Đó là những câu chuyện, không phải lịch sử. Cái mà tôi muốn biết là những câu chuyện này xảy ra khi nào và như thế nào. E. H. Gôm-bríc (E. H. Gombric)

Giới thiệu bài học

  • Lịch sử là những gì xảy ra trong quá khứ của đất nước và nhân loại. Chúng ta có thể trở về quá khứ bằng nhiều con đường khác nhau: qua những bài học môn Lịch sử trong nhà trường; qua những cuốn sử kí được viết nên bởi các nhà sử học; qua những bộ phim hoặc cuốn truyện tái hiện các sự kiện, các nhân vật lừng danh thời xa xưa;... Ở các nền văn học, luôn có những câu chuyện lịch sử được kể lại trong các tác phẩm truyện.
  • Hai văn bản truyện ở bài học này cho ta sống lại không khí hào hùng trong công cuộc chống giặc ngoại xâm của cha ông thuở trước. Chúng ta sẽ được gặp những anh hùng dân tộc có lòng yêu nước nồng nàn, căm thù giặc sâu sắc, lập nên những chiến công lừng lẫy. Tất cả được khắc hoạ bằng nghệ thuật hấp dẫn của thể loại truyện lịch sử. Kết nối chủ đề của bài học là một văn bản thơ bộc lộ niềm tự hào về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vừa kết thúc thắng lợi, thể hiện tư thế đi lên của dân tộc Việt Nam.

Yêu cầu cần đạt

  • Nhận biết được một số yếu tố của truyện lịch sử như: cốt truyện, bối cảnh, nhân vật, ngôn ngữ.
  • Nhận biết và phân tích được chủ đề, tư tưởng, thông điệp mà văn bản muốn gửi đến người đọc thông qua hình thức nghệ thuật của văn bản; phân tích được một số căn cứ để xác định chủ đề.
  • Nhận biết được biệt ngữ xã hội, từ ngữ địa phương; hiểu được phạm vi, tác dụng của việc sử dụng biệt ngữ xã hội, từ ngữ địa phương trong giao tiếp và trong sáng tác văn học.
  • Viết được bài văn kể lại một chuyến đi hay một hoạt động xã hội đã để lại cho bản thân nhiều suy nghĩ và tình cảm sâu sắc, có dùng yếu tố miêu tả hay biểu cảm hoặc cả hai yếu tố này trong văn bản.
  • Biết trình bày bài giới thiệu ngắn về một cuốn sách.
  • Tự hào về truyền thống dựng nước và giữ nước của cha ông, có tinh thần trách nhiệm đối với đất nước.

Đọc

Tri thức ngữ văn

Truyện lịch sử

  • Truyện lịch sử là tác phẩm truyện tái hiện những sự kiện, nhân vật ở một thời kì, một giai đoạn lịch sử cụ thể. Tình hình chính trị của quốc gia, dân tộc; khung cảnh sinh hoạt của con người;... là các yếu tố cơ bản tạo nên bối cảnh lịch sử của câu chuyện. Nhờ khả năng tưởng tượng, hư cấu và cách miêu tả của nhà văn, bối cảnh của một thời đại trong quá khứ trở nên sống động như đang diễn ra.
  • Cốt truyện của truyện lịch sử thường được xây dựng trên cơ sở các sự kiện đã xảy ra; nhà văn tái tạo, hư cấu, sắp xếp theo ý đồ nghệ thuật của mình nhằm thể hiện một chủ đề, tư tưởng nào đó.
  • Thế giới nhân vật trong truyện lịch sử cũng phong phú như trong cuộc đời thực. Việc chọn kiểu nhân vật nào để miêu tả trong truyện là dụng ý nghệ thuật riêng của nhà văn. Thông thường, truyện lịch sử tập trung khắc hoạ những nhân vật nổi tiếng như vua chúa, anh hùng, danh nhân,... – những con người có vai trò quan trọng đối với đời sống của cộng đồng, dân tộc. Tuy nhiên, các nhân vật đó hiện ra dưới cái nhìn riêng, thể hiện cách lí giải độc đáo của nhà văn về lịch sử. Bên cạnh đó, mối quan hệ phức tạp giữa nhân vật với nhiều đối tượng khác nhau trong xã hội cũng được nhà văn quan tâm thể hiện.
  • Dù viết bằng văn xuôi hay văn vần, truyện ngắn hay tiểu thuyết, ngôn ngữ trong truyện lịch sử, nhất là ngôn ngữ nhân vật, phải phù hợp với thời đại được miêu tả, thể hiện vị thế xã hội, tính cách riêng của từng đối tượng.

Chủ đề của tác phẩm văn học

Chủ đề của tác phẩm văn học là vấn đề trung tâm, ý nghĩa cốt lõi hay thông điệp chính của tác phẩm. Thông thường, chủ đề không được thể hiện trực tiếp mà người đọc phải tự rút ra từ nội dung của tác phẩm.

Biệt ngữ xã hội

Biệt ngữ xã hội là những từ ngữ có đặc điểm riêng (có thể về ngữ âm, có thể về ngữ nghĩa), hình thành trên những quy ước riêng của một nhóm người nào đó, do vậy chỉ sử dụng trong phạm vi hẹp.

VĂN BẢN ĐỌC
VĂN BẢN 1. Lá cờ thêu sáu chữ vàng (trích), Nguyễn Huy Tưởng
VĂN BẢN 2. Quang Trung đại phá quân Thanh (trích Hoàng Lê nhất thống chí), Ngô gia văn phái
VĂN BẢN 3. Ta đi tới (trích), Tố Hữu

Văn bản 1

Trước khi đọc

1

Chia sẻ cảm nghĩ của em về người anh hùng nhỏ tuổi Trần Quốc Toản (qua các tài liệu lịch sử, sách báo, phim ảnh,... mà em đã đọc, đã xem).

2

Ngoài Trần Quốc Toản, em còn biết thêm nhân vật thiếu nhi lỗi lạc nào trong lịch sử?

Đọc văn bản

Lá cờ thêu sáu chữ vàng(1)

Trích, NGUYỄN HUY TƯỞNG

Hoài Văn(2) nằn nì thế nào, quân Thánh Dực(3) cũng không cho chàng xuống bến. Hầu(4) đứng trên bờ, thẫn thờ nhìn bến Bình Than. Hai cây đa cổ thụ bóng râm mát che kín cả một khúc sông.

Theo dõi

Quang cảnh, không khí ở bến Bình Than nơi diễn ra một hội nghị quan trọng.

Dưới bến, những thuyền lớn của các vương hầu về hội sư(5), đậu dài san sát, sơn đủ các màu. Trên mui thuyền, phất phới những lá cờ của Chiêu Minh Vương, của Chiêu Quốc Vương, của Chiêu Văn Vương, của Hưng Đạo Vương,

(1) Lá cờ thêu sáu chữ vàng là cuốn truyện lịch sử gồm 18 phần. Nhân vật chính của tác phẩm là Trần Quốc Toản, một thiếu niên thuộc dòng dõi nhà Trần, sớm mồ côi cha. Khi quân Nguyên lăm le sang cướp nước ta, do chưa đến tuổi trưởng thành, không được cùng vua và các vương hầu dự bàn việc đánh giặc, Trần Quốc Toản đã về xin mẹ được chiêu mộ binh lính, huấn luyện quân sĩ, dựng cờ lớn để sáu chữ Phá cường địch báo hoàng ân (Diệt giặc mạnh báo ơn vua), ra trận diệt giặc, lập nhiều chiến công.
(2) Hoài Văn: tên chữ của Trần Quốc Toản.
(3) Quân Thánh Dực: quân sĩ bảo vệ vua.
(4) Hầu: tước thứ hai, sau tước công trong bậc thang tước hiệu thời phong kiến. Đây là tước hiệu của Trần Quốc Toản.
(5) Hội sư: gặp nhau để bàn việc quân.

của Chiêu Thành Vương, chú ruột mình. Thuyền của các vị đại vương chức trọng quyền cao nhất của triều đình đều ở gần thuyền ngự(1). Thuyền ngự cao lớn hơn cả, chạm thành hình một con rồng lớn rực rỡ son vàng, hai bên mạn dàn bày cờ quạt, tàn vàng, tán tía và đồ nghi trượng(2) của đấng thiên tử(3). Hết thuyền của các đại vương, là thuyền của các tước vương bậc dưới, rồi đến thuyền của các tước hầu, cuối cùng là thuyền của các tướng sĩ đi hộ vệ. Mắt Hoài Văn đăm đăm nhìn thuyền của Hưng Võ Vương, Hưng Trí Vương, Hung Hiếu Vương... Thì ra các con trai của Hưng Đạo Vương đều đủ mặt. Những người em họ ấy, chẳng qua chỉ hơn
Hoài Văn dăm sáu tuổi! Cha ta mất sớm, nên ta mới phải đứng rùa nhục nhã thế này! Mắt Hoài Văn giương to đến rách, nhìn những lá cờ bay múa trên những đoàn thuyền đẹp như gấm như hoa.

Theo dõi

Những ý nghĩ của nhân vật xen vào lời của người kể chuyện.

Qua các cửa sổ có chấn song triện(4) và rủ mành mành hoa của thuyền rồng(5), Hoài Văn thấy các vương hầu đang ngồi bàn việc nước với quan gia(6). Hoài Văn chẳng biết các vị nói gì. Nhưng bàn gì thì bàn, Hoài Văn dám chắc cũng chẳng ngoài cái việc lớn là cho quân Nguyên mượn đường vào đánh Chiêm Thành hay chống cự lại mà thôi. Dã tâm(7) của quân giặc đã hai năm rõ mười rồi. Nó giả tiếng mượn đường, kì thực là để cướp sống lấy nước Nam. Chỉ có việc đánh, làm gì phải kéo ra tận đây mà bàn đi bàn lại? Chao ôi!
Lúc này mà Hoài Văn được xuống thuyền rồng và được bàn việc nước! Chàng sẽ quỳ trước mặt quan gia, và xin quan gia cho đánh!

Theo dõi

Hoài Văn có những suy nghĩ gì khi thấy các vương hầu họp bàn việc nước?

Thuyền rồng im lặng. Tàn tán(8), cờ quạt và các đồ nghi trượng in màu son vàng trên mặt nước sông trong vắt. Chốc chốc lại thấy những người nội thị quỳ ở ngoài mui, dâng trầu cau, dâng trà, dâng thuốc. Hoài Văn muốn xô mấy người lính Thánh Dực để chạy xuống bến nhưng lại sợ tôi chém đầu,
Chàng muốn thét to: “Xin quan gia cho đánh”, nhưng lại e phạm thượng(9)!

Mấy tháng ở kinh, thấy sứ Nguyên hạch sách đủ điều, Hoài Văn chỉ có một ý nghĩ là đánh, đánh để giữ lấy quốc thể(10). Rồi lại đến ngày quan gia mời các bô lão khắp bàn dân thiên hạ về kinh để nhà vua hỏi ý dân xem nên cho giặc mượn đường hay nên đánh lại. Các bô lão là những người quê mùa, chất phác, chưa bao giờ được bước chân vào nơi lầu son gác tía, chưa bao giờ được bàn việc nước, thế mà nghe quan gia hỏi, họ đều nắm tay, gân mặt, khảng khái tâu lên: “Xin đánh!”, trăm miệng một lời, làm rung chuyển cả

(1) Thuyền ngự: thuyền của vua.
(2) Nghi trượng: vật dụng hoặc vũ khí trang hoàng nơi cung thất, dinh thự hay dùng khi đi đường của vua quan.
(3) Thiên tử: con trời, xưa dùng để chỉ nhà vua.
(4) Chấn song triện: chấn song hình dấu triện.
(5) Thuyền rồng: thuyền có chạm hình rồng, xưa chỉ dành cho vua.
(6) Quan gia: từ dùng để chỉ vua nhà Trần trong cách xưng hô của những người trong hoàng tộc.
(7) Dã tâm: lòng dạ hiểm độc.
(8) Tàn tán: đồ dùng hình tròn, làm bằng vóc hoặc nhiễu, xung quanh rủ xuống, có cán dài, cầm để che cho bậc vua chúa hoặc che kiệu trong các đám rước.
(9) Phạm thượng: phạm tội với bề trên.
(10) Quốc thể: danh dự của một quốc gia.

toà điện Diên Hồng. Những người áo vải ấy còn biết đường phải trái, huống chi ta là bậc tôn thất(1) há lại không nghĩ được như họ sao? Đến họ mà quan gia còn hỏi kế, sao ta là người gần gũi, quan gia chẳng hỏi một lời?

Suốt ngày hôm qua, Hoài Văn ruổi ngựa đi tìm vua, quên không ăn uống. Hôm nay, đợi mãi từ sớm đến trưa, Hoài Văn thấy đói cồn cào, mắt hoa lên, đầu choáng váng, chân tay buồn bã. Hoài Văn không chịu được nữa. Đúng mãi đây cho đến bao giờ? Thôi thì liều một chết vậy. Ta cứ xuống, chỉ nói hai tiếng xin đánh, rồi mặc cho triều đình luận tội. Hoài Văn xô mấy người lính Thánh Dực ngã chúi, xăm xăm xuống bến. Một viên tướng hốt hoảng chạy tới, níu áo Hoài Văn lại. Quốc Toản tuốt gươm, mắt trùng lên một cách điên dại:

  • Không buông ra, ta chém!
Dự đoán

Điều gì sẽ xảy ra khi Hoài Văn có hành động vượt khuôn phép?

Lính ập đến giữ lấy Hoài Văn. Thực ra, vì nể chàng là một vương hầu, nên họ đã để cho chàng đứng đấy từ sáng. Nay thấy Hoài Văn làm quá, viên tướng nói:

  • Quân pháp vô thân(2), hầu không có phận sự ở đây, nên trở ra cho anh em làm việc. Nhược bằng khinh thường phép nước, anh em tất phải chiếu theo thượng lệnh(3).

Hoài Văn đỏ mặt bừng bừng, quát lớn:

  • Ta xuống xin bệ kiến(4) quan gia, không kẻ nào được giữ ta lại. Lôi thôi thì hãy nhìn lưỡi gươm này!

Viên tướng tái mặt, hô quân sĩ vây kín lấy Hoài Văn. Quốc Toản vung gươm múa tít, không ai dám tới gần. Tiếng kêu, tiếng thét náo động cả bến sông.

Vừa lúc ấy thì cuộc họp bàn ở dưới thuyền rồng tạm nghỉ. Vua Thiệu Bảo(5) và nhiều vị vương hầu ra ngoài mui, ngắm cảnh sông nước. Nghe tiếng ồn ào trên bến, vua và các vương hầu nhìn lên, thấy Hoài Văn đang giằng co với một đám quân Thánh Dực. Vua hỏi:

  • Cái gì trên ấy?

Quốc Toản nhìn xuống bến, thấy vua Thiệu Bảo đứng tựa đầu rồng dưới một cái tàn vàng. Nhà vua còn rất trẻ, mặt đỏ như gấc chín. Đứng sau vua là Hưng Đạo Vương cao lớn, chòm râu dài đốm bạc bay theo chiều gió. Chiêu Thành Vương lật đật chạy lên bờ, hỏi cháu:

  • Cháu không sợ tội chết hay sao mà đến đây? Ai bảo cháu?

Hoài Văn thưa:

  • Cháu nghe tin thiên tử họp với các vương hầu ở đây nên cháu đến.

(1) Tôn thất dòng họ nhà vua.
(2) Quân pháp vô thân: phép nước, phép vua không nể người thân.
(3) Thượng lệnh: lệnh của bề trên.
(4) Bệ kiến: xin gặp vua.
(5) Vua Thiệu Bảo: vua Trần Nhân Tông.

Cháu chưa đến tuổi dự bàn việc nước. Bên trong là tình họ hàng máu mủ, xuề xoà, thân mật với nhau thế nào cũng được. Nhưng ra ngoài là việc nước, có tôn tỉ, có phép tắc, không thể coi thường. Cháu tự tiện đến đây đã là không phải, lại gây sự với quân Thánh Dực, đấy là tội chết. Chú cũng phải vạ lây. Sao cháu không nghe lời chú, về quê thờ mẹ(1), mà lại tự nhiên vô cớ đến đây gây ra cái vạ tày trời này?

Theo dõi

Hoài Văn giải thích như thế nào về hành động của mình?

Hoài Văn cúi đầu thưa:

  • Cháu biết là mang tội lớn. Nhưng cháu trộm nghĩ rằng khi quốc biến(2) thì đến đứa trẻ cũng phải lo, huống hồ cháu đã lớn. Cháu chưa đến tuổi dự bàn việc nước, nhưng cháu có phải là giống cỏ cây đâu mà ngồi yên được? Vua lo thì kẻ thần tử(3) cũng phải lo. Cha cháu mất sớm, cháu được chú nuôi nấng. Chú thường dạy cháu những điều trung nghĩa, cháu vẫn ghi trong tấc dạ. Cháu liều chết đến đây, chỉ muốn góp một vài lời. Thưa chú, chẳng hay quan gia cùng các vương hầu bàn định thế nào? Cho nó mượn đường hay đánh lại?
  • Việc đó còn đang bàn. Có người chủ chiến. Có người chủ hoà...

Quốc Toản đứng phắt dậy, mắt long lên:

  • Ai chủ hoà? Ai chủ hoà? Cho nó mượn đường ư? Không biết đấy là kế giả đồ diệt Quắc(4) của nó đấy sao? Dâng giang sơn gấm vóc này cho giặc hay sao mà lại bàn thế?
Theo dõi

Thái độ của Trần Quốc Toản thể hiện như thế nào qua lời nói?

Quốc Toản chạy xồng xộc xuống bến, quỳ xuống tâu vua, tiếng nói như thét:

  • Xin quan gia cho đánh! Cho giặc mượn đường là mất nước.

Nói xong, Hoài Văn run bắn, tự đặt thanh gươm lên gáy và xin chịu tội. Thiệu Bảo gật đầu, mỉm cười nhìn Hưng Đạo Vương và Hưng Đạo Vương cũng gật đầu. Lời nói của Hoài Văn chính hợp với ý của nhà vua và Hưng Đạo. Nhưng trong đám vương hầu, có một người sầm nét mặt. Đấy là Chiêu Quốc Vương Ích Tắc. Ích Tắc là kẻ chủ hoà. Chiêu Quốc Vương nói:

  • Hoài Văn Hầu làm loạn phép nước. Muốn trị nước phải trị người thân trước đã. Cúi xin quan gia cho chém đầu để nghiêm quân lệnh!
Đối chiếu

Cách nhà vua xử lí hành động của Trần Quốc Toản có đúng như dự đoán của em không?

Hoài Văn cúi rạp đầu xuống đất. Bên cạnh Hoài Văn, Chiêu Thành Vương cũng quỳ để xin chịu tội. Thiệu Bảo ôn tồn nói:

  • Hoài Văn Hầu làm trái phép nước, tội ấy đáng lẽ không dung. Nhưng Hoài Văn còn trẻ,

(1) Thờ mẹ: ý nói chăm sóc, phụng dưỡng mẹ.
(2) Quốc biến: đất nước gặp biến cố, nguy nan.
(3) Thần tử: bề tôi, con cái.
(4) Giả đồ diệt Quắc: (thành ngữ) mượn đường diệt Quắc. Vua nước Tấn (thời Chu, Trung Quốc) là Hiến Công muốn diệt nước Quắc bèn biếu quà và thuyết phục vua nước Ngu cho mượn đường đi qua để đánh nước Quắc. Sau khi diệt xong nước Quắc, trên đường trở về, quân Tấn thôn tính luôn nước Ngu. Thành ngữ này được dùng với nghĩa: cần luôn cảnh giác trước mưu đồ sâu xa của kẻ khác.

Illustration of a boat with a person standing on it, possibly a king, and another person on the shore. The text 'tình cũng đáng thương, lại biết lo cho vua, cho nước, chí ấy đáng trọng.' is placed next to the illustration.

Vua truyền cho hai chú cháu đứng dậy, và nói tiếp:

  • Việc nước đã có người lớn lo. Hoài Văn Hầu nên về quê để phu nhân(1) có người sớm hôm trông cậy. Đế vương lấy hiếu trị thiên hạ, em ta không nên sao nhãng phận làm con.

Vừa lúc ấy, một người nội thị(2) bung một mâm cỗ đi qua. Thiệu Bảo cầm lấy một quả cam sành chín mọng trên mâm, bảo một nội thị đưa xuống cho Hoài Văn. Vua nói:

  • Tất cả các vương hầu đến đây đều có phần cam. Chẳng có lẽ Hoài Văn lại không được hưởng. Vậy thưởng cho em ta một quả.
Theo dõi

Tâm trạng của Hoài Văn.

Hoài Văn đỡ lấy quả cam, tạ ơn vua, lủi thủi bước lên bờ. Đằng sau có tiếng cười của Thiệu Bảo và các vương hầu. Nghe rõ cả tiếng cười của mấy vị tước vương chỉ nhỉnh hơn mình vài tuổi. Vua ban cam quý. Nhưng việc dự bàn thì vẫn không cho. Hoài Văn tức, vừa hơn vừa tủi. Uất nhất là đám quân Thánh Dực cũng khúc khích cười chế nhạo. Hoài Văn quắc mắt, nắm chặt bàn tay lại. Được rồi!
Ta sẽ chiêu binh mãi mã(3), cầm quân đi đánh giặc.
Xem cái thằng phải đứng ngoài rìa này có phải là một kẻ toi cơm không. Hai hàm răng Hoài Văn nghiến chặt. Hai bàn tay càng nắm chặt lại, như để nghiền nát một cái gì. Hai bàn tay rung lên vì giận dữ. Hoài Văn lẩm bẩm: “Rồi xem ai giết được giặc, ai báo được ơn vua, xem ai hơn, ai kém. Rồi triều đình sẽ biết tay ta.”. Hai nắm tay Hoài Văn càng bóp mạnh.

Đám người nhà trông thấy Hoài Văn hầm hầm trở ra thì chạy ùa tới hỏi chuyện. Để đỡ ngượng với họ, Hoài Văn nói liều:

  • Ta đã tâu với quan gia cho đánh. Quan gia ban cho ta quả cam này. Ơn vua lộc nước, ta đem về để biểu mẫu thân(4).

Trần Quốc Toản xoè bàn tay phải ra. Quả cam đã nát bét, chỉ còn trơ bã.

(Nguyễn Huy Tưởng, Lá cờ thêu sáu chữ vàng,
NXB Văn học, Hà Nội, 1997, tr. 11 – 19)

(1) Phu nhân: từ thường dùng để xưng hô hoặc để nói về người phụ nữ đã có chồng, có địa vị cao trong xã hội; ở đây chỉ mẹ của Trần Quốc Toản.
(2) Nội thị: người hầu ở trong cung.
(3) Chiêu binh mãi mã: chiêu mộ binh sĩ, mua ngựa, ý nói chuẩn bị một đội quân.
(4) Mẫu thân: mẹ (cách nói tôn kính).

Sau khi đọc

  • Nguyễn Huy Tưởng (1912 – 1960) quê ở Hà Nội. Trong sáng tạo nghệ thuật, Nguyễn Huy Tưởng có thiên hướng khai thác đề tài lịch sử, có đóng góp nổi bật ở hai thể loại: tiểu thuyết và kịch. Tác phẩm chính của ông: Đêm hội Long Trì (1942), Vũ Như Tô (1943), An Tư (1944), Bắc Sơn (1946), Lá cờ thêu sáu chữ vàng (1960), Sống mãi với Thủ đô (1961),...
Portrait of Nguyễn Huy Tưởng.
  • Văn bản trên đây thuộc phần 3 của tác phẩm Lá cờ thêu sáu chữ vàng.

Trả lời câu hỏi

1

Hãy tóm tắt nội dung của văn bản và cho biết câu chuyện dựa trên bối cảnh của sự kiện lịch sử nào.

2

Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản có tâm trạng như thế nào khi phải đứng trên bờ nhìn quang cảnh một sự kiện đặc biệt đang diễn ra ở bến Bình Than?

3

Khi bị quân Thánh Dực ngăn cản xuống bến gặp vua, Trần Quốc Toản có hành động gì khác thường? Vì sao Trần Quốc Toản có hành động như vậy?

4

Chứng kiến hành động và nghe lời tâu bày của Trần Quốc Toản, vua Thiệu Bảo có thái độ và cách xử lí như thế nào? Thái độ và cách xử lí đó cho thấy điều gì ở vị vua này?

5

Trong lời người kể chuyện đôi chỗ xen vào những ý nghĩ thầm kín của nhân vật Trần Quốc Toản. Hãy nêu một vài trường hợp và phân tích tác dụng của sự đan xen đó.

6

Những nét tính cách nào của Trần Quốc Toản được thể hiện qua lời đối thoại với các nhân vật khác trong truyện?

7

Trong truyện này, ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật đều mang đậm màu sắc lịch sử. Hãy nêu một số ví dụ và cho biết tác dụng.

8

Hãy khái quát chủ đề của văn bản và cho biết căn cứ vào đâu em khái quát như vậy.

Viết kết nối với đọc

Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) phân tích chi tiết Trần Quốc Toản bóp nát quả cam.

Thực hành tiếng Việt

Biệt ngữ xã hội

1

Chỉ ra biệt ngữ xã hội ở những câu sau và cho biết dựa vào đâu em khẳng định như vậy. Hãy giải nghĩa các biệt ngữ đó.

a.

Năm lên sáu, cung thiếu nhi thành phố có cuộc tuyển “gà” khắp các trường tiểu học, tôi cũng được chọn gửi đến lớp năng khiếu.
(Ngô An Kha, Tìm mảnh ghép thiếu)

b.

Ôn tập cẩn thận đi em. Em cứ “tủ” như vậy, không trúng đề thì nguy đấy.

Nhận biết biệt ngữ xã hội
  • Biệt ngữ xã hội là một bộ phận từ ngữ có đặc điểm riêng. Có khi đặc điểm riêng của biệt ngữ thể hiện ở ngữ âm. Ví dụ:

Anh đây công tử không “vòm”
Ngày mai “kện rệp” biết “mòm” vào đâu.
(Nguyên Hồng, Bỉ vỏ)
Cuốn Bỉ vỏ (NXB Dân Trí, 2011) chú thích: vòm là nhà, kện rệp là hết gạo, mòm là ăn. Kện rệp và mòm có hình thức ngữ âm hoàn toàn mới lạ, chưa gặp trong vốn từ chung của tiếng Việt.
Có khi đặc điểm riêng của biệt ngữ thể hiện ở ngữ nghĩa. Ví dụ:
Tớ chỉ nhường tháng này thôi, tháng sau thì tớ cho cậu ngửi khói.
Từ ngửi khói trong câu trên không có nghĩa là dùng mũi để nhận biết mùi khói, mà là tụt lại phía sau.

  • Do những đặc điểm khác biệt như vậy, trong văn bản, biệt ngữ xã hội thường được in nghiêng hoặc đặt trong dấu ngoặc kép và được chú thích về nghĩa.

2

Cái việc lơ đễnh rất hữu ý đó, cái chuyện bỏ quên hộp thuốc lào vẫn là một ám hiệu của Cai Xanh dùng tới mỗi lúc đi tìm bạn để “đánh một tiếng bạc lớn” nghĩa là cướp một đám to.
(Nguyễn Tuân, Một đám bất đắc chí)
Vì sao ở câu trên, người kể chuyện phải giải thích cụm từ “đánh một tiếng bạc lớn”? Theo em, tác giả dùng cụm từ đó với mục đích gì?

3

Trong phóng sự Tôi kéo xe của Tam Lang (viết về những người làm nghề kéo xe chở người thời trước Cách mạng tháng Tám năm 1945), có đoạn hội thoại:

  • Mày đã “làm xe” lần nào chưa?
  • Bẩm, chúng cháu chưa làm bao giờ cả.

Trong Cạm bẫy người của Vũ Trọng Phụng – một tác phẩm vạch trần trò gian xảo, bịp bợm của những kẻ đánh bạc trước năm 1945 – có câu: Tôi rất lấy làm lạ là vì cứ thấy hai con chim mòng thắng trận, ù tràn đi mà nhà đi săn kia đã phí gần hai mươi viên đạn.
Nêu tác dụng của việc sử dụng biệt ngữ xã hội (in đậm) trong các trường hợp trên.
Đọc tác phẩm văn học, gặp những biệt ngữ như thế, việc đầu tiên cần làm là gì?

Sử dụng biệt ngữ xã hội
  • Biệt ngữ xã hội chỉ nên sử dụng hạn chế, phù hợp với đối tượng và mục đích giao tiếp.
  • Đối với nhà văn, việc sử dụng biệt ngữ xã hội để miêu tả cuộc sống, sinh hoạt của một nhóm người đặc biệt nào đó đôi khi trở nên cần thiết. Nhờ dùng biệt ngữ, bức tranh cuộc sống của một đối tượng cụ thể trở nên sinh động, chân thực.

Sau khi đọc

Portrait of Nguyễn Huy Tưởng

Trả lời câu hỏi

Viết kết nối với đọc

Thực hành tiếng Việt

Biệt ngữ xã hội

(Ngô An Kha, Tìm mảnh ghép thiếu)

(Nguyễn Tuân, Một đám bất đắc chí)

Vì sao ở câu trên, người kể chuyện phải
giải thích cụm từ “đánh một tiếng bạc lớn"?
Theo em, tác giả dùng cụm từ đó với mục
đích gì?

Mày đã “làm xe” lần nào chưa?

Bẩm, chúng cháu chưa làm bao giờ cả.

Trong Cạm bẫy người của Vũ Trọng Phụng
một tác phẩm vạch trần trò gian xảo, bịp bợm của
những kẻ đánh bạc trước năm 1945 có câu: Tôi
rất lấy làm lạ là vì cứ thấy hai con chim mòng
thắng trận, tràn đi mà nhà đi săn kia đã phí gần
hai mươi viên đạn.

Nêu tác dụng của việc sử dụng biệt ngữ
xã hội (in đậm) trong các trường hợp trên.
Đọc tác phẩm văn học, gặp những biệt ngữ
như thế, việc đầu tiên cần làm là gì?

Nhận biết biệt ngữ xã hội

Biệt ngữ xã hội là một bộ phận từ ngữ
có đặc điểm riêng. Có khi đặc điểm riêng
của biệt ngữ thể hiện ở ngữ âm. Ví dụ:

Anh đây công tử không “vòm”
Ngày mai “kện rệp biết mòm vào đâu.

(Nguyên Hồng, Bỉ vỏ)

Cuốn Bỉ vỏ (NXB Dân Trí, 2011) chú
thích: vòm là nhà, kện rệp là hết gạo,
mòm là ăn. Kện rệp và mòm có hình
thức ngữ âm hoàn toàn mới lạ, chưa gặp
trong vốn từ chung của tiếng Việt.

Có khi đặc điểm riêng của biệt ngữ thể
hiện ở ngữ nghĩa. Ví dụ:

Tớ chỉ nhường tháng này thôi, tháng
sau thì tớ cho cậu ngửi khói.

Từ ngửi khói trong câu trên không có
nghĩa là dùng mũi để nhận biết mùi
khỏi, mà là tụt lại phía sau.

  • Do những đặc điểm khác biệt như vậy,

trong văn bản, biệt ngữ xã hội thường
được in nghiêng hoặc đặt trong dấu
ngoặc kép và được chú thích về nghĩa.

  • Biệt ngữ xã hội hình thành trên những

quy ước riêng của một nhóm người nào
đó, vì thế chúng thường được sử dụng
trong phạm vi hẹp. Chỉ những người có
mối liên hệ riêng với nhau về nghề nghiệp,
lứa tuổi, sinh hoạt, sở thích,... và nắm
được quy ước mới có thể dùng biệt ngữ
để giao tiếp.

Sử dụng biệt ngữ xã hội

  • Biệt ngữ xã hội chỉ nên sử dụng hạn

chế, phù hợp với đối tượng và mục đích
giao tiếp.

Đối với nhà văn, việc sử dụng biệt ngữ
xã hội để miêu tả cuộc sống, sinh hoạt
của một nhóm người đặc biệt nào đó đôi
khi trở nên cần thiết. Nhờ dùng biệt ngữ,
bức tranh cuộc sống của một đối tượng
cụ thể trở nên sinh động, chân thực.

4

Chỉ ra biệt ngữ xã hội trong các đoạn hội thoại sau và nhận xét về việc sử dụng
biệt ngữ của người nói:

a.

Cậu ấy là bạn con đấy à?
Đúng rồi, bố. Nó lầy quá bố nhỉ?

b.

Nam, dạo này tớ thấy Hoàng buồn buồn, ít nói. Cậu có biết vì sao không?
Tớ cũng hem biết vì sao cậu ơi.

Văn bản 2

Trước khi đọc

1.

Hãy kể tên một số nhân vật lịch sử mà em biết. Em thích nhất nhân vật nào?
Vì sao?

2.

Chia sẻ những hiểu biết của em về người anh hùng Quang Trung - Nguyễn Huệ.

Đọc văn bản

Quang Trung đại phá quân Thanh

Trích Hoàng Lê nhất thống chí, NGÔ GIA VĂN PHÁI

Hồi thứ mười bốn

Đánh Ngọc Hồi, quân Thanh bị thua trận

Bộ Thăng Long, Chiêu Thống trốn ra ngoài

(Đoạn đầu của hồi này nói về việc Tôn Sĩ Nghị kéo quân vào Thăng Long, thấy dễ dàng, cho
là vô sự, không đề phòng gì cả. Điều đó làm cho vua tôi Lê Chiêu Thống, vốn đã biết rất rõ tài cầm
quân của Nguyễn Huệ, rất lo lắng.)

Nhắc lại, Ngô Văn Sở sau khi đem các đạo quân rút lui, tức tốc sai Nguyễn Văn Tuyết
chạy trạm (1) vào Nam cáo cấp (2). Một mặt, chặn ngang đất Trường Yên (3) làm giới hạn,
đóng thuỷ quân ở hải phận Biện Sơn (4), quân bộ thì chia giữ vùng núi Tam Điệp (5), hai
mặt thuỷ bộ liên lạc với nhau, ngăn hẳn miền Nam với miền Bắc. Vì thế, việc ở bốn
trấn (6) Đàng Ngoài không hề thấu đến hai xứ Thanh, Nghệ. Vì vậy việc quân Thanh đến
Thăng Long và việc vua Lê thụ phong (7) ngày 22 tháng 11, từ Thanh Hoá trở vào, không
một người nào được biết. Ngày 20 tháng ấy, Sở lui về Tam Điệp, thì ngày 24 Tuyết đã

(1) Chạy trạm: thời xưa, việc chuyển công văn giấy tờ trên đường dài được thực hiện bằng người và ngựa, cho nên
người ta đặt trạm nghỉ trên từng chặng đường. Đến đó, người và ngựa được thay để chạy tiếp chặng sau.

(2) Cảo cấp: báo cáo công việc một cách gấp gáp, khẩn cấp.

(3) Trường Yên: nay là một xã thuộc huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

(4) Biện Sơn: hòn đảo nằm sát bờ biển ở thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá.

(5) Núi Tam Điệp: dãy núi nằm ở vùng ranh giới giữa thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình và thị xã Bỉm Sơn cùng
huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá ngày nay.

(6) Trấn: đơn vị hành chính thời xưa, tương đương với tỉnh, thành hiện nay.

(7) Thụ phong: nhận sắc phong. Ở đây chỉ việc Lê Chiêu Thống nhận sắc phong từ vua nhà Thanh (Trung Quốc).

vào đến thành Phú Xuân (1). Bắc Bình Vương (2) tiếp
được tin báo, giận lắm, liền họp các tướng sĩ, định
thân chỉnh cầm quân đi ngay. Nhưng các người đến
họp đều nói:

Theo dõi
Thời điểm diễn ra các sự kiện và thái
độ, phản ứng của Bắc Bình Vương.

Chúa công với vua Tây Sơn có sự hiềm khích, đối với ngôi chí tôn, lòng tôn phò (3)
của mọi người chưa thật vững bền, nay nghe quân Thanh sang đánh, càng dễ sinh ra ngờ
vực hai lòng. Vậy xin trước hết hãy chính vị hiệu (4), ban lệnh ân xá khắp trong ngoài,
để yên kẻ phản trắc và giữ lấy lòng người, rồi sau sẽ cất quân ra đánh dẹp cõi Bắc cũng
chưa là muộn.

Bắc Bình Vương lấy làm phải, bèn cho đắp đàn ở trên núi Bân (5), tế cáo trời đất
cùng các thần sông, thần núi, chế ra áo cổn mũ
miện (6), lên ngôi hoàng đế, đổi năm thứ 11 niên
hiệu Thái Đức của vua Tây Sơn Nguyễn Nhạc làm
năm đầu niên hiệu Quang Trung. Lễ xong, hạ lệnh
xuất quân, hôm ấy nhằm vào ngày 25 tháng Chạp
năm Mậu Thân (1788) (7).

Theo dõi
Những công việc Quang Trung đã
tiến hành và thời điểm nhà vua hạ
lệnh xuất quân.

Vua Quang Trung tự mình đốc suất đại binh, cả thuỷ lẫn bộ cùng ra đi. Ngày 29 đến
Nghệ An, vua Quang Trung cho vời (8) người cống sĩ (9) ở huyện La Sơn là Nguyễn Thiếp
vào dinh và hỏi:

  • Quân Thanh sang đánh, tôi sắp đem binh ra chống cự. Mưu đánh và giữ, cơ được

hay thua, tiên sinh nghĩ như thế nào?

Thiếp nói:

Bây giờ trong nước trống không, lòng người tan rã. Quân Thanh ở xa tới đây,
không biết tình hình quân ta yếu hay mạnh, không hiểu rõ thế nên đánh nên giữ ra sao.
Chúa công đi ra chuyến này, không quá mười ngày, quân Thanh sẽ bị dẹp tan.

Vua Quang Trung mừng lắm, liền sai đại tướng là Hám Hổ Hầu kén lính ở Nghệ An,
cứ ba suất định thì lấy một người, chưa mấy lúc, đã được hơn một vạn quân tinh nhuệ (10).
Rồi nhà vua cho mở cuộc duyệt binh lớn ở doanh trấn (11), đem số thân quân (12) ở

(1) Phú Xuân: thủ phủ của Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn, sau trở thành kinh đô của Việt Nam dưới triều
Quang Trung, Quang Toản và thời nhà Nguyễn.

(2) Bắc Bình Vương: tước hiệu của Nguyễn Huệ trước khi lên ngôi hoàng đế, do Nguyễn Nhạc phong.

(3) Tôn phò: kính trọng, ủng hộ.

(4) Chính vị hiệu. xác định cương vị, tước hiệu một cách rõ ràng, chính đáng, chuẩn mực.

(5) Núi Bân: tên chữ là Bân Sơn, một ngọn núi thấp ở phường An Tây, thành phố Huế.

(6) Áo cổn mũ miện: áo mũ của vua.

(7) Ở đây trích theo nguyên văn bản dịch Hoàng Lê nhất thống chỉ của Nguyễn Đức Vân - Kiều Thu Hoạch. Tuy nhiên,
theo cuốn Lịch sử Việt Nam, tập I, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, trang 350 thì ngày lên ngôi của vua Quang Trung
là 25 tháng 11 năm Mậu Thân.

(8) Với mời một cách trân trọng.

(9) Cống sĩ người đã đỗ hương cống (từ triều Lêẻ trở về trước) hoặc cử nhân (dưới triều Nguyễn) đi thi Hội.

(10) Quân tinh nhuệ: quân được huấn luyện kĩ, trang bị đầy đủ, có sức chiến đấu cao.

(11) Doanh trấn: nơi đóng quân. Doanh: đơn vị quân đội xưa, mỗi doanh có khoảng 500 quân.

(12) Thân quân: quân đội thân cận, tin cậy nhất.

Thuận Hoá, Quảng Nam chia làm bốn doanh tiền, hậu, tả, hữu, còn số lính mới tuyển
ở Nghệ An thì làm trung quân.

Vua Quang Trung cưỡi voi ra doanh yên ủi (1) quân lính, truyền cho tất cả đều ngồi
mà nghe lệnh, rồi dụ (2) họ rằng:

Theo dõi
Nội dung lời dụ quân lính của vua
Quang Trung.

  • Quân Thanh sang xâm lấn nước ta, hiện ở

Thăng Long, các ngươi đã biết chưa? Trong
khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy đều đã phân biệt rõ
ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà
cai trị. Người phương Bắc (3) không phải nòi giống
nước ta, bụng dạ ắt khác. Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước
ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai cũng muốn
đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành,
đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ, các ngài không nỡ ngồi nhìn
chúng làm điều tàn bạo, nên đã thuận lòng người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một
trận là thắng và đuổi được chúng về phương Bắc. Ở các thời ấy, Bắc, Nam riêng phận,
bờ cõi lặng yên, các vua truyền ngôi lâu dài. Từ đời nhà Đinh tới đây, dân ta không đến
nỗi khổ như hồi nội thuộc (4) xưa kia. Mọi việc lợi, hại, được, mất ấy, đều là chuyện cũ
rành rành của các triều đại trước. Nay người Thanh lại sang, mưu đồ lấy nước Nam ta
đặt làm quận huyện, không biết trông gương mấy đời Tống, Nguyên, Minh ngày xưa.
Vì vậy ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng. Các ngươi đều là những kẻ có lương trì (5)
lương năng (6), hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dụng nên công lớn. Chớ có quen
theo thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra, sẽ bị giết chết ngay tức khắc,
không tha một ai, chớ bảo là ta không nói trước!

Các quân lính đều nói: “Xin vâng lệnh, không dám hai lòng!".

Hôm sau, vua Quang Trung hạ lệnh tiến quân. Các quân đều nghiêm chỉnh đội ngũ mà
đi. Khi đến núi Tam Điệp, Sở và Lân ra đón, đều mang gươm trên lưng mà xin chịu tội.

Vua Quang Trung nói:

Theo dõi
Lời của vua Quang Trung nói với các
tướng lĩnh.

  • Các ngươi đem thân thờ ta, đã làm đến chức

tướng soái. Ta giao cho toàn hạt cả 11 thừa tuyên (7),
lại cho tuỳ tiện (8) làm việc. Vậy mà giặc đến không
đánh nổi một trận, mới nghe tiếng đã chạy trước.
Bình pháp (9) dạy rằng: “Quân thua chém tướng”. Tội của các ngươi đều đáng chết một
vạn lần. Song ta nghĩ các ngươi đều là hạng võ dũng (10), chỉ biết gặp giặc là đánh,

(1) Yên ủi: có một bản dịch khác lấy nguyên chữ Hán là phủ dụ (vỗ về, khuyên bảo bề dưới).

(2) Dụ: (vua chúa) truyền bảo cho bể tôi và dân chúng.

(3) Người phương Bắc: chỉ bọn xâm lược đến từ phương Bắc (Trung Quốc).

(4) Hồi nội thuộc: thời đất nước ta bị phong kiến Trung Hoa cai trị.

(5) Lương trì khả năng nhận biết điều phải trải, đúng sai, tốt xấu trong cuộc sống.

(6) Lương năng: năng lực vốn có của con người.

(7) Thừa tuyên: đơn vị hành chính thời Lê, tương đương với tỉnh, thành hiện nay.

(8) Tuỳ tiện: tự do làm việc theo ý mình (nghĩa cũ).

(9) Bình pháp: phép dùng bình.

(10) Võ dùng: có sức mạnh nhưng thiếu tài trí, mưu lược.

tuỳ cơ ứng biến (1) thì không có tài. Cho nên, ta để Ngô Thì Nhậm ở lại đấy
làm việc với các ngươi, chính là lo về điều đó. Bắc Hà mới yên, lòng người chưa phục,
Thăng Long lại là nơi bị đánh cả bốn mặt, không có sông núi để nương tựa. Năm trước
ta ra đánh đất ấy, chúa Trịnh quả nhiên không thể chống nổi, đó là chứng cớ rõ ràng. Các
ngươi đóng quân trơ trọi ở đấy, quân Thanh kéo sang, người trong kinh kì làm nội ứng (2)
cho chúng, thì các ngươi làm sao mà cử động được? Các ngươi đã biết nín nhịn để tránh
mũi nhọn của chúng, chia ra chặn giữ các nơi hiểm yếu, bên trong thì kích thích lòng
quân, bên ngoài thì làm cho giặc kiêu căng, kế ấy là rất đúng. Khi mới nghe nói, ta đã
đoán là do Ngô Thì Nhậm chủ mưu, sau hỏi Văn Tuyết thì quả đúng như vậy...

Thì Nhậm bèn lạy hai lạy để tạ ơn. Vua Quang Trung lại nói:

Lần này ta ra, thân hành (3) cầm quân, phương lược (4) tiến đánh đã có tính sẵn.
Chẳng qua mươi ngày có thể đuổi được người Thanh. Nhưng nghĩ chúng là nước lớn
gấp mười nước minh, sau khi bị thua một trận, ắt lấy làm thẹn mà lo mưu báo thù. Như
thế thì việc binh đao không bao giờ dứt, không phải là phúc cho dân, nỡ nào mà làm
như vậy. Đến lúc ấy, chỉ có người khéo lời lẽ mới đẹp nổi việc binh đao, không phải
Ngô Thì Nhậm thi không ai làm được. Chờ mười năm nữa, cho ta được yên ổn mà
nuôi dưỡng lực lượng, bấy giờ nước giàu quân mạnh, thì ta có sợ gì chúng?

Bọn Sở, Lân đều lạy tạ và nói:

Chúa thượng thật là lo xa, chúng tôi ngu dại không thể nghĩ tới chỗ đó. Hiện nay
phương lược tiến đánh ra sao, xin chúa thượng nhất nhất chỉ rõ để chúng tôi tuân theo
mà làm.

Vua Quang Trung bèn sai mở tiệc khao quân, chia quân sĩ ra làm năm đạo, hôm đó
là ngày 30 tháng Chạp. Rồi nhà vua bảo kín với các tướng rằng:

Ta với các ngươi hãy tạm sửa lễ cùng Tết
trước đã. Đến tối 30 Tết lập tức lên đường, hẹn đến
ngày mồng 7 năm mới thì vào thành Thăng Long
mở tiệc ăn mừng. Các ngươi nhớ lấy, đừng cho là
ta nói khoác!

Dự đoán
Theo em, kết quả trận đánh giữa quân
Tây Sơn và quân Thanh sẽ như thế nào?
Dựa vào đâu em dự đoán như vậy?

[...] Cả năm đạo quân đều lạy vâng mệnh lệnh, đúng ngày, gióng trống lên đường
ra Bắc.

Khi quân ra đến sông Gián, nghĩa binh (5) trấn thủ ở đó tan vỡ chạy trước. Lúc đến
sông Thanh Quyết, toán quân Thanh đi do thám từ đằng xa trông thấy bóng cũng chạy
nốt. Vua Quang Trung liền thúc quân đuổi theo, tới huyện Phú Xuyên (6) thì bắt sống
được hết, không để tên nào trốn thoát. Bởi vậy, không hề có ai chạy về báo tin, nên
những đạo quân Thanh đóng ở Hà Hồi và Ngọc Hồi (7) đều không biết gì cả.

(1) Tuỳ cơ ứng biến: theo tình hình cụ thể mà có cách ứng phó thích hợp.

(2) Nội ứng: người từ trong hàng ngũ đối phương hoạt động phối hợp với lực lượng bên ngoài để đánh phá.

(3) Thân hành: (như thân chinh) tự mình làm việc gì đó mà đáng lẽ giao cho cấp dưới.

(4) Phương lược: cách thức, mưu kế.

(5) Nghĩa bình: quân đội của vua Lê Chiêu Thống, tay sai quân Thanh

(6) Phú Xuyên: một huyện ở phía nam của Hà Nội ngày nay.

(7) Hà Hồi, Ngọc Hồi: Hà Hồi là làng thuộc huyện Thường Tín và Ngọc Hồi là làng thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội ngày nay.

Nửa đêm ngày mồng 3 tháng Giêng, năm Kỉ Dậu (1789), vua Quang Trung tới làng
Hà Hồi, huyện Thượng Phúc, lặng lẽ vây kín làng ấy, rồi bắc loa truyền gọi, tiếng quân
lính luân phiên nhau dạ ran để hưởng ứng, nghe như có hơn vài vạn người. Trong đồn
lúc ấy mới biết, ai nấy rụng rời sợ hãi, liền xin ra hàng, lương thực khí giới đều bị quân
Nam lấy hết.

Vua Quang Trung lại truyền lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền ba tấm làm một
bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là hai mươi bức. Đoạn kén hạng lính
khoẻ mạnh, cứ mười người khênh một bức, lưng giắt dao ngắn, hai mươi người khác
đều cầm binh khí theo sau, dàn thành trận chữ “nhất” (1); vua Quang Trung cưỡi voi đi
đốc thúc, mờ sáng ngày mồng 5 tiến sát đồn Ngọc Hồi. Quân Thanh nổ súng bắn ra,
chẳng trúng người nào cả. Nhân có gió bắc, quân Thanh bèn dùng ống phun khói lửa ra,
khói toả mù trời, cách gang tấc không thấy gì, hòng làm cho quân Nam rối loạn. Không
ngờ trong chốc lát trời bỗng trở gió nam, thành ra quân Thanh lại tự làm hại mình.

Vua Quang Trung liền gấp rút sai đội khiêng ván vừa che vừa xông thẳng lên trước.
Khi gươm giáo của hai bên đã chạm nhau thì quăng ván xuống đất, ai nấy cầm dao
ngắn chém bừa, những người cầm binh khi theo sau cũng nhất tề xông tới mà đánh.

Quân Thanh chống không nổi, bỏ chạy tán
loạn, giày xéo lên nhau mà chết. Tên Thái thú Điền
Châu là Sầm Nghi Đống tự thắt cổ chết [...] Quân
Thanh đại bại.

Đối chiếu
Em có đoán đúng kết quả trận
đánh không?

Illustration of a battle scene with soldiers and elephants.

(1) Dàn thành trận chữ "nhất": dàn hàng ngang (theo cách viết chữ Hán, chữ nhất là một nét ngang).

Trước đó, vua Quang Trung đã sai một toán quân theo bờ đê Yên Duyên kéo lên,
mở cờ gióng trống để làm nghi binh (1) ở phía đông. Đến lúc ấy, quân Thanh chạy về
trông thấy, càng thêm hoảng sợ, bèn tìm lối tắt theo đường Vịnh Kiều mà trốn. Chợt
lại thấy quân voi từ Đại Áng tới, quân Thanh đều hết hồn hết vía, vội trốn xuống đầm
Mực, làng Quỳnh Đô (2), quân Tây Sơn lùa voi giày đạp, chết đến hàng vạn người.

Giữa trưa hôm ấy vua Quang Trung tiến binh đến Thăng Long, rồi kéo vào thành.

[...] Lại nói, Tôn Sĩ Nghị và vua Lê ở thành Thăng Long, tuyệt nhiên không nghe tin
cấp báo gì cả cho nên trong ngày Tết mọi người chỉ chăm chú vào việc yến tiệc vui mừng,
không hề lo chỉ đến việc bất trắc (3). Nào hay cuộc vui chưa tàn, cơ trời đã đổi. Ngày
mồng 4 bỗng thấy quân ở đồn Ngọc Hồi chạy về cáo cấp. Thật là: “Tướng ở trên trời
xuống, quân chui dưới đất lên”.

[...] Tôn Sĩ Nghị sợ mất mật, ngựa không kịp
đóng yên, người không kịp mặc giáp, dẫn bọn
lính kị mã của mình chuồn trước qua cầu phao,
rồi nhằm hướng bắc mà chạy. Quân sĩ các doanh
nghe tin, đều hoảng hồn, tan tác bỏ chạy, tranh nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau
rơi xuống mà chết rất nhiều. Lát sau cầu lại bị đứt, quân lính đều rơi xuống nước, đến
nỗi nước sông Nhĩ Hà (4) vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa.

Theo dõi
Những chi tiết miêu tả hành động,
thái độ của Tôn Sĩ Nghị.

Vua Lê ở trong điện, nghe tin có việc biến ấy, vội
vã cùng bọn Lê Quýnh, Trịnh Hiến đưa thái hậu ra
ngoài. Cả bọn chạy đến bến sông thì thấy cầu phao
đã đứt, thuyền bè cũng không, bèn gấp rút chạy đến
Nghi Tàm, thình lình gặp được chiếc thuyền đánh
cá, vội cướp lấy rồi chèo sang bờ bắc. Trưa ngày mồng 6, vua Lê và những người tuỳ
tòng chạy đến núi Tam Tằng, nghe nói Tôn Sĩ Nghị đã đi khỏi đó. Bấy giờ quân Thanh
chạy về nước, trên đường đông nghịt như chợ, đêm ngày đi gấp, không dám nghỉ ngơi.
Vua đưa thái hậu cùng đi với họ đến đồn Hoà Lạc thì gặp một người thổ hào (5). Hồi trước
vua Lê chạy ra ngoài, người ấy đã được biết mặt, lúc đó thấy vua, người ấy bất giác rơi lệ, nhân tiện mời vua vào trại trong núi tạm nghỉ. Bấy giờ, vua Lê và những người tuỳ
tòng luôn mấy ngày không ăn, ai nấy đều đã mệt lử. Người thổ hào kia liền giết gà
làm cơm thết đãi. Vua sai bung một mâm lên mời thái hậu, còn mình thì cùng ăn với bọn
Quýnh, Hiến ở mâm dưới.

Theo dõi
Hành động, thái độ của vua Lê Chiêu
Thống khi nghe tin quân Tây Sơn kéo
vào thành.

Ăn vừa xong, chợt nghe tin quân Tây Sơn đã đuổi theo đến nơi. Vua cuống quýt
bảo người thổ hào rằng:

  • Muôn đội hậu tình (6), không có gì để báo đáp, chỉ có trời cao đất dày chúng giám

(1) Nghi bình: hành động đánh lừa đối phương trong chiến đấu.

(2) Quỳnh Đô: làng thuộc xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, Hà Nội ngày nay.

(3) Bất trắc: không liệu trước được (thường nói về những việc không hay).

(4) Nhĩ Hà: tên gọi khác của sông Hồng.

(5) Thổ hào: người có quyền thế ở địa phương thời phong kiến.

(6) Hậu tình: ân tình sâu nặng.

tấc lòng thành của ông mà ban phúc cho thôi. Bây giờ quân giặc gần tới, trước mắt đây
có con đường sống nào có thể chạy gấp lên của ải, xin tính kế ngay cho.

Người thổ hào vội vã sai con đưa đường, theo lối tắt trong núi mà đi. Trời nhá nhem tối
thì nhà vua đến cửa ải, theo kịp chỗ nghỉ của Tôn Sĩ Nghị. Một lát các viên quan khác
cũng lục tục theo đến, cùng nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt. Tôn Sĩ Nghị
cũng lấy làm xấu hổ.

(Ngô gia văn phải, Hoàng Lê nhất thống chí, tập II, Nguyễn Đức Vân – Kiều Thu Hoạch dịch,
NXB Văn học, Hà Nội, 1984, tr. 177-187)

Sau khi đọc

  • Ngô gia văn phái là một nhóm tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai,

Hà Nội ngày nay. Đây là một dòng họ lớn có truyền thống nghiên cứu và sáng tác
văn chương với những tên tuổi tiêu biểu như: Ngô Thì Ức (1709 – 1736), Ngô Thì Sĩ
(1726 – 1780), Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803), Ngô Thì Chí (1753 – 1788), Ngô Thì Du
(1772 – 1840), Ngô Thì Hương (1774 – 1821),...

  • Hoàng Lê nhất thống chí là cuốn tiểu thuyết lịch sử, viết bằng chữ Hán theo lối

chương hồi, gồm 17 hồi. Dựa vào việc ghi chép lại những sự kiện lịch sử - xã hội
có thực, nhân vật thực, địa điểm thực, tác phẩm đã phản ánh những biến động
của lịch sử nước nhà từ cuối thế kỉ XVIII đến những năm đầu thế kỉ XIX, trong đó
tập trung phơi bày sự thối nát dẫn đến sụp đổ tất yếu của tập đoàn phong kiến
Lê - Trịnh, đồng thời ca ngợi cuộc khởi nghĩa Tây Sơn do người anh hùng áo vải
Nguyễn Huệ lãnh đạo.

Trả lời câu hỏi

1.

Đoạn trích có thể chia thành mấy phần? Nêu nội dung chính của từng phần.

2.

Em hãy liệt kê những nhân vật và sự kiện lịch sử được tác giả để cập trong văn bản.

3.

Tìm những chi tiết tiêu biểu miêu tả thái độ, lời nói và hành động của Bắc Bình Vương
khi nghe tin báo quân Thanh xâm lược nước ta. Những chi tiết đó cho thấy đặc điểm
tính cách gì của nhân vật?

4.

Nêu cảm nhận của em về nhân vật vua Quang Trung được khắc hoạ trong đoạn
trích, qua đó nhận xét cảm hứng của các tác giả đối với vị anh hùng dân tộc này.

5.

Nhân vật Lê Chiêu Thống được khắc hoạ rõ nét qua những chi tiết tiêu biểu nào?
Phân tích một chi tiết đặc sắc, thể hiện rõ bản chất của nhân vật Lê Chiêu Thống,
qua đó thấy được thái độ của tác giả đối với nhân vật này.

6.

Sự đối lập giữa hai nhân vật Quang Trung và Lê Chiêu Thống, giữa quân Tây Sơn
và quân Thanh có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện chủ đề của đoạn trích?
Hãy khái quát chủ đề đó.

7.

Ở đoạn trích này, những yếu tố đặc trưng nào của truyện lịch sử đã được tác giả
sử dụng? Hãy nhận xét về nghệ thuật kể chuyện lịch sử của tác giả.

Viết kết nối với đọc

Viết đoạn văn (khoảng 7 - 9 câu) nêu cảm nhận về một chi tiết trong văn bản
Quang Trung đại phá quân Thanh để lại cho em ấn tượng sâu sắc nhất.

Thực hành tiếng Việt

Từ ngữ địa phương

1.

Chỉ ra từ ngữ địa phương và tác dụng của việc sử dụng những từ ngữ đó trong các
trường hợp sau:

a.

Ai đi vô nơi đây
Xin dừng chân xứ Nghệ.

(Huy Cận, Ai vô xứ Nghệ)

b.

Đến bờ ni anh bảo:
“Ruộng mình quên cày xáo
Nên lúa chín không đều.
Nhớ lấy để mùa sau
Nhà cố làm cho tốt".

(Trần Hữu Thung, Thăm lúa)

c.

Chừ đây Huế, Huế ơi! Xiềng gông xưa đã gãy
Hãy bay lên! Sông núi của ta rồi!

(Tố Hữu, Huế tháng Tám)

d.
  • Nói như cậu thì... còn chi là Huế!

(Hoàng Phủ Ngọc Tường, Chuyện cơm hến)

e.

Má, tánh lo xa. Chứ gió chướng vào mùa thì lúa cũng vừa chín tới, hi vọng rực lên
theo màu lúa.

(Nguyễn Ngọc Tư, Trở gió)

2

Nhận xét việc sử dụng từ ngữ địa phương (in đậm) trong các trường hợp sau:

a.

Năm học này, cả lớp đặt chỉ tiêu giồng và chăm sóc 20 cây ở nghĩa trang liệt sĩ của xã.

(Trích Biên bản họp lớp)

b.

Con xem, mới có hai hôm mà hạt đậu nó đã nhớn thế đấy. Nếu con giồng nó ra
vườn, chăm bón cẩn thận, nó sẽ ra hoa ra quả...

(Vũ Tú Nam, Những truyện hay viết cho thiếu nhi)

c.

Lần đầu tiên tôi theo tía nuôi tôi và thằng Cò đi "ăn ong đây!

(Đoàn Giỏi, Đất rừng phương Nam)

d.

Tui xin cam đoan những nội dung trình bày trên đây là đúng sự thật.

(Trích một bản tường trình)

3

Trong những trường hợp giao tiếp sau đây, trường hợp nào cần tránh dùng từ ngữ
địa phương?

a.

Phát biểu ý kiến tại một đại hội của trường

b.

Trò chuyện với những người thân trong gia đình

c.

Viết biên bản cuộc họp đầu năm của lớp

d.

Nhắn tin cho một bạn thân

e.

Thuyết minh về di tích văn hoá ở địa phương cho khách tham quan

Văn bản 3

Đọc văn bản

Ta đi tới

Trích, TỐ HỮU

Ta đi giữa ban ngày
Trên đường cái, ung dung ta bước,
Đường ta rộng thênh thang tám thước
Đường Bắc Sơn, Đình Cả, Thái Nguyên
Đường qua Tây Bắc, đường lên Điện Biên
Đường cách mạng, dài theo kháng chiến...
Đến hôm nay đường xuôi về biển
Mới tỉnh khôi màu đất đỏ tươi
Đẹp vô cùng, Tổ quốc ta ơi!
Rừng cọ, đồi chè, đồng xanh ngào ngạt
Nắng chói sông Lô (1), hò ô tiếng hát
Chuyến phà rào rạt bến nước Bình Ca (2)...

(1) Sông Lô: phụ lưu tả ngạn của sông Hồng, chảy từ Trung Quốc sang các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ
và Vĩnh Phúc của Việt Nam.

(2) Bình Ca: bến Bình Ca, thuộc thôn Bình Ca, xã Vĩnh Lợi, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, nơi diễn ra chiến
thắng Bình Ca lịch sử năm 1947.

Ai qua Phú Thọ
Ai xuôi Trung Hà
Ai về Hưng Hoá
Ai xuống khu Ba (1)
Ai vào khu Bốn (2)
Đường ta đó, tự do cuồn cuộn
Bốt đồn Tây đã cuốn sạch rồi!
Sông Thao (3) nao nức sóng dồi
Ai về Hà Nội thì xuôi cùng thuyền.

Ôi, đã chín năm rồi đấy nhỉ!
Kháng chiến ba ngàn ngày không nghỉ
Bắp chân, đầu gối vẫn săn gân.
Ngẩng đầu lên: trong sáng tuyệt trần
Tháng Tám mùa thu xanh thắm
Mây nhởn nhơ bay
Hôm nay ngày đẹp lắm!
Mây của ta, trời thắm của ta
Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà!

Đã tan tác những bóng thù hắc ám
Đã sáng lại trời thu tháng Tám
Trên đường ta về lại Thủ đô
Cờ đỏ bay quanh tóc bạc Bác Hồ!
Mẹ ơi! Lau nước mắt
Làng ta giặc chạy rồi!
Tre làng ta lại mọc
Chuối vườn ta xanh chồi
Trâu ta ra bãi ra đồi
Đồng ta lại hát hơn mười năm xưa...
Các em ơi, đã học chưa?
Các anh dụng cho em trường mới nữa.

(1) Khu: đơn vị hành chính thời kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) và tồn tại đến năm 1957. Khu Ba:
khu vực Bắc Bộ, tương đương các tỉnh Quảng Ninh (vùng Đông Bắc Bộ), Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình,
Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình (vùng Đồng bằng sông Hồng) và Hoà Bình (vùng Tây Bắc Bộ).

(2) Khu Bốn: khu vực thuộc Bắc Trung Bộ, tương đương các tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình,
Quảng Trị, Thừa Thiên Huế.

(3) Sông Thao: đoạn sông Hồng tỉnh từ biên giới Việt - Trung cho tới trước khi hợp lưu với sông Đà, bao gồm phần
chảy qua các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ.

Chúng nó chẳng còn mong giội lửa
Trường của em đúng giữa đồi quang
Tiếng của em thánh thót quanh làng.

Ai đi Nam Bộ
Tiền Giang, Hậu Giang
Ai vô Thành phố
Hồ Chí Minh
Rực rỡ tên vàng.

Ai về thăm bưng biền (1) Đồng Tháp
Việt Bắc miền Nam mồ ma giặc Pháp
Nơi chôn rau cắt rốn của ta
Ai đi Nam – Ngãi, Bình – Phú (2), Khánh Hoà
Ai vô Phan Rang, Phan Thiết
Ai lên Tây Nguyên, Công Tum, Đắc Lắc
Khu Năm (3) dằng dặc khúc ruột miền Trung
Ai về với quê hương ta tha thiết
Sông Hương, Bến Hải, Cửa Tùng.

(Tố Hữu, Ta đi tới, in trong Thơ Việt Nam 1945-1985,
NXB Giáo dục, Hà Nội, 1987, tr. 60-62)

Sau khi đọc

  • Tố Hữu (1920 – 2002) quê ở tỉnh Thừa Thiên Huế, là nhà

cách mạng, đồng thời là nhà thơ. Hành trình thơ Tố Hữu song
song với hành trình cách mạng; mỗi tập thơ của ông luôn gắn
với một giai đoạn của cách mạng Việt Nam. Thơ Tố Hữu thường
viết về những vấn đề trọng đại của dân tộc, tình cảm trong thơ
ông mang tính thời đại. Các tập thơ tiêu biểu của ông: Từ ấy
(1946), Việt Bắc (1954), Gió lộng (1961), Ra trận (1971), Máu
và hoa (1977), Một tiếng đờn (1992) và Ta với ta (2000).

  • Bài thơ Ta đi tới (in trong tập Việt Bắc) được Tố Hữu sáng tác vào tháng 8 năm

1954 – thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã kết thúc thắng lợi,
chuẩn bị cho công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Bài thơ vừa ca ngợi
những chiến thắng lẫy lừng của cuộc kháng chiến, vừa thể hiện những suy nghĩ
sâu sắc về chặng đường sắp tới của dân tộc.

Portrait of Tố Hữu

(1) Bưng biền: vùng đầm lầy ngập nước ở miền Tây Nam Bộ, thường được dùng làm căn cứ trong thời kì kháng chiến
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

(2) Nam - Ngãi, Bình – Phú: các tỉnh Quảng Nam - Quảng Ngãi, Bình Định - Phú Yên.

(3) Khu Năm: đơn vị hành chính – quân sự ở vùng Trung Trung Bộ Việt Nam thời kì đầu kháng chiến chống thực dân Pháp,
gồm 5 tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Kon Tum, Gia Lai.

Trả lời câu hỏi

1.

Đọc trích đoạn bài thơ, em hình dung như thế nào về bối cảnh lịch sử (không gian,
thời gian, những sự kiện quan trọng,...) đã gợi nguồn cảm hứng thơ ca cho tác giả?

2.

Nhìn lại chặng đường cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp “ba ngàn ngày
không nghỉ”, nhà thơ đã bộc lộ cảm xúc gì? Em có biết, đây chỉ là cảm xúc của
cá nhân nhà thơ hay còn là cảm xúc chung của cộng đồng? Vì sao?

3.

Xác định hình ảnh trung tâm của đoạn trích. Hình ảnh đó có mối liên hệ với những
hình ảnh nào khác trong đoạn trích?

4.

Những địa danh nào được nhắc đến trong đoạn trích? Theo em, việc xuất hiện một
loạt địa danh như vậy mang lại hiệu quả gì trong việc thể hiện tình cảm của tác giả?

5.

Trong đoạn trích, tác giả sử dụng lặp đi lặp lại cấu trúc: “Ai...”, “Đường...”. Hãy
phân tích tác dụng của biện pháp nghệ thuật ấy.

6.

Nhận xét về cách đặt nhan đề của bài thơ.

Viết

Viết bài văn kể lại một chuyến đi (tham quan một di tích lịch sử, văn hoá)

Trong thực tế, hẳn em đã từng được tham gia những chuyến đi do nhà trường hoặc
gia đình tổ chức. Đó có thể là chuyến tham quan một di tích lịch sử, văn hoá gắn với
một sự kiện quan trọng trong quá khứ của dân tộc hoặc một danh nhân mà mọi người
đều ngưỡng vọng. Ở phần Viết của bài học này, em sẽ thuật lại một chuyến đi tham quan
một di tích lịch sử, văn hoá để lại cho em ấn tượng sâu sắc, khó quên.

Yêu cầu:

  • Giới thiệu được lí do, mục đích của chuyến tham quan một di tích lịch sử,

văn hoá.

Kể được diễn biến chuyến tham quan (trên đường đi, trình tự những điểm
đến thăm, những hoạt động chính trong chuyến đi,...).

Nêu được ấn tượng về những đặc điểm nổi bật của di tích (phong cảnh,
con người, công trình kiến trúc,...).

  • Thể hiện được cảm xúc, suy nghĩ về chuyến đi.

Sử dụng được yếu tố mi tả, biểu cảm trong bài viết.

Phân tích bài viết tham khảo

Chuyến tham quan khu lưu niệm Nguyễn Du

“Chủ nhật tuần này, lớp mình sẽ tham quan khu lưu niệm nhà
thơ Nguyễn Du theo kế hoạch dã ngoại của nhà trường – khi
nghe cô giáo chủ nhiệm thông báo như vậy, cả lớp cùng lên.
Theo lời cô, hoạt động này giúp học sinh biết yêu mến và tự hào
về một trong những địa chỉ văn hoá quan trọng – nơi gìn giữ những dấu tích và hiện vật
liên quan tới một nhà thơ vĩ đại của dân tộc, một danh nhân văn hoá của thế giới. Tôi
cũng như nhiều bạn không giấu nổi vẻ háo hức, vì đây là lần đầu tiên được đến thăm khu
di tích của đại thi hào ở mảnh đất Tiên Điền nổi tiếng.

Nêu mục đích chuyến
tham quan di tích lịch sử,
văn hoá.

Ba chiếc xe khách chở hơn 100 học sinh khối 8 xuất phát
từ sân trường lúc 7 giờ sáng. Phía trước mỗi xe đều có một
dải băng rôn màu trắng in dòng chữ xanh đậm “Học sinh
Trường THCS Phan Huy Chú tham quan quê hương đại thi
hào Nguyễn Du”. Trên xe, cô giáo phụ trách giới thiệu những
vùng đất xe qua, không khác gì một hướng dẫn viên du lịch.

Kể lại diễn biến của
chuyến tham quan
(trên đường đi, trình tự
những điểm đến thăm,
những hoạt động nổi
bật trong chuyến đi,...).

Đến gần phía nam cầu Bến Thuỷ, xe rẽ phải theo đường về trung tâm thị trấn huyện
Nghi Xuân. Đi hơn chục cây số, đã thấy ở lề đường bên phải có một tấm biển khá to,
với dòng chữ: Di tích quốc gia đặc biệt – Khu lưu niệm đại thi hào Nguyễn Du. Xe vừa
dừng, chúng tôi ùa xuống, từng tốp đi vào một sân rộng phía trước ba toà nhà lợp ngói
kết hình chữ U. Chính giữa sân là bức tượng Nguyễn Du, tay cầm bút lông, nét mặt
suy tư, được đặt trên một bệ cao.

Sau khi trưởng đoàn đăng kí, chúng tôi được cô hướng dẫn viên dẫn đi và thuyết
minh chi tiết về các hạng mục chính của khu di tích. Nhờ đó, chúng tôi biết rằng khuôn
viên của khu di tích rộng hơn 4 héc-ta, với các công trình được bảo tồn, tôn tạo cần
thận, chống lại sự bào mòn của thời gian và tàn phá của chiến tranh.

Đan xen giữa kể chuyện
với trình bày các thông
tin chính và ấn tượng về
những nét nổi bật của
địa điểm tham quan.

Nơi đầu tiên chúng tôi bước chân vào là căn nhà hai tầng
nằm phía sau lưng tượng nhà thơ. Đó là nhà trưng bày các
hiện vật gắn với cuộc đời và sự nghiệp của đại thi hào. Tất cả
đều nằm yên lặng trong tủ kính, nhưng chúng như trở nên sinh
động hơn qua những dòng ghi chú cụ thể. Đây là chiếc nghiên
mực gắn với việc sáng tạo văn chương của Nguyễn Du kia là
bộ khay chén uống rượu mà Cụ thường dùng khi ở Tiên Điền, kia nữa là cái giá gương

bằng gỗ khảm từng được đặt trong ngôi nhà Cụ ở. Rồi đĩa mai hạc lưu bút tích của
Nguyễn Du đề tặng thơ khi đi sử Trung Quốc, chiếc la bàn nhà thơ thường dùng mỗi
lần đi săn trên núi Hồng Lĩnh, chiếc gạc nai dùng để treo quần áo trong phòng ngủ,
Mọi vật không hề có cái vẻ sang trọng, xa hoa mà đều khá giản dị, nhỏ gọn, khiến
người xem cảm thấy thật gần gũi.

Tôi rất thích hai bức tranh treo hai phía của bức tường bên phải. Một bức vẽ cảnh
Nguyễn Du đi săn trên núi Hồng Lĩnh của hoạ sĩ Nguyễn Đức Nùng, bức kia vẽ cảnh
Nguyễn Du câu cá trên sông Lam của hoạ sĩ Nguyễn Tiến Chung. Màu thời gian đã
khiến hai bức tranh mang vẻ đẹp thâm trầm, cổ kính.

Cô hướng dẫn viên cho biết, hiện nhà trưng bày lưu giữ hơn 1000 hiện vật gắn với
cuộc đời Nguyễn Du. Những gì liên quan đến sự nghiệp sáng tạo văn chương của nhà
thơ cũng hết sức phong phú. Đó là các bản Truyện Kiều được in từ xưa đến nay, cuốn
sách Thơ chữ Hán Nguyễn Du in lần đầu và những lần tái bản, các bản dịch Truyện
Kiều ra một số thứ tiếng trên thế giới, nhiều bộ tranh minh hoạ Truyện Kiều, các công
trình, luận văn, luận án nghiên cứu về Truyện Kiều và sáng tác của Nguyễn Du,... Độc
đáo hơn cả có lẽ là độc bản Truyện Kiều viết tay trên giấy khổ lớn, chiều dài 1,6 m,
chiều rộng 1,2 m, nặng 75 kg do ông Nguyễn Đình thực hiện. Cuốn sách kì lạ đó được
đặt riêng trong một tủ kính giữa phòng trưng bày.

Sau khi tập trung chụp ảnh lưu niệm trước tượng Nguyễn Du và một số cảnh yêu
thích, chúng tôi tản ra giữa khu vườn mênh mông, theo những lối nhỏ như ô bàn cờ, lát
gạch đỏ, hai bên là từng hàng nguyệt quế xén vuông tăm tắp. Chúng tôi lần lượt tham
quan, thắp hương tại nhà thờ Nguyễn Du, thăm nhà bình văn, nơi các bậc khoa bảng
danh nho ngày xưa bàn luận văn chương... Những ngôi nhà gỗ xinh xắn, mái cong lợp
ngói, bốn phía hành lang rợp bóng cây xanh thật mát mẻ, yên tĩnh, tưởng như bóng
người xưa còn dạo gót đâu đây. Từng tốp học sinh thay nhau chụp ảnh dưới cây cổ thụ
do cụ Nguyễn Quỳnh, ông nội của Nguyễn Du trồng cách đây ngót 300 năm. Đó là
những chứng tích của bao thay đổi trên mảnh đất của tổ tiên.

Rời khu di tích, chúng tôi đi trên con đường rải nhựa quanh làng khoảng 3 km ra
thăm mộ cụ Nguyễn Du. Khoảnh đất vuông bốn phía bao bởi tường thấp, nằm giữa
khu nghĩa trang của một vùng quê. Gần cổng khuôn viên là một nhà bia nhỏ bốn mái,
không tường, giữa dựng tấm bia đá khắc dòng chữ: Danh nhân văn hoá thế giới – Đại
thi hào dân tộc Nguyễn Du. Chúng tôi từng tốp lần lượt thắp hương rồi tập trung chụp
ảnh lưu niệm trước ngôi mộ ốp đá vuông vắn, giản dị của nhà thơ vĩ đại.

Trên đường về, dường như ai cũng trầm lắng hơn. Có bạn
cầm cuốn sách vừa mua ở nhà lưu niệm Nguyễn Du giở ra đọc.
Có người mở điện thoại xem lại mấy bức ảnh đã chụp những
cảnh yêu thích. Tôi cũng mua được một cuốn Truyện Kiều về

Bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ
về chuyến tham quan di
tích lịch sử, văn hoá.

tặng bà, chắc bà sẽ vui lắm. Theo lời cô giáo, về trường, chúng tôi sẽ viết, vẽ về những
gì để lại ấn tượng sâu sắc nhất qua chuyến tham quan. Vậy thì tôi sẽ vẽ, chắc chắn thế,
bởi vì những cảnh vật được ngắm nhìn hôm nay bỗng lại hiện ra rõ mồn một trong
tâm trí tôi, như một cuốn phim quay chậm.

(Bài làm của học sinh)

Thực hành viết theo các bước

Trước khi viết

Lựa chọn đề tài

Em hãy liệt kê một số chuyến tham quan di tích
lịch sử, văn hoá mà mình đã từng tham gia, sau đó,
chọn một chuyến đi đã để lại cho em ấn tượng
sâu sắc nhất để kể lại.

Mục đích viết
Chia sẻ những hiểu biết và trải
nghiệm có được qua chuyến đi,
thu hút sự quan tâm của mọi
người về di tích lịch sử, văn hoá
của dân tộc.

Tìm ý

Sau khi lựa chọn được chuyến tham quan di
tích lịch sử, văn hoá làm đề tài cho bài viết, hãy tìm
ý bằng cách trả lời các câu hỏi sau:

Người đọc
Những người quan tâm đến
chuyến đi hoặc có nhu cầu hiểu
biết về di tích lịch sử, văn hoá
được nói đến.

Chuyến đi tham quan di tích lịch sử, văn hoá
nào? Do ai tổ chức? Mục đích của chuyến tham
quan là gì? Bài viết tham khảo kể về chuyến tham
quan khu lưu niệm Nguyễn Du của học sinh khối 8, do nhà trường tổ chức, phục vụ cho
việc học tập.

Chuyến đi diễn ra như thế nào? (trên đường đi, lúc bắt đầu đến điểm tham quan,
các hoạt động chính tiếp theo,...). Xem cách nêu này ở bài viết tham khảo.

Khung cảnh của điểm tham quan có gì nổi bật? (cảnh thiên nhiên, các công trình
kiến trúc, những hiện vật được trưng bày ở khu di tích,...). Tham khảo các ý nói về
tượng Nguyễn Du, nhà trưng bày hiện vật, nhà thờ Nguyễn Du, nhà bình văn, những
cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi,...

Em có cảm xúc, suy nghĩ gì về chuyến tham quan di tích lịch sử, văn hoá đó?
(Nêu ấn tượng về chuyến đi; hiểu biết mới về văn hoá, lịch sử của đất nước; tình cảm
với quê hương,...). Xem ý này ở bài viết tham khảo.

Lập dàn ý

Sắp xếp các ý đã tìm được vào từng phần để hình thành dàn ý.

Dàn ý

Mở bài:

+ Giới thiệu khái quát về chuyến tham quan di tích lịch sử, văn hoá.

+ Bày tỏ cảm xúc của em khi được trực tiếp tham gia chuyến đi.

Thân bài:

+ Kể lại cụ thể diễn biến của chuyến tham quan (trên đường đi, lúc đến điểm tham
quan, trình tự các điểm đến thăm, những hoạt động chính trong chuyến đi,...).

+ Thuyết minh, miêu tả và nêu ấn tượng của em về những nét nổi bật của di tích
lịch sử, văn hoá đó (thiên nhiên, con người, công trình kiến trúc,...).

Kết bài: Nêu cảm xúc, suy nghĩ của em về chuyến tham quan di tích lịch sử, văn hoá.

Viết bài

Bám sát dàn ý để viết bài. Trong quá trình viết, em cần lưu ý:

  • Các ý của bài viết đảm bảo phản ánh đúng trình tự thời gian của chuyến tham quan,

ứng với từng điểm không gian khu di tích.

Nêu được những hoạt động nổi bật khiến chuyến tham quan di tích lịch sử, văn hoá
để lại ấn tượng, cảm xúc sâu đậm cho em.

  • Ngôn ngữ bài viết cần sinh động, vừa kể chi tiết, cụ thể vừa thể hiện được cảm xúc;

sử dụng các biện pháp tu từ như so sánh, điệp ngữ, các yếu tố miêu tả, biểu cảm,...
để tăng sức hấp dẫn cho bài viết.

Chỉnh sửa bài viết

Sau khi hoàn thành bài viết, rà soát và chỉnh sửa theo gợi ý sau:

Nếu bài viết chưa giới thiệu rõ về chuyến tham quan, cần viết cụ thể hơn.

Nếu bài viết nêu chưa đầy đủ các hoạt động chính theo trình tự thời gian thì bổ sung
và sắp xếp lại.

Nếu việc kể, tả chưa làm nổi bật được đặc điểm của khu di tích và ấn tượng của
người viết thì hình dung lại để viết thêm.

Nếu bài viết chưa nêu rõ suy nghĩ, cảm xúc về chuyến đi thì bổ sung.

tặng bà, chắc bà sẽ vui lắm. Theo lời cô giáo, về trường, chúng tôi sẽ viết, vẽ về những gì để lại ấn tượng sâu sắc nhất qua chuyến tham quan. Vậy thì tôi sẽ vẽ, chắc chắn thế, bởi vì những cảnh vật được ngắm nhìn hôm nay bỗng lại hiện ra rõ mồn một trong tâm trí tôi, như một cuốn phim quay chậm.
(Bài làm của học sinh)

a. Lựa chọn đề tài

b. Tìm ý

  • Chuyến đi tham quan di tích lịch sử, văn hoá nào? Do ai tổ chức? Mục đích của chuyến tham quan là gì? Bài viết tham khảo kể về chuyến tham quan khu lưu niệm Nguyễn Du của học sinh khối 8, do nhà trường tổ chức, phục vụ cho việc học tập.
  • Chuyến đi diễn ra như thế nào? (trên đường đi, lúc bắt đầu đến điểm tham quan, các hoạt động chính tiếp theo,...). Xem cách nêu này ở bài viết tham khảo.
  • Khung cảnh của điểm tham quan có gì nổi bật? (cảnh thiên nhiên, các công trình kiến trúc, những hiện vật được trưng bày ở khu di tích,...). Tham khảo các ý nói về tượng Nguyễn Du, nhà trưng bày hiện vật, nhà thờ Nguyễn Du, nhà bình văn, những cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi,...
  • Em có cảm xúc, suy nghĩ gì về chuyến tham quan di tích lịch sử, văn hoá đó? (Nêu ấn tượng về chuyến đi; hiểu biết mới về văn hoá, lịch sử của đất nước; tình cảm với quê hương,...). Xem ý này ở bài viết tham khảo.

c. Lập dàn ý

Dàn ý
Mở bài:
+ Giới thiệu khái quát về chuyến tham quan di tích lịch sử, văn hoá.
+ Bày tỏ cảm xúc của em khi được trực tiếp tham gia chuyến đi.
Thân bài:
+ Kể lại cụ thể diễn biến của chuyến tham quan (trên đường đi, lúc đến điểm tham quan, trình tự các điểm đến thăm, những hoạt động chính trong chuyến đi,...).
+ Thuyết minh, miêu tả và nêu ấn tượng của em về những nét nổi bật của di tích lịch sử, văn hoá đó (thiên nhiên, con người, công trình kiến trúc,...).
Kết bài: Nêu cảm xúc, suy nghĩ của em về chuyến tham quan di tích lịch sử, văn hoá.

Nói và nghe

Trình bày bài giới thiệu ngắn về một cuốn sách (cuốn truyện lịch sử)

Đọc một cuốn truyện lịch sử, em sẽ có thêm hiểu biết về các sự kiện, nhân vật lịch sử qua sự tái hiện sống động của nhà văn. Từ đó, em có thể rút ra bài học cho cuộc sống hôm nay. Việc trình bày bài giới thiệu ngắn về một cuốn truyện lịch sử đã đọc không chỉ là dịp để em chia sẻ với các bạn những hiểu biết của mình về tác phẩm, mà còn giúp em rèn luyện kĩ năng nói.

Trước khi nói

Để thực hiện tốt bài giới thiệu ngắn về một cuốn truyện lịch sử, cần chuẩn bị nội dung theo một trong hai phương án sau đây:

Mục đích nói
Cung cấp thông tin cơ bản về một cuốn truyện lịch sử, khơi gợi hứng thú ở người nghe và khuyến khích họ tìm đọc tác phẩm.

Người nghe
Những người yêu thích truyện lịch sử hoặc quan tâm đến cuốn truyện lịch sử được giới thiệu.

  • Phương án thứ nhất. Trình bày bài nói trên cơ sở bài viết đã thực hiện. Với phương án này, em cần tóm lược nội dung bài viết thành dàn ý bài nói, gồm đầy đủ các phần. Ghi chú những điểm cần nhấn mạnh trong cách mở đầu, triển khai và kết luận để gây ấn tượng cho người nghe.

+ Cần lưu ý chuyển từ ngôn ngữ viết sang ngôn ngữ nói.

+ Ghi những từ ngữ, câu văn quan trọng không thể bỏ qua khi trình bày (câu giới thiệu cuốn truyện; các từ ngữ thể hiện đúng thông tin về cuốn truyện; những câu văn bộc lộ tình cảm, suy nghĩ của em đối với những khía cạnh gây ấn tượng của cuốn truyện;...).

  • Phương án thứ hai: Chưa có bài viết giới thiệu về cuốn truyện. Trước hết, em cần tìm đọc một số cuốn truyện lịch sử, chọn một cuốn em cảm thấy có hứng thú để giới thiệu. (Gợi ý những cuốn truyện em có thể đọc: Tiêu Sơn tráng sĩ của Khái Hưng; Đêm hội Long Trì, An Tư của Nguyễn Huy Tưởng; Núi rừng Yên Thế của Nguyên Hồng; Trên sông truyền hịch, Người Thăng Long của Hà An;...). Sau khi đọc kĩ cuốn truyện, em hãy lập dàn ý bài nói với các nội dung cơ bản sau đây:

+ Giới thiệu chung về cuốn truyện (tên truyện, tác giả, nhà xuất bản, năm xuất bản, số trang,...).

+ Giới thiệu nội dung của cuốn truyện (thời kì lịch sử được tái hiện trong truyện, tóm lược cốt truyện, nêu các sự kiện gắn với nhân vật chính và các nhân vật có liên quan,...).

+ Nhận xét ngắn gọn một số nét nổi bật về nghệ thuật của cuốn truyện (sự hấp dẫn của cách kể, cách khắc hoạ nhân vật, đặc điểm ngôn ngữ kể chuyện và ngôn ngữ đối thoại,...).

+ Nêu một vài suy nghĩ của em về cuốn truyện.

Trình bày bài nói

Bám sát dàn ý đã lập để trình bày bài nói cho rõ ràng, mạch lạc:

+ Mở đầu: Nêu các thông tin chung về cuốn truyện.

+ Triển khai: Trình bày các nội dung chính; nêu một vài nét nổi bật về nghệ thuật của cuốn truyện.

+ Kết luận: Nêu suy nghĩ của bản thân về ý nghĩa của cuốn truyện.

Lưu ý: Khi trình bày, cần chọn giọng nói phù hợp (giọng chia sẻ thân mật, giọng tâm tình,...), thể hiện các thông tin một cách chính xác. Kết hợp ngôn ngữ nói với các phương tiện phi ngôn ngữ như nét mặt, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ,...

Sau khi nói

Trao đổi, đánh giá những vấn đề sau đây để cùng rút kinh nghiệm:

Các thông tin chung về cuốn truyện đã được giới thiệu rõ ràng chưa?

Nội dung bài nói đã làm rõ được những thông tin quan trọng về nội dung và nghệ thuật của cuốn truyện chưa?

  • Cảm xúc, suy nghĩ của người nói về cuốn truyện được thể hiện như thế nào?

Việc sử dụng ngôn ngữ và các phương tiện phi ngôn ngữ, khả năng tương tác với người nghe đạt mức độ nào?

Người nghe có thái độ như thế nào? Có nắm bắt được nội dung bài nói và nêu được ý kiến trao đổi không?

Kết nối tri thức

Củng cố, mở rộng

1

Kẻ bảng vào vở theo mẫu và điền thông tin ngắn gọn về các văn bản theo gợi dẫn:

Bối cảnh | Lá cờ thêu sáu chữ vàng | Quang Trung đại phá quân Thanh
Cốt truyện | |
Nhân vật | |
Ngôn ngữ | |

2

Tìm đọc thêm một truyện lịch sử và thực hiện các yêu cầu sau:
a. Xác định bối cảnh xảy ra các sự kiện được tái hiện trong tác phẩm.
b. Nêu chủ đề của truyện.
c. Chọn một nhân vật em yêu thích và nêu một vài đặc điểm tiêu biểu của nhân vật đó (ngoại hình, lời nói, hành động, suy nghĩ,...).

Thực hành đọc

Khi đọc văn bản dưới đây, em cần chú ý những vấn đề sau:

  • Cái nhìn đa chiều về nhân vật Nguyễn Hoàng – người gắn liền với sự nghiệp mở cõi về phía Nam, khẳng định chủ quyền đất nước.
  • Những đặc sắc nghệ thuật của truyện lịch sử được thể hiện trong văn bản: tạo dựng bối cảnh, xây dựng cốt truyện, khắc hoạ nhân vật, sử dụng ngôn ngữ kể chuyện,...
  • Tình cảm, thái độ đối với các nhân vật, sự kiện lịch sử mà tác phẩm gợi lên trong em.

Minh sư

Trích, thái bá lợi

Vào năm Đoan Quốc công (3) Nguyễn Hoàng gần tròn tám mươi tuổi, ông lên Hải Vân để vào Quảng Nam. Suốt chặng đường lên đèo ông chỉ phải nằm cáng hai lần còn thì ngồi trên lưng ngựa. Người lính hầu dắt ngựa đi trên những đoạn đường mòn gập ghềnh cheo leo giữa các bờ đá. Phải đổi ngựa hai lần và gần một ngày ông mới lên được tới đỉnh.
Hôm ấy trời nắng yếu, lưng chừng núi có mây phủ, còn trên đỉnh có sương mù. Đoan Quốc công ngồi trên một phiến đá chờ cả canh giờ mà sương vẫn chưa tan. Gần cuối ngày nhờ có làn gió tây thổi từ trên núi xuống đẩy mây ra biển làm nắng cứng hơn nhìn rõ vịnh biển dưới chân núi và một vùng đất bằng rộng rãi chói chang nắng ấm ở phương Nam. Vì vùng đất phương Nam rộng rãi này mà vua Lê Thánh Tông gọi đó là Quảng Nam. Nhưng trời chưa trong hẳn, những đám mây nhẹ cứ sà vào đỉnh núi rồi lại kéo đi làm phong cảnh lúc ẩn lúc hiện trong mây. Càng về chiều, gió càng thổi mạnh, trời trở lạnh. Nguyễn Hoàng và đoàn tuỳ tùng của ông đêm nay sẽ nghỉ lại trên đỉnh núi. Có sao đâu vì ông thường thích ngủ nghỉ ở nơi cao ráo. Cái lạnh thấu xương trên đỉnh núi đã có đống lửa và những tấm chăn ấm mà đoàn ngựa thồ chở lên.

(1) Minh sư người thấy sáng suốt. Tiểu thuyết Minh sư tái hiện cuộc đời và sự nghiệp của Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng - người mở đầu cho triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam. Nguyễn Hoàng thuộc dòng dõi họ Nguyễn ở Thanh Hoá - bề tôi có thế lực của nhà Lê. Cha của ông là Nguyễn Kim bị chính con rể là Trịnh Kiểm đầu độc để thâu tóm quyền lực. Khi thế lực của Trịnh Kiểm lớn mạnh, Nguyễn Hoàng là đối tượng mà Trịnh Kiểm có ý định trừ khử. Năm 1558, để tránh thảm hoạ cho gia tộc Nguyễn trước âm mưu của Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng đã xin vua Lê Anh Tông, được sự đồng ý của Trịnh Kiểm, vào trấn thủ Thuận Hoá. Ngỡ tống khứ được một địch thủ, Trịnh Kiểm không ngờ đã giao cho Nguyễn Hoàng cả một cõi riêng. Với tài thao lược và ý chỉ lớn lao, Nguyễn Hoàng đã yên định một vùng đất rộng lớn và mở mang bờ cõi đất nước về phía Nam. Đoạn trích này thuộc phần cuối của cuốn tiểu thuyết, kể lại chuyến công du đầu tiên của Nguyễn Hoàng đến Quảng Nam - vùng đất dưới quyền cai quản của ông.
(2) Thái Bá Lợi sinh năm 1945, quê ở Nghệ An, là nhà văn quân đội, có nhiều tác phẩm viết về chiến tranh. Tác phẩm của Thái Bá Lợi thể hiện một cái nhìn mới mẻ về hiện thực, một lối viết giản dị nhưng sinh động, dễ đi vào lòng người. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông: Vùng chân Hòn Tàu (1978), Họ cùng thời với những ai (1981), Minh sư (2010)....
(3) Đoan Quốc công: Nguyễn Hoàng (gọi theo tước hiệu vua Lê phong).

Quây quần bên đống lửa quanh Đoan Quốc công đêm nay vẫn là những con người đã cùng sống chết với ông mấy chục năm qua, nhưng không còn đầy đủ nữa. Thái phó Nguyễn Ư Dĩ, Luân Quận công Tống Phước Trị lần lượt qua đời. Thân vương Mạc Cảnh Huống vào vùng Trà Kiệu Quảng Nam giúp rập công việc trong đó. Các con trai lớn của ông là Hà, Hán, Thành, Diễn đã mất sớm trong chiến trận và tật bệnh. Con thứ năm Cẩm Quận công Hải đang làm con tin ở triều đình ngoài Đông Đô. Chỉ còn con thứ sáu Thuy Quận công Nguyễn Phúc Nguyên đang cùng ông vào Quảng Nam chuyến này. [...] Phạm Dữ cùng nhiều tướng khác, nhiều người không còn trẻ nữa thì vẫn quanh ông, cùng với cái thân già này nhọc nhằn cáng đáng việc nước. [...]
Đoan Quốc công nói với quần thần:
Sáng mai bọn ta sẽ xuống núi đi vào vùng đất rộng rãi phía Nam. Trong đó lành dữ đều có cả, đang chờ bọn ta. Tuy ta kiêm Tổng trấn Quảng Nam đã hơn ba mươi năm nhưng sự sâu sát thì chưa nhiều bằng Thuận Hoá, công lao khai khẩn, an dân là của các ông đang ngồi quanh ta đây. Nhiều năm nay, triều đình ngoài Đông Đô, dân chúng các nơi đều coi xứ Thuận Quảng này có chính trị khoan hoà, pháp luật công bằng, quân lệnh nghiêm túc nhờ mọi người cố gắng nên tàn quân nhà Mạc cùng các đảng cướp khác không dòm ngó được, dân trong xứ đều an cư lạc nghiệp, chợ không hai giả, dân không trộm cắp, cửa ngoài không phải đóng. Đó là người ngoài nhìn vào. Còn bọn ta ở trong lòng Thuận Quảng, ta phải biết rận trong chăn. [...]
Đoàn tuỷ tùng tuân lệnh Đoan Quốc công ai về chỗ nấy, chui vào những cái lán dụng tạm quanh các đống lửa. Có khoảng mười đống lửa bập bùng trên đỉnh Hải Vân đêm nay. Đoan Quốc công không thấy buồn ngủ, ông ngồi bên đống lửa uống trà. Khi mọi người đã vào giấc, ông mới đứng dậy dạo một vòng quanh nơi hạ trại. Trăng hạ tuần đang nhô lên từ biển dát ánh bạc lung linh. Những đám mây bay lững thững trên đầu làm bầu trời đầy sao lúc mở lúc tỏ. Đoan Quốc công cất bước nhẹ nhàng để không làm quân sĩ thức giấc. Ông nghe có tiếng nói chuyện thi thào bên một mô đá. Ông lặng lẽ đi về phía ấy.
Hai người lính gác chống kiếm đứng bên nhau. Gió tây quất từng cơn lạnh ngắt. Bước chân của Đoan Quốc công tới càng gần, tiếng thì thầm nghe càng rõ.
Một người lính nói:
Quốc công năm nay đã gần tám mươi rồi mà vẫn chưa được nghỉ ngơi. Ngài còn dẻo sức lắm, bữa qua còn xuống ngựa đi bộ một đoạn xa. Chắc là Quốc công cầm quân cho đến ngày nhắm mắt.
Người lính kia góp vào:

  • Mình phận lính tráng hiểu sao được tính toán của ngài. Lần này vào Quảng Nam có công tử Nguyên cùng đi, nghe nói ngài sẽ giao công tử trấn thủ Quảng Nam. Ngài là bậc kiệt hiệt( , mỗi bước đi đều tính toán kĩ càng chứ đâu hồ đồ như bọn ta. Khi ngài

(1) Kiệt hiệt tài giỏi, xuất chúng.

rời triều đình vào đây hơn bốn mươi năm trước đã tính cho ngày nay rồi. Mà ngày ấy Quốc công mới trên ba mươi tuổi. Thật là kì đặc, tính được thời vận như thần.

  • Tôi không nghĩ vậy.

Ông nghĩ sao?
Chẳng có tính toán gì đâu. Chẳng qua Quốc công sợ bị Trịnh Kiểm giết, tìm đường chạy thoát thân vào đây, gặp đất rộng thì mở thôi.
Đoan Quốc công đã nghe hết câu chuyện, ông đi thụt lùi để hai người lính không nhận ra mình. Một mảnh rêu dưới chân làm ông trượt ngã. Hai người lính giật mình vội thổi bùi nhùi đốt đuốc lên. Họ nhận ra người vừa đang lóp ngóp bò dậy là Đoan Quốc công. Bó đuốc trong tay họ run bần bật. Đoan Quốc công trấn an họ:

  • Không sao đâu. Tắt đuốc đi đừng làm động quân sĩ đang ngủ. Hai anh hãy đi với ta tới đống lửa uống trà.

Hai người lính lại càng run hơn. Miệng họ lắp bắp không nói ra thành tiếng. Họ như hai cái bóng mất hồn theo sau Đoan Quốc công đến đống lửa có cái lán của ông.

  • Đùng run. Hãy ngồi xuống đây nói tiếp câu chuyện còn dở ấy cho ta nghe. Ta biết nghe mà, các anh đừng sợ.

Hai người lính vẫn chưa hết run, chắp tay vải Đoan Quốc công lia lịa:
Chúng con có tội, chúng con có tội, xin ngài xả cho

  • Tội phước chưa nói ở đây, các anh nói chuyện tiếp đi, nhưng nói nhỏ nhỏ thôi để quân sĩ nghỉ.

Hai người lính nhận được cái nhìn hồn hậu của Đoan Quốc công, họ đã dần định thần. Họ đã hiểu chắc mình không bị tội chém vì khi quân (2), nhưng lời vẫn lúng búng trong miệng không nói ra được. Đoan Quốc công khêu cho đống lửa cháy to hơn:
Các anh không nói thì ta nói vậy. Các anh có tội là dám nói sau lung ta. Nhung đúng là ta sợ chết mà thoát thân vào xứ này. Nào ta có nghĩ ngay được chuyện mở cõi như giờ đâu. Nhưng gặp vận mà không làm là có tội. Cũng như các anh quý mến ta cho ta một bữa ăn khi đang đói, nếu ta tham lam đòi ăn thật nhiều, hoặc khinh khỉ các anh chê bữa ăn dở thì hai tội ấy như nhau. Các anh đã nhắc ta biết một sự thật mà ta có thể quên thì đó là minh sư của ta. Không phải chỉ có nhiều người gần gũi ta, những người nói điều hợp với lòng ta mà ngay cả những người nói điều trái ý ta, [...] họ đều là những bậc thầy sáng suốt của ta, ta tri ân họ vì họ đã dạy ta nhiều điều. Đó là lời nói thực lòng, các anh hãy tin ta, không có gì phải sợ sệt cả. Để phạt tội nói chuyện người sau lưng, các anh phải uống trà với ta chờ sáng.
(Thái Bá Lợi, Minh sư,
NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2010, tr. 407-414)

(1) Kì đặc: kì lạ, đặc biệt
(2) Khi quân: coi thường vua.

Xem bản PDF nguyên trang sách: Ngữ văn 8 tập 1 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 10–37).