử dụng từ ngữ phù hợp với sắc thái.

Thuật ngữ: Thơ trào phúng · Từ Hán Việt · Sắc thái nghĩa của từ ngữ · Sắc thái nghĩa của từ ngữ và việc lựa chọn từ ngữ

Tiếng cười là một trong những đặc quyền của lí trí, chỉ xuất hiện ở loài người.

Thô-mát Ca-lai (Thomas Carlyle)

Giới thiệu bài học

  • Tiếng cười trào phúng với nhiều sắc thái và cung bậc khác nhau là một phần của đời sống. Tiếng cười đó được bật ra từ những phản ứng lành mạnh của con người trước cái chưa hay, chưa đẹp hoặc cái tiêu cực, xấu xa tồn tại xung quanh chúng ta. Nó góp phần thanh lọc cuộc sống theo cách ý vị, tinh tế và hướng chúng ta đến chân, thiện, mĩ.
  • Thơ trào phúng chuyển tải tiếng cười trào phúng dưới hình thức ngôn ngữ thi ca. Trong bài học này, em sẽ được đọc một số bài thơ trào phúng sáng tác theo thể thơ thất ngôn bát cú và thất ngôn tứ tuyệt. Đây cũng là dịp em củng cố kĩ năng đọc hiểu một bài thơ Đường luật. Bên cạnh đó, em cũng sẽ được tiếp cận một văn bản nghị luận kết nối về chủ đề để thấy những giọng điệu khác nhau của tiếng cười trào phúng và cảm nhận rõ nét hơn ý nghĩa, giá trị tốt đẹp mà tiếng cười ấy đem lại cho cuộc đời.

Tiếng cười là một trong những đặc quyền của lí trí,
chỉ xuất hiện ở loài người.
Thô-mát Ca-lai (Thomas Carlyle)

  • Thơ trào phúng chuyển tải tiếng cười trào phúng dưới hình thức ngôn ngữ thi ca.

Trong bài học này, em sẽ được đọc một số bài thơ trào phúng sáng tác theo thể
thơ thất ngôn bát cú và thất ngôn tứ tuyệt. Đây cũng là dịp em củng cố kĩ năng
đọc hiểu một bài thơ Đường luật. Bên cạnh đó, em cũng sẽ được tiếp cận một
văn bản nghị luận kết nối về chủ đề để thấy những giọng điệu khác nhau của
tiếng cười trào phúng và cảm nhận rõ nét hơn ý nghĩa, giá trị tốt đẹp mà tiếng cười
ấy đem lại cho cuộc đời.

  • Nhận biết và phân tích được tác dụng của một số thủ pháp nghệ thuật chính của

thơ trào phúng.

  • Nhận biết được nghĩa của một số yếu tố Hán Việt thông dụng và nghĩa của những

từ, thành ngữ có yếu tố Hán Việt đó; hiểu được sắc thái nghĩa của từ ngữ và biết
lựa chọn, sử dụng từ ngữ phù hợp với sắc thái.

Viết được bài văn phân tích một tác phẩm văn học: nêu được chủ để, dẫn ra và
phân tích được tác dụng của một vài nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật được
dùng trong tác phẩm.

Trình bày được ý kiến về một vấn đề xã hội.

Có ý thức phê phán cái xấu, tiêu cực và hướng tới những điều tốt đẹp trong suy nghĩ
và hành động.

Đọc

Tri thức ngữ văn

  • Về nội dung, thơ trào phúng dùng tiếng cười để phê phán những cái chưa hay,

chưa đẹp hoặc cái tiêu cực, xấu xa,... nhằm hướng con người tới các giá trị thẩm mĩ,
nhân văn hoặc lí tưởng sống cao đẹp.

Về nghệ thuật, thơ trào phúng thường sử dụng biện pháp tu từ so sánh, ẩn dụ,
nói quá,... tạo ra tiếng cười khi hài hước, mỉa mai, châm biếm nhẹ nhàng; lúc đả kích
mạnh mẽ, sâu cay.

Trong vốn từ gốc Hán, có một bộ phận các từ đơn được cảm nhận như từ thuần Việt,
ví dụ: tổ, đầu, phòng, cao, tuyết, bang, thần, bút,... và một bộ phận các từ phức (có
chứa yếu tố thường không có khả năng sử dụng độc lập như từ đơn) ít nhiều còn gây
khó hiểu như: sĩ tử, nhân văn, nhân đạo, không phận, hải phận, địa cực, kí sinh,...
Nhóm các từ phức gốc Hán này thường được gọi là từ Hán Việt. Mỗi tiếng của từ thuộc
nhóm này có tên gọi tương ứng là yếu tố Hán Việt.

Sắc thái nghĩa của từ ngữ là phần nghĩa bổ sung cho nghĩa cơ bản, thể hiện thái độ,
cảm xúc, cách đánh giá của người dùng đối với đối tượng được nói đến.

Văn bản đọc

VĂN BẢN 1. Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu, Trần Tế Xương

VĂN BẢN 2. Lai Tân, Hồ Chí Minh

VĂN BẢN 3. Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng, Trần Thị Hoa Lê

Văn bản 1

Trước khi đọc

1

1. Nhà nước phong kiến xưa tổ chức các kì thi cho sĩ tử tham gia nhằm mục đích gì?

2

2. Sau cuộc thi (thể thao, nghệ thuật, giáo dục,...) thường sẽ có một buổi lễ
xướng danh và trao giải. Mục đích của lễ xướng danh là gì?

Đọc văn bản

Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu (1)
TRẦN TẾ XƯƠNG

Lễ xướng danh khoa thi Hương năm Đinh Dậu tại Nam Định, ngày 27/12/1897,
ảnh của Phi-a-manh Ăng-đờ-rê San (Firmin André Salles)

Nhà nước ba năm mở một khoa(2),
Trường Nam thi lẫn với trường Hà (3)
Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ,
Âm oẹ quan trường miệng thét loa.

Theo dõi
Các chi tiết miêu tả con người và
khung cảnh lễ xướng danh.

(1) Khoa Đinh Dậu: ở đây chỉ khoa thi Hương năm 1897 tại Nam Định. Bài thơ còn có tên khác là Vịnh khoa thi Hương.
(2) Thời nhà Nguyễn, cứ ba năm triều đình lại mở khoa thi Hương ở một số địa phương do nhà nước chỉ định.
(3) Từ năm 1831, ngoài Bắc có hai trường thì ở Nam Định và Hà Nội. Từ năm 1886, hai trường này gộp lại thi chung
tại Nam Định, lấy tên là trường Hà Nam.
(4) Lọ: lọ đựng bút lông.

Cờ kéo rợp trời, quan sử(1) đến,
Váy lê quét đất, mụ đầm( ) ra.
Nhân tài đất Bắc (3) nào ai đó,
Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà.
(Tổng tập văn học Việt Nam, tập 14, Đặng Đức Siêu sưu tầm, biên soạn,
NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 1218)

Chú ý
Sự xuất hiện của các nhân vật người
nước ngoài trong kì thi.

Sau khi đọc

Trần Tế Xương (1870–1907) quê ở Nam Định, là người có tài nhưng lận đận
thi cử, đỗ Tú tài nên thường được gọi là Tú Xương. Trần Tế Xương sáng tác nhiều thơ
Nôm. Thơ của ông đậm chất trữ tình và chất trào phúng, phản ánh rõ nét bức tranh
hiện thực của xã hội thuộc địa nửa phong kiến nước ta cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX.
Một số bài thơ Nôm tiêu biểu của Trần Tế Xương: Năm mới chúc nhau, Thương vợ,
Áo bông che bạn, Sông Lấp,...

Trả lời câu hỏi

1

1. Bố cục bài thơ gồm mấy phần? Đó là những phần nào?

2

2. Hai câu để cho biết điều gì về chế độ thi cử ở nước ta cuối thế kỉ XIX?

3

3. Biện pháp tu từ nào đã được sử dụng trong cách diễn đạt “Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ
và “Ậm oẹ quan trường miệng thét loa"? Nêu rõ tác dụng của biện pháp tu từ đó
trong việc tái hiện hình ảnh các sĩ tử và quan viên người Việt.

4

4. Phân tích tác dụng của phép đối được tác giả sử dụng trong hai câu thực.

5

5. Tiếng cười trào phúng được thể hiện như thế nào qua việc đặc tả, nhấn mạnh hai
hình ảnh mang tính chất “ngoại lai là quan sứ và mụ đầm?

6

6. Nhắc đến “nhân tài đất Bắc”, tác giả muốn ám chỉ những đối tượng nào? Em cảm
nhận được thái độ gì của tác giả qua lời nhắn nhủ ấy?

7

7. Nhân vật nào trong bài thơ để lại ấn tượng cho em nhiều nhất? Vì sao?

8

8. Cảm xúc chủ đạo của tác giả trong bài thơ này là gì?

Viết kết nối với đọc

Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) phân tích một chi tiết có tính chất trào phúng mà
em ấn tượng nhất trong bài thơ Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu.

(1) Quan sứ kì thi năm Đinh Dậu có vợ chồng Toàn quyền Đông Dương Pôn Đu-me (Paul Doumer) và vợ chồng Công sứ
Nam Định Lơ-nóc-măng (Lenormand) đến dự.
(2) Mụ đẩm: cách gọi người phụ nữ châu Âu với ý giễu cợt.
(3) Đất Bắc: Bắc Ki, địa danh do vua Minh Mạng ấn định vào năm 1834, chỉ vùng đất từ tỉnh Ninh Bình trở ra.

Thực hành tiếng Việt

Nghĩa của một số từ, thành ngữ hán việt

1

1 Chỉ ra một số yếu tố Hán Việt được sử dụng
trong văn bản Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu.
a. Giải nghĩa mỗi yếu tố.
b. Tìm một số từ Hán Việt có sử dụng những
yếu tố đó (mỗi yếu tố tìm ít nhất hai từ).

2

2 Kẻ bảng vào vở theo mẫu sau và tìm từ có
yếu tố Hán Việt tương ứng:
Yếu tố Hán Việt | Từ có yếu tố
Hán Việt tương ứng
gian, (lừa dối, xảo trá) |
gian (giữa, khoảng giữa) |
gian, (khó khăn, vất vả) |

Hiện tượng đồng âm
giữa một số yếu tố Hán Việt
Khi sử dụng từ Hán Việt, cần
lưu ý hiện tượng đồng âm: các
yếu tố Hán Việt cùng âm, nhưng
nghĩa khác xa nhau và không có
liên quan với nhau. Ví dụ:

  • Giới, với nghĩa là “cõi, nơi tiếp

giáp" trong các từ như: giới hạn,
giới thuyết, giới tuyến, biên giới,
địa giới, giáp giới, hạ giới,
phân giới, ranh giới, thế giới,
thượng giới, tiên giới.

  • Giới, với nghĩa “răn, kiêng”

trong các từ như: giới nghiêm,
cảnh giới, phạm giới, thụ giới.

  • Giới, với nghĩa “ở giữa, làm

trung gian" trong các từ như:
giới thiệu, môi giới.

  • Giới, với nghĩa “đồ kim khí,

vũ khí" trong các từ như: cơ giới,
cơ giới hoá, bình giới, khí giới,
quân giới.

  • Giới, với nghĩa chỉ một loài

cây: kinh giới.

3

3 Xếp các từ ngữ sau thành từng nhóm có
yếu tố Hán Việt cùng nghĩa và giải nghĩa yếu tố
Hán Việt đó:
a. nam: kim chỉ nam, nam quyền, nam phong,
phương nam, nam sinh, nam tính
b. thuỷ: thuỷ tổ, thuỷ triều, thuỷ lực, hồng thuỷ,
khởi thuỷ, nguyên thuỷ
c. giai: giai cấp, giai điệu, giai nhân, giai phẩm,
giai thoại, giai đoạn, bách niên giai lão

4

4 Giải nghĩa các thành ngữ có yếu tố Hán Việt sau và đặt một câu với mỗi thành ngữ:
a. vô tiền khoáng hậu
b. dĩ hoà vì quý
c. đồng sàng dị mộng
d. chúng khẩu đồng từ
e. độc nhất vô nhị

Văn bản 2

Trước khi đọc

1

1. Bác Hồ (Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh) đã bôn ba khắp năm châu bốn biển để
tìm con đường cứu nước. Hãy kể tên một số nơi Bác đã từng đặt chân tới.

2

2. Hãy nêu tên một số bài thơ của Hồ Chí Minh mà em biết.

Đọc văn bản

Lai Tân (1)
HỒ CHÍ MINH

Phiên âm:

Giam phòng ban trưởng thiên thiên đổ,
Cảnh trưởng tham thôn giải phạm tiền,
Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự,
Lai Tân y cựu thái bình thiên.

Dịch nghĩa:

Ban trưởng nhà giam ngày ngày đánh bạc,
Cảnh trưởng tham lam ăn tiền phạm nhân bị áp giải,
Huyện trưởng chong đèn làm việc công,
Lai Tân vẫn thái bình như xưa.

Dịch thơ:

Ban trưởng (2) nhà lao chuyên đánh bạc,
Giải người, cảnh trưởng (3) kiếm ăn quanh,
Chong đèn, huyện trưởng làm công việc,
Trời đất Lai Tân vẫn thái bình.

Theo dõi
Vị trí xã hội của các nhân vật.

Theo dõi
Hành động của các nhân vật.

(Nam Trân địch, in trong Suy nghĩ mới về Nhật kí trong tù,
Nguyễn Huệ Chi (Chủ biên), NXB Giáo dục, 1997, tr: 499-500)

(1) Lai Tân: một địa danh thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.
(2) Ban trưởng: chức quan coi ngục.
(3) Cảnh trưởng: cảnh sát trưởng.

Sau khi đọc

Tập Nhật kí trong tù gồm Lời đề từ và 133 bài thơ chữ Hán được Hồ Chí Minh
sáng tác trong thời gian bị giam giữ và giải đi qua nhiều nhà tù của Quốc dân đảng
tại tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc (từ ngày 29 tháng 8 năm 1942 đến ngày 10
tháng 9 năm 1943). Lai Tân là bài thứ 96 của tập thơ.

Trả lời câu hỏi

1

1. Bài thơ Lai Tân thuộc thể thơ nào? Nêu những dấu hiệu giúp em nhận biết được
điều đó.

2

2. Em hãy cho biết mục đích những việc thường làm của ban trưởng nhà giam và cảnh
trưởng. Căn cứ vào đâu em khẳng định như vậy?

3

3. Phải chăng sau khi chê những thói xấu của ban trưởng và cảnh trưởng, tác giả
muốn dành tặng lời khen cho huyện trưởng vì đã làm việc chăm chỉ? Em thử suy đoán
huyện trưởng “chong đèn” để làm việc gì.

4

4. Giọng điệu trào phúng của câu thơ thứ ba có gì khác biệt so với hai câu thơ đầu?

5

5. Các nhân vật trong bài thơ Lai Tân thuộc thành phần nào trong xã hội? Hãy làm
rõ dụng ý của tác giả khi nhằm vào nhóm đối tượng này.

6

6. Theo em, nội dung câu kết có mâu thuẫn với nội dung của các câu thơ trước không?
Vì sao?

Viết kết nối với đọc kết nối trị thức

Viết đoạn văn (khoảng 7−9 câu) làm rõ chất trào phúng nhẹ nhàng mà sâu cay
của bài thơ Lai Tân qua lời nhận xét: “Trời đất Lai Tân vẫn thái bình".

Thực hành tiếng Việt

1

1. Phân biệt sắc thái nghĩa của các từ ngữ
sau và cho ví dụ để làm rõ sự khác nhau về
cách dùng giữa các từ ngữ đó:
a. ngắn và cụt lủn
b. cao và lêu nghêu
c. lên tiếng và cao giọng
d. chậm rãi và chậm chạp

Sắc thái nghĩa của từ ngữ
và việc lựa chọn từ ngữ
Quan sát các từ ngữ trong những cặp
sau: ăn xơi, trắng tinh trắng hếu,
vàng – vàng vọt, người lính – tên lính,...,
có thể thấy giữa các từ ngữ trong mỗi
cặp có sự khác biệt về sắc thái nghĩa,
chẳng hạn, ăn có tính chất trung tính
nhưng xơi có sắc thái trang trọng,
trắng tinh có sắc thái nghĩa tích cực

(tốt nghĩa) nhưng trắng hếu có sắc thái
nghĩa tiêu cực (xấu nghĩa),... Có những
sắc thái nghĩa cơ bản như: trang trọng
thân mật suồng sã, tích cực – tiêu cực,
tốt nghĩa – xấu nghĩa,... Trong giao tiếp,
cần chú ý sử dụng từ ngữ có sắc thái
nghĩa phù hợp để phát huy được hiệu
quả biểu đạt.
Nhóm từ Hán Việt thường có sắc thái
nghĩa cổ kính, trang trọng hoặc khái
quát, trừu tượng, khác hẳn với những từ
có nghĩa tương đồng trong tiếng Việt.

  • Sắc thái cổ kính, ví dụ: Sóng gợn

tràng giang buồn điệp điệp (Huy Cận,
Tràng giang). Nếu thay tràng giang
bằng sông dài thì câu thơ của Huy Cận
sẽ mất đi sắc thái này.

  • Sắc thái trang trọng, ví dụ: Hôm nay,

phu nhân Thủ tướng đến thăm các
cháu ở nhà trẻ Hoa Hồng. Cách dùng từ
phu nhân (thay vì dùng từ vợ) phù hợp
với vị thế của người được nói đến.

  • Sắc thái khái quát, trừu tượng, ví dụ:

Các phụ huynh rất mong được biết
kết quả học tập, rèn luyện của con em
mình. Từ phụ huynh không thể thay thế
bằng từ cha anh.

2

2 Đọc đoạn trích sau và thực hiện các
yêu cầu:
Huống chi ta cùng các ngươi sinh phải
thời loạn lạc, lớn gặp buổi gian nan. Ngó thấy
sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường,
uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem
thân dê chó mà bắt nạt tổ phụ, thác mệnh
Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, để thoả lòng
tham không cùng, giả hiệu Vân Nam Vương
mà thu bạc vàng, để vét của kho có hạn.
Thật khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói,
sao cho khỏi tai vạ về sau?
(Trần Quốc Tuấn, Hịch tướng sĩ)
a. Tìm trong đoạn trích năm từ Hán Việt và
giải nghĩa các từ đó.
b. Đặt một câu với mỗi từ Hán Việt tìm được.

3

3 Theo em, các từ in đậm trong từng nhóm
câu sau đây có thể thay thế cho nhau được
không? Vì sao?
a. Cuộc kháng chiến vĩ đại ấy là một
minh chứng hùng hồn cho tinh thần yêu
nước của nhân dân ta.
Anh ấy có một thân hình to lớn,
săn chắc.
b. – Không thể thống kê chính xác số người chết trong nạn đói năm 1945.
Người chiến sĩ ấy đã hi sinh trong một trận chiến ở biên giới phía Bắc.
Cụ tôi đã mất cách đây năm năm.

4

4. Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Vua truyền cho hai chú cháu đứng dậy, và nói tiếp:
Việc nước đã có người lớn lo. Hoài Văn Hầu nên về quê để phu nhân có người sớm
hôm trông cậy. Đế vương lấy hiếu trị thiên hạ, em ta không nên sao nhãng phận làm con.
Vừa lúc ấy, một người nội thị bưng một mâm cỗ đi qua. Thiệu Bảo cầm lấy một quả
cam sành chín mọng trên mâm, bảo một nội thị đưa cho Hoài Văn.
(Nguyễn Huy Tưởng, Lá cờ thêu sáu chữ vàng)
a. Tìm từ ngữ đồng nghĩa với mỗi từ in đậm trong đoạn trích trên.
b. Việc sử dụng các từ in đậm đó đã đem lại sắc thái gì cho lời văn?

Văn bản 3

Đọc văn bản

Một số giọng điệu của tiếng cười
trong thơ trào phúng
TRẦN THỊ HOA LÊ (1)

Thơ trào phúng là một bộ phận sáng tác văn học đặc thù, mà đối tượng miêu tả,
thể hiện của nó là sự bất toàn (2) của con người, cuộc sống. Phương tiện đặc sắc mà thơ
trào phúng sử dụng để chống lại cái bất toàn ấy là tiếng cười với nhiều giọng điệu khác
nhau. Một số giọng điệu cơ bản của tiếng cười trong thơ trào phúng là: hài hước, mia
mai – châm biếm, đả kích...

Hài hước là cách đùa cợt nhẹ nhàng cùng những yếu tố khác lạ phóng túng, phá vỡ
các khuôn khổ quen thuộc. Bài thơ tự trào của Phạm Thái là một ví dụ điển hình cho
lối hài hước như một cách vượt lên cảnh ngộ, vượt lên những nỗi đắng cay của kẻ bất
đắc chí, tự thấy mình đáng cười, vô tích sự:

Có ai muốn hỏi tuổi tên gì?
Vừa chẵn ba mươi gọi chú Lì.
Dăm bảy câu thơ, gây gối hạc,
Vài ba đứa trẻ, béo răng nghệ (3)
Tranh vòn sơn thuỷ, màu nhem nhuốc,
Bầu dốc kiền khôn( ), giọng bét be
Miễn được ngày nào cho sướng kiếp,
Sống thì nuôi lấy, chết mang đi.
(Phạm Thái, Tự trào 1)

Hai cặp câu thực và luận của bài thơ bát cú sử dụng những từ ngữ, hình ảnh đăng
đối theo lối chế giễu (gấy gối hạc – béo răng nghê, màu nhem nhuốc – giọng bét be)
đã dựng nên bức chân dung nhà nho tài hoa nhưng không gặp thời vận, đành tìm

(1) Trần Thị Hoa Lê sinh năm 1968 tại Ninh Bình, là giảng viên đại học, nhà nghiên cứu văn học. Các công trình
nghiên cứu chính: Giáo trình Văn học trung đại Việt Nam, tập 2 (2015, viết chung), Văn học trào phúng Việt Nam
thời trung đại (2017).....
(2) Bất toàn: không trọn vẹn, không hoàn hảo.
(3) Nghê: con vật tưởng tượng của người Việt, đầu giống đầu sư tử, thân có vẫy, thường được tạc hình trên các cột trụ
hoặc nắp đỉnh đồng, được trang trí như một linh vật ở các đình, chùa, đền, miếu.
(4) Kiến khôn (càn khôn): trời và đất, vốn là tên hai quẻ trong Bát quái (theo tư tưởng triết học cổ đại Trung Hoa được
thể hiện trong Kinh Dịch), quẻ càn tượng trưng cho trời, quẻ khôn tượng trưng cho đất. "Bầu dốc kiến khôn" ý nói uống
nhiều như dốc rượu trong cả thế giới này vào miệng.

thú vui trong việc làm thơ, dạy trẻ, vẽ tranh, uống rượu, và chuyển hoá nỗi buồn
thời thế thành ra tiếng cười hài hước tự chế nhạo lối sống coi nhẹ mọi được – mất,
sinh – tử của mình.

Mỉa mai – châm biếm là cách tạo ra những yếu tố vô lí hoặc thiếu lô-gíc, đảo lộn
trật tự thông thường, tạo nên tiếng cười phê phán, thanh lọc những thói xấu như thói tự
mãn, kiêu căng, đạo đức giả, keo kiệt,... Nguyễn Khuyến đã châm biếm về tình huống
trớ trêu của “quan tuần mất cướp. Quan tuần phủ đứng đầu một tỉnh (nhỏ) – người lẽ
ra phải trị được quân trộm cướp thì lại bị kẻ cướp “lèn” cho một vố rõ đau:

Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông,
Nó lại mang ông bỏ giữa đồng.
Lấy của đánh người, quân tệ nhỉ!
Thân già da cóc, có đau không?
Bây giờ mới sẽ sấy da trán,
Ngày trước đi đâu mất mày lông!
Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa,
Kẻo mang tiếng dại với phường ngông!
(Nguyễn Khuyến, Hỏi thăm quan tuần mất cướp)

Tình huống mỉa mai “quan tuần mất cướp đã cho thấy sự bất lực, đáng thương và
đáng cười của ông quan này. Khai thác “tai nạn” bất thường, vô lí xảy ra với một ông
quan tỉnh, Nguyễn Khuyến có dịp chê cười những ông quan xấu tương tự - vừa giàu có
kếch sù vừa keo kiệt, bủn xỉn, làm quan nhiều quyền lực nhưng đến cái thân mình cũng
không đảm bảo được an toàn.

Nói cách khác, mỉa mai – châm biếm là một thủ pháp tạo nên tiếng cười bằng cách
khẳng định một cách có vẻ như nghiêm túc, có lí những điều vô lí, không thể chấp
nhận, tạo nên sự hoài nghi, phê phán, thanh lọc đối với cái xấu, cái đáng cười. Đó là
cách “chế nhạo ngầm, đeo mặt nạ nghiêm trang”: khen để mà chê, khẳng định để mà
phủ định, để cao để mà hạ thấp,... Mỉa mai Nha lệ thương dân, Kép Trà đã khái quát
được tình cảnh khốn khổ của người dân quê hương ông, xứ đồng trũng “chiêm khê
mùa thối liên miên lụt lội, lại còn è cổ chịu thêm gánh nặng “quan tham":

Nước lụt năm nay khó nhọc to,
Thương dân nha lệ ) dốc lòng lo.
Chửa nhai tre hết còn nhai bạc,
Mới bắt trâu xong lại bắt bò.
(1) Nha lệ: quân linh, người hầu hạ quan lại thời phong kiến.

Mấy xã Bạch Sam ( ) anh lệ nuốt,
Trăm phu Chuyên Nghiệp (2) chú thừa (3) no.
Còn đê, còn nước, dân còn khổ,
Ai bảo Duy Tiên huyện vẫn cò (4)
(Kẹp Trà, Nha lệ thuương dân)

Trong bài thơ thất ngôn bát cú này, tác giả sử dụng lối nói ngược (phản ngữ), giả
như khen ngợi “nha lệ thương dân”, “dốc lòng” lo cúru dân trong tình cảnh mưa lớn, vỡ
đê, nước lụt, song tiếng cười mỉa mai cất lên ở bốn câu thơ thực (3−4) và luận (5−6)
đã phơi bày thực chất lợi dụng thiên tai để nhũng nhiễu, bòn rút dân nghèo của đám
nha lệ đó. Chúng “thương dân” bằng cách nhai tre, nhai bạc, bắt trâu, bắt bò, nuốt, no
khiến cho người dân đã nghèo đói vì thiên tai lại khổ sở thêm vì nhân hoạ.

Đả kích là một cấp độ khác của tiếng cười trào phúng, thường mang giọng điệu phủ
nhận gay gắt đối tượng, thể hiện quan niệm nhân sinh, đạo đức của tác giả. Đó có thể
là những hình thức ngôn từ mang tính “mắng chửi” quyết liệt, có phần suồng sã, thô
mộc, nhằm mục đích cảnh tỉnh sự tha hoá đạo đức đang diễn ra tràn lan trong xã hội.
Trường hợp bài thơ Đất Vị Hoàng của Trần Tế Xương là một ví dụ tiêu biểu:

Có đất nào như đất ấy không?
Phố phường tiếp giáp với bờ sông.
Nhà kia lỗi phép, con khinh bố,
Mụ nọ chanh chua, vợ chửi chông.
Keo cú, người đâu như cứt sắt), HỨC
Tham lam, chuyện thờ rặt hơi đồng 6)
Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,
Có đất nào như đất ấy không?

Bài thơ có lối kết cấu thủ vĩ ngâm, câu đầu, câu cuối hoàn toàn giống nhau, tạo nên
cảm giác về một vòng xoay bế tắc, luẩn quẩn của xã hội giao thời cuối thế kỉ XIX -
đầu thế kỉ XX. Dưới cái nhìn của nhà thơ trào phúng, tâm điểm “vòng xoay bế tắc”
đó chính là tình trạng đạo đức gia đình và xã hội xuống cấp nghiêm trọng: gia đình
thì mất tôn ti trật tự, người trên hư hỏng, người dưới hỗn hào, thiếu tôn trọng lẫn nhau
(con khinh bố, vợ chửi chồng), xã hội thì đầy rẫy những thói keo kiệt, tham lam, chạy theo

(1) (2) Bạch Sam, Chuyên Nghiệp: tên hai tổng (trong chín tổng) thuộc huyện Duy Tiên thời thuộc Pháp, nay thuộc
tỉnh Hà Nam.
(3) Thứa: viên chức làm việc trong công sở của chính phủ Nam triều thời Pháp, còn gọi thừa phải, thấy thừa.
(4) Cô: hoặc có trắng, là từ mà quan lại thời đó chỉ những vùng họ "bóp nặn" được ít, tức là nơi dân nghèo; một cách
giải thích khác: gọi là "đất cò trắng", "dân cò trắng" vì vùng đó trũng thấp "chiêm khê mùa thối", thường bị ngập nước,
cò đậu rất nhiều. Ba tiếng "huyện vẫn cò" còn có thể đọc lái thành "họ vẫn quyền", để nói những viên quan ấy vẫn
chễm chệ giữ chức quan của mình.
(5) Cứt sắt. chất bã thải từ sắt nung, rất rắn; ở đây dùng để chỉ những người keo kiệt, bủn xỉn.
(6) Hơi đồng: mùi tiền bạc, chuyện tiền bạc.

đồng tiền (người đâu như cứt sắt, chuyện thở rặt hơi đồng). Ân đằng sau tiếng cười đả
kích tập trung ở hai liên thơ giữa, độc giả có thể nhận ra nỗi đau xót ám ảnh của nhà thơ
thông qua ba “câu hỏi được trùng điệp từ câu thơ đầu tới câu thơ cuối (Bắc Nam hỏi
khắp người bao tỉnh,/ Có đất nào như đất ấy không?). Tuy nhiên, với giọng đả kích và
ngôn từ thô mộc, suồng sã, những bài thơ trào phúng kiểu này có thể gây ra hiệu ứng
trái ngược trong sự tiếp nhận của độc giả.

Như vậy, tiếng cười trong văn chương nói chung, thơ trào phúng nói riêng thật
phong phú và đa sắc màu như chính cuộc sống. Tiếng cười ấy thật cần thiết để đẩy lùi
cái xấu, hướng mỗi con người đến những giá trị cao đẹp hơn.
(Theo Trần Thị Hoa Lê, Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng,
tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 9/2022 (504 + 505))

Sau khi đọc

Trả lời câu hỏi

1

1. Đối tượng miêu tả, thể hiện của văn học trào phúng là gì? Văn bản đã nêu những
đối tượng cụ thể nào mà tiếng cười trào phúng thường nhằm tới?

2

2. Văn bản đề cập đến những giọng điệu nào của tiếng cười trong thơ trào phúng? Hãy
chỉ rõ dấu hiệu để nhận biết từng giọng điệu.

3

3. Trong các giọng điệu của tiếng cười ở thơ trào phúng mà văn bản để cập, em cảm
thấy thích thú với giọng điệu nào? Vì sao?

4

4. Trình bày cách hiểu của em về nhận định: “Tiếng cười trong văn chương nói chung,
thơ trào phúng nói riêng thật phong phú và đa sắc màu như chính cuộc sống. Tiếng
cười ấy thật cần thiết để đẩy lùi cái xấu, hướng mỗi con người đến những giá trị
cao đẹp hơn”.

5

5. Vận dụng tri thức từ văn bản Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng,
em hãy cho biết: Hai bài thơ Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu và Lai Tân sử dụng
những giọng điệu nào của tiếng cười trào phúng?

Viết

Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng)

Phân tích một tác phẩm văn học là làm rõ những nét đặc sắc về nội dung và hình
thức nghệ thuật của tác phẩm. Việc phân tích một bài thơ trào phúng cũng cần được
triển khai theo hướng đó. Ở bài học này, em sẽ được thực hành viết bài văn phân tích
một bài thơ trào phúng, qua đó vừa củng cố kĩ năng đọc hiểu, tiếp nhận một bài thơ trào
phúng, vừa tiếp tục phát triển kĩ năng phân tích một bài thơ mà em đã được rèn luyện
ở bài 2.

Yêu cầu:

Giới thiệu tác giả và bài thơ; nêu ý kiến chung của người viết về bài thơ.

Phân tích được nội dung trào phúng của bài thơ để làm rõ chủ để.

  • Chỉ ra được tác dụng của một số nét đặc sắc về nghệ thuật trào phúng được

thể hiện trong bài thơ.

  • Khẳng định được giá trị, ý nghĩa của bài thơ.

Phân tích bài viết tham khảo

Phân tích bài thơ Đề đền Sầm Nghi Đống

Giới thiệu khái quát về tác giả
và bài thơ.

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương vốn nổi tiếng với một hồn thơ
phóng khoảng. Bả thường dành mối quan tâm lớn cho các
vấn đề của cuộc sống đời thường, đặc biệt là những vấn đề
liên quan đến người phụ nữ. Nhưng khi thấy cảnh trái tai gai mắt: một tên tướng giặc
bại trận phải tự vẫn mà được lập đền thờ, bà đã không ngại ngần cất tiếng cười giễu cợt.
Bài thơ Để đền Sầm Nghi Đồng ra đời từ sự bức xúc ấy:

Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo,
Kìa đền Thái thú đứng cheo leo.
Vì đây đôi phận làm trai được,
Thì sự anh hùng hả bấy nhiêu!(1)

Phân tích nhan đề và để tài.

Chữ “đề” trong nhan đề bài thơ thể hiện nét văn hoá “tức
cảnh sinh tình , ngẫu hứng làm thơ vịnh cảnh, cảm khải trước
khung cảnh thiên nhiên và cuộc sống đời thường. Đây là một nét văn hoá đẹp, rất phổ
biến ở cả Trung Quốc và Việt Nam ta thuở xưa. Hầu hết những bài thơ như vậy mang
cảm hứng ngọi ca, tôn vinh. Nhưng trường hợp bài thơ Đề đền Sầm Nghi Đống lại không
mang cảm hứng ấy, bởi một tên tướng giặc bại trận phải tự vẫn đâu có đáng được ngợi ca.
Do đó, ngụ ý giễu cợt (ngỡ là được ngợi ca, hoá ra lại bị đem ra để đả kích, khinh thường)
đã xuất hiện ngay từ nhan đề của bài thơ.

Nhà thơ không hề giấu giếm thái độ giễu cợt ngay từ những câu thơ đầu tiên:

Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo,

Phân tích nội dung trào
phúng của bài thơ để làm
rõ chủ đề.

Câu khởi bài thơ bắt đầu bằng cụm từ ghé mắt, nghĩa là
ngôi đền ấy chẳng đáng để nhìn ngắm một cách trang trọng,
chỉ đáng để liếc qua, thậm chí là nhìn bằng “nửa con mắt".

(1) Dân theo Tổng tập văn học Việt Nam, tập 14, Đặng Đức Siêu sưu tầm, biên soạn, Sđd, tr. 843.

Ánh nhìn khinh thị ấy còn được tô đậm thêm bằng cụm từ trông ngang (chứ không
phải trông lên, kính ngưỡng). Cái bảng đề tên ngôi đền được treo lên, chắc chắn phải ở
một vị trí cao, vậy mà tác giả trông ngang cũng thấy được. Chỉ một câu thơ mà sự bề
thế của ngôi đền bỗng trở nên vô nghĩa dưới cái nhìn của nữ sĩ. Từ thấy ở giữa câu
thơ, nhưng lại thể hiện thái độ thờ ơ, hờ hững của tác giả trước “cảnh đẹp”, thật giản
dị mà thâm thuý.

Câu thừa tiếp đà cảm xúc ấy bằng cách đưa ra lời đánh giá:

Kìa đền Thái thú đứng cheo leo.

Chỉ ra và phân tích tác dụng
của một số nét đặc sắc về
nghệ thuật trào phúng.

Sau khi “ghé mắt trông ngang , nữ sĩ như muốn “giới thiệu"
với mọi người về ngôi đền. Từ kìa hàm ý chỉ trỏ, chẳng giấu
giếm sự bất kính với chốn đền miếu linh thiêng. Từ kìa
đồng thời cho thấy nữ sĩ tuy ngắm cảnh, vịnh cảnh, nhưng
cũng chẳng thèm lại gần. Bà cứ đứng từ xa mà nhận xét “đền Thái thú đúng cheo leo".
Từ cheo leo vừa gọi ra vị trí xây dụng của ngôi đền (trên gò), vừa gợi cảm giác không
vững vàng. Câu thơ khiến người đọc tủm tỉm khi nhớ đến hai chữ “trông ngang ở
câu khỏi. Ra là vậy, dù là một viên tướng được thờ phụng, dù là một ngôi đền được
xây cao, thì cũng chỉ là thứ đáng coi thường trong mắt Hồ Xuân Hương. Sự tôn nghiêm,
thiêng liêng của ngôi đền biến mất sạch sẽ trong mắt nữ sĩ.

Câu chuyển của bài thơ đã chuyển cảm nhận từ khách thể quan sát (ngôi đền thờ
Sầm Nghi Đống) sang chủ thể cảm thụ:

Vì đây đôi phận làm trai được,

“Đây” được dùng như đại từ ngôi thứ nhất, thể hiện một cách tự xung đầy tự tin
và tự tôn của Hồ Xuân Hương. Cách xưng hô thể hiện một cuộc “trò chuyện trong
tưởng tượng giữa tác giả với tên tướng giặc bại trận, ở đó, nữ sĩ tự cảm thấy mình
không hề kém cạnh đối phương về vị thế. Để rồi trong cuộc giao tiếp ấy, nữ sĩ đã không
ngại so sánh mình với người được thờ, kèm theo lời chỉ trích không khoan nhượng
bằng một câu cảm thán:

Thì sự anh hùng há bấy nhiêu!

Câu cảm thán cũng là câu hợp, kết lại những gì lắng đọng nhất, những gì nhà thơ
muốn nói nhất. Tiếng cười giễu cợt, đả kích của nữ sĩ đạt đến cao trào cũng chính ở
thời khắc này.

Cách suy nghĩ đôi phận làm trai thể hiện sự mặc cảm là người nữ đã in hằn vào
ý thức nhà thơ khi phải sống trong một xã hội trọng nam khinh nữ. Nhưng mặt khác,
nó cũng thể hiện sự quật cường, không an phận của nữ sĩ. “Anh hùng đâu cứ phải
mày râu” – quan niệm như thế mới thực sự đúng đắn.

cố thêm lòng yêu nước
Khẳng định giá trị, ý nghĩa
của bài thơ.

Đề đền Sầm Nghi Đống là tiếng cười trào phúng vừa sâu cay, vừa mạnh mẽ của
Hồ Xuân Hương dành cho một kẻ xâm lược, góp phần củng
trong mỗi người Việt Nam. Bài thơ đã cho thấy tài năng
nghệ thuật của Hồ Xuân Hương – một nhà thơ hoàn toàn
xứng đáng với danh hiệu “Bà Chúa Thơ Nôm”.
(Nhóm biên soạn)

Thực hành viết theo các bước

1 trước khi viết

a. Lựa chọn đề tài

Mục đích viết
Làm rõ những nét đặc sắc
về nội dung và nghệ thuật
của một bài thơ trào phúng.

Liệt kê các bài thơ trào phúng mà em đã học hoặc
đã đọc (gợi ý: Ông phỗng đá (Nguyễn Khuyến),
Năm mới chúc nhau (Trần Tế Xương),...). Chọn trong
số đó một bài thơ em cảm nhận rõ nhất tiếng cười
trào phúng để phân tích.

Người đọc
Những người quan tâm và
có nhu cầu tìm hiểu về thơ
trào phúng.

b. Tìm ý

Để tìm ý cho bài văn phân tích một bài thơ trào
phúng, em cần thực hiện các bước sau:

  • Xác định bố cục của bài thơ và nội dung chính của từng phần. Ví dụ: Bài thơ Đề đền

Sầm Nghi Đống có thể xác định bố cục gồm 4 phần, tương ứng với bố cục một bài thơ
tứ tuyệt Đường luật (khởi - thừa - chuyển hợp); hoặc cũng có thể xác định bố cục
gồm 2 phần (hai câu đầu là sự châm biếm, đả kích của Hồ Xuân Hương đối với ngôi đền;
hai câu cuối thể hiện sự khinh thường của nữ sĩ khi so sánh bản thân với nhân vật Sầm
Nghi Đống). Bài viết tham khảo đã lựa chọn phương án thứ nhất.

  • Xác định đối tượng của tiếng cười trào phúng trong tác phẩm. Ví dụ: Sầm Nghi Đống

(một tên tướng giặc bại trận, phải tự sát) và ngôi đền thờ nhân vật này là đối tượng bị
đả kích, châm biếm trong bài thơ Để đền Sầm Nghi Đống.

  • Tìm hiểu các phương tiện nhà thơ sử dụng để gây cười như từ ngữ (đặc biệt là

các từ tượng hình, từ tượng thanh, thành ngữ,...), biện pháp tu từ (so sánh, ẩn dụ, nói
quá, điệp ngữ, đảo ngữ,...). Ví dụ: Các từ ngữ như ghé mắt, trông ngang, kìa, đây,...
thể hiện thái độ coi khinh, xem thường của tác giả trước đền thờ Sầm Nghi Đống.

  • Tìm hiểu thông tin về tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm và những thông tin

khác có liên quan để liên hệ, mở rộng khi phân tích. Ví dụ: Bài viết tham khảo đã sử
dụng các thông tin về tác giả Hồ Xuân Hương, nhân vật Sầm Nghi Đống và hiểu biết
về hiện tượng “đề thơ” vịnh cảnh, vịnh vật trong quá trình phân tích.

c. Lập dàn ý

Tổ chức, sắp xếp các ý đã tìm được ở trên thành một hệ thống chặt chẽ, hợp lí, gồm
các phần Mở bài, Thân bài, Kết bài. Riêng phần Thân bài, có thể lập dàn ý theo một trong
hai phương án: theo bố cục bài thơ hoặc theo hai phương diện nội dung và nghệ thuật.

Dàn ý
Mở bài: Giới thiệu tác giả, tên bài thơ và hoàn cảnh ra đời (nếu có),...
Thân bài: Tuỳ theo phương án lựa chọn, có thể trình bày phần Thân bài theo
một hệ thống ý tương ứng.
Phương án 1: Phân tích theo bố cục bài thơ:
+ Ý 1: Câu thơ thứ... (nêu đối tượng của tiếng cười trào phúng, phân tích biện
pháp nghệ thuật được sử dụng trong câu thơ để tạo ra tiếng cười trào phúng)
+ Ý 2: Câu thơ thứ... (nêu đối tượng của tiếng cười trào phúng, phân tích biện
pháp nghệ thuật được sử dụng trong câu thơ để tạo ra tiếng cười trào phúng)
+
Phương án 2: Phân tích theo hai phương diện nội dung và nghệ thuật:
+ Ý 1: Phân tích nội dung bài thơ (chỉ rõ đối tượng trào phúng của bài thơ,
phân tích rõ lí do khiến đối tượng đó bị phê phán,...)
+ Ý 2: Phân tích nét đặc sắc về nghệ thuật (hình ảnh, biện pháp tu từ,... đã được
sử dụng để tạo ra tiếng cười)
+
Kết bài: Khái quát ý nghĩa của tiếng cười trào phúng và giá trị nghệ thuật của
tác phẩm.

2 viết bài

  • Triển khai các ý nhất quán theo phương án dàn ý đã chọn, tránh lẫn lộn giữa hai

phương án. Việc triển khai nhất quán như vậy giúp cho bài viết được chặt chẽ và mạch lạc.

Theo phương án 1, em hãy tham khảo cách triển khai mỗi ý theo trình tự sau:
thuyết (thuyết minh, dẫn dắt để đảm bảo tính mạch lạc của bài viết) dẫn (nêu dẫn
chứng, câu thơ cần phân tích) - phân tích (nêu đối tượng của tiếng cười trào phúng,
phân tích biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong câu thơ để tạo ra tiếng cười trào
phúng). Theo phương án 2, bài phân tích cần tách bạch rõ hai phần: phân tích nội
dung và phân tích hình thức nghệ thuật. Việc phân tích hình thức nghệ thuật nên tập
trung vào biện pháp nghệ thuật đặc sắc nhất của bài thơ.

  • Chú ý làm rõ những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trào phúng của bài thơ,

không sa vào tóm tắt nội dung.

3 chỉnh sửa bài viết

Đọc lại bài viết, căn cứ vào yêu cầu phân tích một bài thơ trào phúng và dàn ý đã
lập, rà soát các phần, các ý để chỉnh sửa. Việc chỉnh sửa có thể thực hiện theo một
số gợi sau:

  • Kiểm tra xem các ý đã được triển khai theo lô-gíc nhất quán chưa, nếu chưa thì

phải điều chỉnh lại các ý cho phù hợp.

  • Rà soát xem bài viết đã chú ý phân tích một số nét đặc sắc về nội dung và nghệ

thuật trào phúng của bài thơ chưa. Nếu thiếu thì phải bổ sung.

  • Đối chiếu quy mô và dung lượng thông tin giữa các ý. Ý nào trình bày quá dài

hoặc quá nhiều thông tin thì cần rút gọn lại. Ngược lại, ý nào quá ngắn hoặc còn sơ sài
thì cần bổ sung cho cân đối.

Nói và nghe

Trình bày ý kiến về một vấn đề xã hội (ý nghĩa của tiếng cười trong đời sống)

Khi muốn bày tỏ xúc cảm vui hay buồn, bộc lộ niềm hạnh phúc hay nỗi khổ đau,
thể hiện sự hài lòng, tán thành hay sự bất mãn, phản đối,... con người đều có thể sử
dụng tiếng cười như một phương tiện biểu đạt hữu hiệu. Bằng hiểu biết và trải nghiệm
của mình, em hãy nêu ý kiến về ý nghĩa của tiếng cười trong đời sống.

1 trước khi nói

Mục đích nói
Trình bày ý kiến của em về
ý nghĩa của tiếng cười trong
đời sống để tìm sự chia sẻ,
đồng tình của người nghe.

  • Xác định phạm vi trình bày (ý nghĩa của tiếng cười

nói chung hay tiếng cười nhằm một mục đích cụ thể,
ví dụ: tiếng cười trào phúng, tiếng cười tán thưởng,
tiếng cười vui mừng,...).

Người nghe
Những người có nhu cầu
tìm hiểu ý nghĩa của tiếng
cười trong đời sống.

  • Tìm những ý chính dự định sẽ trình bày trong bài nói:

+ Tiếng cười đó nhằm tới đối tượng nào?
+ Tiếng cười đó được biểu hiện như thế nào?
+ Người tạo ra tiếng cười ấy muốn thể hiện điều gì?
+ Đánh giá của em về ý nghĩa của tiếng cười đó.

  • Từ các ý tìm được, lập dàn ý cho bài nói.

2 trình bày bài nói

Giới thiệu về tiếng cười nói chung (hoặc tiếng cười nhằm một mục đích cụ thể).

Lập dàn ý

Dàn ý

Mở bài:

Giới thiệu tác giả, tên bài thơ và hoàn cảnh ra đời (nếu có),...

Thân bài:

Tuỳ theo phương án lựa chọn, có thể trình bày phần Thân bài theo một hệ thống ý tương ứng.

Phương án 1:

Phân tích theo bố cục bài thơ:

+ Ý 1: Câu thơ thứ... (nêu đối tượng của tiếng cười trào phúng, phân tích biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong câu thơ để tạo ra tiếng cười trào phúng)

+ Ý 2: Câu thơ thứ... (nêu đối tượng của tiếng cười trào phúng, phân tích biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong câu thơ để tạo ra tiếng cười trào phúng)

+ ...

Phương án 2:

Phân tích theo hai phương diện nội dung và nghệ thuật:

+ Ý 1: Phân tích nội dung bài thơ (chỉ rõ đối tượng trào phúng của bài thơ, phân tích rõ lí do khiến đối tượng đó bị phê phán,...)

+ Ý 2: Phân tích nét đặc sắc về nghệ thuật (hình ảnh, biện pháp tu từ,... đã được sử dụng để tạo ra tiếng cười)

Kết bài:

Khái quát ý nghĩa của tiếng cười trào phúng và giá trị nghệ thuật của tác phẩm.

Viết bài

Chỉnh sửa bài viết

Trước khi nói

  • Tìm những ý chính dự định sẽ trình bày trong bài nói:

+ Tiếng cười đó nhằm tới đối tượng nào?

+ Tiếng cười đó được biểu hiện như thế nào?

+ Người tạo ra tiếng cười ấy muốn thể hiện điều gì?

+ Đánh giá của em về ý nghĩa của tiếng cười đó.

  • Từ các ý tìm được, lập dàn ý cho bài nói.
Mục đích nói

Trình bày ý kiến của em về ý nghĩa của tiếng cười trong đời sống để tìm sự chia sẻ, đồng tình của người nghe.

Người nghe

Những người có nhu cầu tìm hiểu ý nghĩa của tiếng cười trong đời sống.

Trình bày bài nói

  • Lần lượt trình bày từng nội dung theo dàn ý đã chuẩn bị, kèm lí lẽ và bằng chứng minh hoạ. Chú ý chọn ví dụ minh hoạ thích hợp (từ sách báo, phim, tranh ảnh,...).
  • Nêu ý kiến đánh giá về ý nghĩa của tiếng cười. Chú ý phản ứng của người nghe để tìm kiếm sự đồng thuận hoặc sẵn sàng đối thoại.

Sau khi nói

Người nói và người nghe trao đổi về bài nói theo một số gợi ý sau:

  • Ý nghĩa của tiếng cười được đề cập trong bài nói có phù hợp với cuộc sống hiện nay không?
  • Vấn đề được trình bày có ý nghĩa đối với những đối tượng cụ thể nào?
  • Cách lập luận, dẫn dắt vấn đề, thái độ và khả năng tương tác của người nghe,... của người nói có thuyết phục không?
  • Ý kiến trao đổi của người nghe có tác dụng làm rõ hơn hoặc bổ sung cho vấn đề người nói trình bày không?

Củng cố, mở rộng

1.

Kẻ bảng vào vở theo mẫu sau và điền các nội dung phù hợp:

2.

Kẻ bảng vào vở theo mẫu sau và điền các thông tin phù hợp:

3.

Kẻ bảng vào vở theo mẫu sau và điền các thông tin tương ứng:

4.

Tiếng cười trào phúng nhằm giễu cợt, mỉa mai, châm biếm, đả kích những cái chưa hay, chưa đẹp hoặc cái tiêu cực, xấu xa nhưng mục đích cao nhất của nó là hướng tới cuộc sống tốt đẹp hơn.

Em hãy nêu những suy nghĩ của mình về ý kiến trên.

Thực hành đọc

Khi đọc văn bản dưới đây, em cần chú ý những vấn đề sau:

  • Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
  • Đối tượng của tiếng cười trào phúng.
  • Nghệ thuật ẩn dụ (dùng hình tượng cây vông để châm biếm, đả kích).

Biền, nam, khỏi, tử(3), chẳng vun trồng,
Cao lớn làm chi những thứ vông.
Tuổi tác càng già, càng xốp xáp,
Ruột gan không có, có gai chông.
Ra tài lương đống(4) không nên mặt,
Dựa chốn phiên lí(5) chút đỡ lòng.
Đã biết nòi nào thời giống nấy,
Khen cho rửa(6) cũng trổ ra bông.

NGUYỄN CÔNG TRỨ(2)

(Thơ văn Nguyễn Công Trứ, Lê Thước – Hoàng Ngọc Phách –
Trương Chính giới thiệu, hiệu đính, chú thích, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1958, tr. 71)

(1)

Vông: một loài cây thân gỗ, sinh trưởng nhanh nhưng thớ gỗ xốp, mềm, chịu lực kém, dễ mối mọt, không bền.

(2)

Nguyễn Công Trứ (1778-1858) quê ở Hà Tĩnh, là nhà chính trị, nhà quân sự và nhà thơ nổi tiếng thời nhà Nguyễn. Ông sáng tác chủ yếu bằng chữ Nôm, nổi tiếng với phong cách phóng khoáng. Một số sáng tác tiêu biểu của ông: Đi thi tự vịnh, Chí khí anh hùng, Bài ca ngất ngưởng....

(3)

Biển, nam, khỏi, tử: tên các loài cây quý.

(4)

Lương đống: rường cột, chỉ những người có tài năng, giữ trọng trách trong một tổ chức nào đó.

(5)

Phiên lí: phên giậu, bờ rào.

(6)

Rửa: thế, vậy.

Xem bản PDF nguyên trang sách: Ngữ văn 8 tập 1 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 80–98).