Yêu cầu cần đạt
- Nhận biết được đặc điểm của văn bản nghị luận về một vấn đề đời sống thể hiện qua ý kiến, lí lẽ, bằng chứng và mối liên hệ giữa các ý kiến, lí lẽ, bằng chứng trong văn bản.
- Nêu được những trải nghiệm trong cuộc sống giúp bản thân hiểu hơn văn bản.
- Hiểu được các biện pháp và từ ngữ liên kết thường dùng trong văn bản; nhận biết và hiểu được đặc điểm, chức năng của thuật ngữ.
- Bước đầu biết viết bài văn nghị luận về một vấn đề trong đời sống.
- Trình bày được ý kiến về một vấn đề đời sống; biết bảo vệ ý kiến của mình trước sự phản bác của người nghe.
- Có trách nhiệm với bản thân và với cộng đồng.
Thuật ngữ: phép nối · phép thế · phép lặp · Thuật ngữ · Tĩnh tâm · Tương truyền · Sứ mệnh · Mặc khải · Trung đại · Thông điệp · Tuyệt thực · Cố định hoá · Phản biện · Tha nhân · Người đồng mình · Lò · Ken
Đi một ngày đàng, học một sàng khôn.
(Tục ngữ)
Giới thiệu bài học
Hằng ngày, chúng ta thường chứng kiến hoặc tham dự những sự kiện diễn ra trong gia đình, ở nhà trường, ngoài xã hội. Lại có khi ta phải tự giải quyết những điều xảy ra với bản thân. Tất cả đều có thể gợi lên trong ta những cảm xúc, suy nghĩ, từ đó, ta có thể rút ra bài học bổ ích. Những trải nghiệm có ý nghĩa như vậy giúp ta ngày càng trưởng thành hơn.
Trong bài học này, em sẽ được tiếp xúc với một số văn bản nghị luận bàn về những vấn đề của cuộc sống. Việc đọc văn bản giúp em củng cố những kiến thức về đặc trưng của văn bản nghị luận, nhờ đó, dần dần em biết cách tự đọc và thực hành viết văn bản nghị luận theo yêu cầu. Văn bản thơ kết nối về chủ đề giúp em thấy rõ hơn sự khác nhau giữa văn bản nghị luận và văn bản văn học khi viết về trải nghiệm và sự trưởng thau điữa vẫn gần
Đọc
Tri thức ngữ văn
Các vấn đề được bàn trong văn bản nghị luận
Mọi vấn đề của đời sống xã hội, văn học, nghệ thuật, khoa học,... đều có thể được nêu ra để bàn trong văn bản nghị luận. Văn bản nghị luận có giá trị phải chọn được vấn đề đáng quan tâm, có ý nghĩa với nhiều người. Trước một vấn đề, có thể có nhiều ý kiến khác nhau.
Mối liên hệ giữa các ý kiến, lí lẽ, bằng chứng trong văn bản nghị luận
Văn bản nghị luận bao giờ cũng thể hiện ý kiến của người viết. Sức thuyết phục của ý kiến phụ thuộc vào việc dùng lí lẽ và bằng chứng. Mỗi ý kiến thường được làm rõ bằng một số lí lẽ, mỗi lí lẽ được củng cố bởi một số bằng chứng. Ý kiến cần mới mẻ, lí lẽ cần sắc bén, bằng chứng cần xác thực, tiêu biểu, và tất cả những yếu tố đó phải có mối liên hệ với nhau, tạo thành một hệ thống chặt chẽ.
Biện pháp liên kết
Sự gắn kết giữa các câu trong đoạn văn hoặc giữa các đoạn trong văn bản được thể hiện bằng nhiều biện pháp (phép) liên kết, gắn với những phương tiện (từ ngữ) liên kết cụ thể, chẳng hạn: phép nối (từ ngữ nối), phép thế (đại từ, từ ngữ đồng nghĩa), phép lặp (lặp lại từ ngữ đã có trong câu trước, đoạn trước),...
Thuật ngữ là từ ngữ dùng để chỉ các khái niệm của một số lĩnh vực chuyên môn hoặc ngành khoa học.
Nghĩa của thuật ngữ là nghĩa quy ước trong phạm vi hẹp của lĩnh vực chuyên môn hoặc khoa học chuyên ngành.
Nhờ sử dụng chính xác và hợp lí các thuật ngữ, văn bản có được tính chuyên môn cao và cách biểu đạt hàm súc, tạo thuận lợi cho những cuộc trao đổi, thảo luận bổ ích xung quanh nội dung của văn bản.
Văn bản đọc
VĂN BẢN 1. Bản đồ dẫn đường, Đa-ni-en Gốt-li-ép (Daniel Gottlieb)
VĂN BẢN 2. Hãy cầm lấy và đọc, Huỳnh Như Phương
VĂN BẢN 3. Nói với con, Y Phương
Văn bản 1
Trước khi đọc
1.
Vì sao khách du lịch thường chuẩn bị một tấm bản đồ trước khi đến một miền đất lạ?
2.
Đến với tương lai, mỗi người phải tự tìm cho mình một “con đường” hay đã có “con đường” do ai đó vạch sẵn?
Đọc văn bản
Bản đồ dẫn đường
ĐA-NI-EN GỐT-LI-ÉP(1)
Sam thương yêu,
Có một người đàn ông nọ, một hôm vì có việc nên trở về nhà khi trời đã khuya. Oái oăm thay, sau khi về tới nhà, ông mới phát hiện đã để quên chìa khoá nhà tại công ti, nên đành lom khom tìm kiếm chiếc chìa khoá dự phòng(2). Nhìn thấy ông loay hoay cạnh ngọn đèn đường, người hàng xóm nhà bên cũng ra tìm giúp. Chẳng mấy chốc, lại thêm vài người hàng xóm nữa gia nhập “đội tìm kiếm”, nhưng chiếc chìa khoá vẫn không thấy đâu.
Văn bản được mở đầu bằng cách kể lại một câu chuyện có tính chất ngụ ngôn.
Một lúc lâu sau, một người hỏi ông đã nhìn thấy chiếc chìa khoá lần cuối cùng là ở đâu.
Tôi thấy cạnh cửa ra vào ấy! – Ông trả lời.
Người hàng xóm ngạc nhiên:
Vậy tại sao ông lại tìm dưới ngọn đèn đường?
Bởi vì ở nơi này tôi nhìn thấy rõ hơn!
Sam, ông chợt nhớ lại câu chuyện ngụ ngôn này khi nghĩ tới những tấm bản đồ dẫn đường cho chúng ta. Rất nhiều khi chúng ta tìm kiếm câu trả lời nơi sáng sủa, trong khi cái chúng ta cần là phải bước vào bóng tối.
Tấm bản đồ dẫn đường là cách nhìn về cuộc đời này, bao gồm cả cách nhìn về con người. Thường thì cách nhìn này được truyền từ bố mẹ cho chúng ta,
Cách giải thích hình ảnh “tấm bản đồ dẫn đường".
(1) Đa-ni-en Gốt-li-ép sinh năm 1946, người Mỹ, là nhà tâm lí học thực hành, bác sĩ điều trị tâm lí gia đình đồng thời là chuyên gia sức khoẻ tâm thần. Ông đã viết nhiều cuốn sách đúc kết kinh nghiệm hơn 30 năm nghiên cứu và tư vấn tâm lí: Tiếng nói của xung đột (2001), Những bức thư gửi cháu Sam (2006), Tiếng nói trong gia đình (2007), Học từ trái tim (2008),... Bản đồ dẫn đường được trích từ cuốn sách Những bức thư gửi cháu Sam.
(2) Dự phòng: chuẩn bị sẵn, đề phòng tình huống không hay xảy ra sẽ dùng đến.
rồi qua năm tháng, được điều chỉnh theo từng hoàn cảnh sống, theo tôn giáo hay từ những kinh nghiệm của chính bản thân chúng ta. Một tấm bản đồ có thể cảnh báo: “Cuộc đời này hết sức hiểm nguy, phải chiến đấu hết sức mới mong sống sót”, trong khi tấm bản đồ khác thì hướng dẫn: “Bản chất của con người đều tốt cả. Càng thân thiết với nhiều người bao nhiêu càng tốt cho bản thân ta bấy nhiêu!”.
Cháu thấy đấy, những tấm bản đồ này chỉ dẫn người ta đi theo những con đường khác nhau như thế nào. Hãy thử so sánh tấm bản đồ định hướng: “Cuộc sống chỉ toàn những chuỗi lo âu, đau khổ, còn niềm vui thì hiếm hoi và dễ dàng vụt mất như cánh chim trời!” với tấm bản đồ chỉ dẫn: “Cuộc sống là một món quà quý mà chúng ta phải trân trọng". Với hai quan điểm khác nhau này, thì dù điều kiện sống của hai người ấy có giống nhau như thế nào đi nữa, cảm nhận của họ về cuộc sống lại rất khác biệt.
Sam à, tấm bản đồ này còn bao gồm cả cách nhìn nhận về bản thân chúng ta nữa. Tôi có phải là người đáng yêu? Tôi có giàu có, có thông minh? Tôi có quá yếu đuối và dễ dàng bị người khác làm cho tổn thương? Khi gặp khó khăn, tôi sẽ gục ngã, hay chiến đấu một cách ngoan cường?
Từng câu trả lời cho những câu hỏi trên sẽ là từng nét vẽ tạo nên hình dáng tấm bản đồ mà chúng ta mang theo trong tâm trí mình. Chính tấm bản đồ này quyết định cách nhìn của chúng ta đối với cuộc sống, với mọi người và với chính bản thân mình. Nó cũng mang ý nghĩa quyết định đối với những thành bại của chúng ta trong cuộc sống.
Vai trò của “tấm bản đồ" đối với đường đời của con người.
Sam, bản đồ dẫn đường của cháu như thế nào? Ông sẽ kể cho cháu nghe tấm bản đồ của ông. Khi ông còn nhỏ, mẹ ông luôn nhìn cuộc đời này như một nơi đầy hiểm nguy. Bà vẫn hay nói với ông rằng để tồn tại, ông phải luôn đề phòng, phải luôn cảnh giác. Bố của ông cũng phần nào đồng ý với quan điểm đó.
Nhưng quan điểm ấy dường như không phù hợp với ông. Những gì ông thấy không giống như lời bố mẹ ông nói. Ông cảm thấy yêu mến và tin tưởng tất cả mọi người xung quanh. Ông thấy cuộc sống là chốn bình yên và an toàn. Kết quả là ông nhận ra mình khác biệt với chính gia đình mình. Chưa bao giờ ông cảm thấy tự tin với quan điểm của mình, bởi gia đình ông luôn cho rằng quan điểm đó là hoàn toàn sai lầm. Mỗi khi ông và mẹ trò chuyện về một người nào đó và ông khen ngợi họ dễ thương, tốt bụng, thế nào mẹ ông cũng ngán ngẩm: “Cứ chờ mà xem!”.
Những khó khăn của “ông” khi tìm kiếm “tấm bản đồ" cho mình.
Cháu biết không, tấm bản đồ của ông lúc ấy thật sự bế tắc. Ông không biết có phải mình là người quá ngây thơ, khờ khạo hay không. [...] Ông cảm thấy mặt đất dưới chân mình sao mà bấp bênh và không bền vững. Không giống như người đàn ông trong câu chuyện ngụ ngôn ở trên, thậm chí ông còn không có một ngọn đèn đường nào để đứng cạnh mà tìm kiếm.
Có lẽ cháu nghĩ rằng tấm bản đồ dẫn đường của ông sau đó đã trở nên rõ ràng hơn, khi ông đã trưởng thành. Nhưng không phải vậy đâu Sam à. Nó không có thay đổi gì đáng kể cho đến sau vụ tai nạn. Nằm trên giường tĩnh tâm(1) một thời gian dài, ông đã được rất nhiều người đến thăm. Ông bắt đầu đi vào bóng tối để tìm hiểu xem mình là ai và ý nghĩa của cuộc sống là gì.
Sam, cách duy nhất để tìm một bản đồ khác, đó là sẵn sàng tìm kiếm trong bóng tối. Cháu cũng cần phải tìm kiếm bản đồ cho chính mình. Không nhất thiết phải là tấm bản đồ cháu đã được trao sẵn, hay tấm bản đồ giống hệt bố mẹ mình, mà là tấm bản đồ cháu tự vẽ nên bằng chính kinh nghiệm của mình.
Cách kết thúc văn bản.
Ông hi vọng rằng, một ngày nào đó, cháu có thể đối mặt với cuộc đời mình một cách hiên ngang, mạnh mẽ, bởi cháu đã có tất cả những điều cháu cần trong tấm bản đồ dẫn đường của mình.
Yêu cháu,
Ông ngoại của cháu
(Đa-ni-en Gốt-li-ép, Những bức thư giời cháu Sam, Thông điệp cuộc sống, Minh Trâm - Hoa Phượng – Ngọc Hân dịch, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2012, tr. 229-233)
Sau khi đọc
Trả lời câu hỏi
1.
Nêu tác dụng của cách mở đầu văn bản bằng việc kể lại câu chuyện có tính chất ngụ ngôn.
2.
Từ cách tìm chìa khoá rất kì khôi của người đàn ông trong câu chuyện, tác giả liên hệ đến vấn đề gì?
(1) Tĩnh tâm: giữ cho lòng mình thanh thản, không xao xuyến, xúc động.
3.
Trong văn bản, tác giả lí giải về hai khía cạnh của hình ảnh ẩn dụ “tấm bản đồ”. Khi bàn về hai khía cạnh đó, tác giả dùng những lí lẽ và bằng chứng nào để thuyết phục người đọc?
4.
Cháu biết không, tấm bản đồ của ông lúc ấy thật sự bế tắc – “ông” đã tâm sự với “cháu” như vậy. Theo em, vì sao “ông” bế tắc trong việc tìm kiếm tấm bản đồ của riêng mình? Kinh nghiệm ấy của “ông” có thể giúp “cháu” rút ra được bài học gì?
5.
Trong hai ý kiến khác nhau sau đây, em tán đồng ý kiến nào? Vì sao?
a. Cuộc sống chỉ toàn những chuỗi lo âu, đau khổ, còn niềm vui thì hiếm hoi và dễ dàng vụt mất như cánh chim trời!
b. Cuộc sống là một món quà quý mà chúng ta phải trân trọng.
6.
Đọc lời khuyên của “ông” dành cho “cháu” ở phần cuối văn bản, em rút ra điều gì cho bản thân?
Viết kết nối với đọc
Trên “con đường” đi tới tương lai của bản thân, “tấm bản đồ” có vai trò như thế nào? Hãy trả lời câu hỏi trên bằng một đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu).
Thực hành tiếng Việt
Mạch lạc và liên kết (biện pháp liên kết và từ ngữ liên kết)
Nhận biết một số biện pháp liên kết và từ ngữ liên kết
Mỗi biện pháp (phép) liên kết thường sử dụng những từ ngữ liên kết tương ứng. Sau đây là một số biện pháp (phép) liên kết và phương tiện (từ ngữ) liên kết thông dụng:
Câu sau có từ ngữ nối biểu thị quan hệ với câu trước. Ví dụ:
Có lẽ cháu nghĩ rằng tấm bản đồ dẫn đường của ông sau đó đã trở nên rõ ràng hơn, khi ông đã trưởng thành. Nhưng không phải vậy đâu Sam à.
(Đa-ni-en Gốt-li-ép, Bản đồ dẫn đường)
Đọc hai đoạn văn sau và thực hiện các nhiệm vụ ở dưới:
Đoạn thứ nhất: (1) Sam, bản đồ dẫn đường của cháu như thế nào? (2) Ông sẽ kể cho cháu nghe tấm bản đồ của ông. (3) Khi ông còn nhỏ, mẹ ông luôn nhìn cuộc đời này như một nơi đầy hiểm nguy. (4) Bà vẫn hay nói với ông rằng để tồn tại, ông phải luôn đề phòng, phải luôn cảnh giác. (5) Bố của ông cũng phần nào đồng ý với quan điểm đó.
Nhờ sử dụng từ nối nhưng, người viết đã tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa hai câu liền nhau.
Câu sau có từ ngữ dùng để thay thế cho từ ngữ đã xuất hiện ở câu trước. Ví dụ:
Hai mươi tuổi, chàng thanh niên Lỗ Tấn du học ở Nhật. Ông theo học ngành Y.
(Đoàn Công Lê Huy, Câu chuyện về con đường)
Từ ông ở câu sau thay cho cụm từ chàng thanh niên Lỗ Tấn ở câu trước đó, có tác dụng liên kết hai câu với nhau.
Câu sau lặp lại từ ngữ của câu trước, có tác dụng liên kết. Ví dụ:
Cháu biết không, tấm bản đồ của ông lúc ấy thật sự bế tắc. Ông không biết có phải mình là người quá ngây thơ, khờ khạo hay không. [...] Ông cảm thấy mặt đất dưới chân mình sao mà bấp bênh và không bền vững.
(Đa-ni-en Gốt-li-ép, Bản đồ dẫn đường)
Đoạn thứ hai: (1) Nhưng quan điểm ấy dường như không phù hợp với ông. (2) Những gì ông thấy không giống như lời mẹ ông nói. (3) Ông cảm thấy yêu mến và tin tưởng tất cả mọi người xung quanh. (4) Ông thấy cuộc đời là chốn bình yên và an toàn. (5) Kết quả là ông nhận thấy mình khác biệt với chính gia đình mình. (6) Chưa bao giờ ông cảm thấy tự tin với quan điểm của mình, bởi gia đình ông luôn cho rằng quan điểm đó là hoàn toàn sai lầm. (7) Mỗi khi ông và mẹ trò chuyện về một người nào đó và ông khen ngợi họ dễ thương, tốt bụng, thế nào mẹ ông cũng ngán ngẩm: “Cứ chờ mà xem!".
Các câu liên kết với nhau nhờ lặp lại từ ông.
1.
Em hãy tóm lược ý của từng đoạn văn trong một câu và cho biết nhờ tính chất gì của hai đoạn văn mà em tóm lược được như vậy.
2.
Chỉ ra phương tiện liên kết các câu trong đoạn thứ nhất và các câu trong đoạn thứ hai.
3.
Câu nào có tác dụng liên kết đoạn thứ hai với đoạn thứ nhất? Những phương tiện liên kết nào được sử dụng trong câu đó?
4.
Em thử đổi vị trí các câu trong đoạn thứ nhất và đoạn thứ hai theo một trật tự bất kì, chẳng hạn 2, 4, 1, 5, 3 (đoạn thứ nhất) và 7, 3, 4, 6, 1, 5, 2 (đoạn thứ hai). Hãy đọc lại các câu theo trật tự đã thay đổi và rút ra nhận xét.
5.
Hai đoạn văn trên sắp xếp đúng trật tự trong văn bản. Em thử hoán đổi vị trí hai đoạn cho nhau và rút ra nhận xét.
Văn bản 2
Trước khi đọc
1.
Nêu một câu danh ngôn nói về sách hoặc về việc đọc sách mà em cho là có ý nghĩa.
2.
Em thích đọc loại sách nào? Em đã từng thu nhận được điều gì bổ ích sau khi đọc một cuốn sách?
Đọc văn bản
Hãy cầm lấy và đọc
HUỲNH NHƯ PHƯƠNG (1)
Tương truyền (2) rằng hồi còn trẻ, một lần Thánh Au-gu-xtinh(3) (Augustine) ngồi cô đơn và tĩnh lặng trong vườn, vẳng nghe bên tai giọng nói thầm thì của một em bé: “Hãy cầm lấy và đọc!”(4). Câu nói ấy lặp đi lặp lại như một điệp khúc. Từ hôm đó, được thúc đẩy bởi một sứ mệnh (5) có tính chất mặc khải, ông đi sâu nghiên cứu triết học, và trở thành nhà tư tưởng hàng đầu của thời trung đại (7).
Câu chuyện kết nối như thế nào với vấn đề nghị luận?
Vượt qua tính chất huyền bí của câu chuyện ấy, “Hãy cầm lấy và đọc” trở thành lời mời gọi trân trọng người ta đọc một cuốn sách. “Hãy cầm lấy và đọc” có thể xem là một thông điệp(8): hãy tiếp xúc trực tiếp với một cuốn sách, hãy tự trải nghiệm mà không bước qua một trung gian nào. Cùng với thức ăn để duy trì sự sống của cơ thể, con người cũng cần thức ăn nuôi dưỡng tinh thần. Đọc là một cách nạp năng lượng cho sự sống tinh thần. Người tuyệt thực, không ăn uống, có thể chết. Người không đọc, không xem, không nghe cũng có thể “chết”, cái chết dần dần, êm ái, không dễ nhận ra.
“Em hãy cầm lấy và đọc”, đó là lời nói tin cậy của thầy giáo khi trao cho học trò một cuốn sách quý. “Con hãy cầm lấy và đọc”, đó là câu nói thân thương của người cha, người mẹ khi đưa cho con món quà có ý nghĩa nhất.
Lí lẽ và bằng chứng nào được dùng để khẳng định vai trò của sách trong thế giới hiện đại?
(1) Huỳnh Như Phương sinh năm 1955, quê ở Quảng Ngãi, là giảng viên đại học, nhà nghiên cứu phê bình văn học. Tác phẩm chính: Dẫn vào tác phẩm văn chương (1986); Trường phái Hình thức Nga (2007); Những nguồn cảm hứng trong văn học (2008); Hãy cầm lấy và đọc (2016); Giấc mơ, cảnh tượng và cái nhìn (2019);...
(2) Tương truyển: truyền miệng cho nhau trong dân gian từ đời nọ đến đời kia.
(3) Thánh Au-gu-xtinh (354-430): nhà thần học và triết học lớn ở châu Âu thời trung đại.
(4) Nguyên văn tiếng Latinh: Tolle et lege!
(5) Sứ mệnh: nhiệm vụ quan trọng, được coi là thiêng liêng.
(6) Mặc khải: một khả năng đặc biệt được Chúa ban cho, nhờ đó, có thể nhận biết trong khoảnh khắc những điều mà người bình thường không thể biết (quan niệm của Thiên Chúa giáo).
(7) Trung đại: thời Trung cổ ở các nước châu Âu và thời phong kiến ở một số nước phương Đông.
(8) Thông điệp: điều công khai gửi đến mọi người.
(9) Tuyệt thực: nhịn ăn để thể hiện thái độ phản kháng.
“Bạn hãy cầm lấy và đọc”, đó là lời sẻ chia của một người bạn muốn giới thiệu cho ta một cuốn sách hay.
Không phủ nhận vai trò ngày càng tăng của các phương tiện nghe nhìn trong thế giới hiện đại, chúng ta vẫn thấy rằng đọc là một nhu cầu không thể thiếu của con người. Con chữ trên trang sách hàm chứa văn hoá của một dân tộc, mang hồn thiêng của đất nước. Chữ kích thích trí tưởng tượng của người đọc, không bị cố định hoá (1) trong một khuôn khổ, hình thể nào. Chữ gọi lên những tư duy hồi đáp, hô ứng hay phản biện(2). Chữ là cầu nối những thế hệ cách xa nhau trong lịch sử, những không gian văn hoá khác nhau, những tấm lòng chưa thông hiểu nhau, thậm chí còn nghi kị nhau.
Trang giấy và chữ in có sức hấp dẫn và sự kì diệu của nó. Chỉ là giấy và mực mà nó chứa đựng cả thế giới, phơi bày những bí ẩn của thiên nhiên, vũ trụ, xã hội và con người. Đọc sách là đọc thế giới và đọc cả tâm hồn con người. Đọc sách là đọc tha nhân (3) và đọc chính bản thân ta. Nhờ đọc sách mà ta hiểu đời, hiểu người và hiểu chính mình.
Có những cuốn sách khiến ta thất vọng, hụt hẫng. Nhưng không ít cuốn sách làm ta hạnh phúc, hồi hộp và mê đắm. Đọc một cuốn sách hay như bị cuốn vào một nỗi say mê, một niềm khoái cảm. Hành động đọc là cả một cuộc khám phá và chinh phục. Một nền giáo dục mà không khuyến khích và kích thích công chúng đọc sách là một nền giáo dục phiến diện, có thể sản sinh ra những người nông cạn về tinh thần, “những con người một chiều kích” như Hơ-bót Mác-kiu-do(4) (Herbert Marcuse) đã nói.
Thời nay, với sự xuất hiện của in-tơ-nét và sách điện tử, cách đọc cũng đa dạng: đọc không chỉ là nhìn vào trang giấy và chữ in mà còn là nhìn vào màn hình chiếu sáng. Đó là thành tựu của văn minh nhân loại. Câu nói “Hãy cầm lấy và đọc” có thể chỉ còn ý nghĩa tượng trưng, thay vào đó là “Hãy nhìn vào mà đọc”... Dẫu bằng cách nào, điều quan trọng là trí tuệ và tâm tư ta gắn liền với ngôn ngữ, nhờ tiếng nói và chữ viết (cả sách nói và sách chữ nổi dành cho người khiếm thị) mà đánh thức những giá trị tinh thần.
(1) Cố định hoá: làm cho giữ nguyên trạng thái, không thay đổi.
(2) Phản biện: đánh giá theo một góc nhìn khác (nghĩa trong văn bản).
(3) Tha nhân: người khác.
(4) Hơ-bốt Mác-kiu-dơ (1898-1979): nhà triết học, xã hội học người Đức.
Làm cách nào để khắc phục sự sa sút của văn hoá đọc?
Lâu nay, chúng ta thường được nghe báo động về sự sa sút của văn hoá đọc. Giải quyết tình trạng này, cần phải tính đến cả hai phương diện: chủ thể đọc và đối tượng đọc, nghĩa là phải có người ham đọc và có sách hay để đọc, hai điều này tác động qua lại với nhau. Nếu chỉ có những cuốn sách dở thì hiển nhiên người đọc sẽ hờ hững. Ngược lại, nếu người đọc không được chuẩn bị nền tảng văn hoá cần thiết thì dù sách hay bao nhiêu vẫn là vô ích.
[...] Sách sinh ra không phải để được trưng bày, khoe của hay làm dáng. Sách cũng không nên trở thành một cổ vật rêu phong. Sách là để “lần giở trước đèn”.
Cách kết văn bản có gì độc đáo?
Tolle et lege. Xin hãy cầm lấy và đọc.
(Theo Huỳnh Như Phương, Hãy cầm lấy và đọc, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2016, tr. 13-16)
Sau khi đọc
Trả lời câu hỏi
1.
Văn bản tập trung bàn về vấn đề gì? Dựa vào đâu em nhận biết được điều đó?
2.
Tóm lược một số ý kiến được tác giả lần lượt trình bày trong văn bản.
3.
Chỉ ra câu văn thể hiện cách lí giải của tác giả về thông điệp “Hãy cầm lấy và đọc”. Em có đồng ý với cách lí giải đó không? Vì sao?
4.
Tác giả đã dùng những lí lẽ và bằng chứng nào để khẳng định trong thế giới hiện đại, khi các phương tiện nghe nhìn phát triển không ngừng, con người vẫn cần phải đọc sách?
5.
Theo tác giả, cần có những điều kiện gì để giải quyết tình trạng sa sút của văn hoá đọc hiện nay? Em có tán thành với ý kiến của tác giả về vấn đề này không? Vì sao?
6.
Từ nội dung văn bản Hãy cầm lấy và đọc, theo em, có thể xem đọc sách là một kiểu trải nghiệm được không? Vì sao?
Viết kết nối với đọc
Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) với chủ đề: Sách là để đọc, không phải để trưng bày.
Thực hành tiếng Việt
1
Chỉ ra thuật ngữ trong những câu sau và cho biết dựa vào đâu em xác định như vậy.
a. Sam, ông chợt nhớ lại câu chuyện ngụ ngôn này khi nghĩ tới những tấm bản đồ dẫn đường cho chúng ta.
b. Từ hôm đó, được thúc đẩy bởi một sứ mệnh có tính chất mặc khải, ông đi sâu nghiên cứu triết học, và trở thành nhà tư tưởng hàng đầu của thời trung đại.
c. Con chữ trên trang sách hàm chứa văn hoá của một dân tộc, mang hồn thiêng của đất nước.
d. Thời nay, với sự xuất hiện của in-tơ-nét và sách điện tử, cách đọc cũng đa dạng: đọc không chỉ là nhìn vào trang giấy và chữ in mà còn nhìn vào màn hình chiếu sáng.
Nhận biết đặc điểm và chức năng của thuật ngữ
Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ cố định, được sử dụng theo quy ước của một lĩnh vực chuyên môn hoặc ngành khoa học nhất định. Có nhiều trường hợp, ngay sau thuật ngữ đã được dịch ra tiếng Việt, người ta còn ghi thêm thuật ngữ gốc trong tiếng Anh, tiếng Pháp,... (để trong ngoặc đơn).
Muốn hiểu nghĩa của thuật ngữ, cần tìm đến Bảng tra cứu thuật ngữ đặt ở phía sau cuốn sách (nếu có) hoặc đọc các từ điển chuyên ngành. Việc suy đoán nghĩa của thuật ngữ dựa vào ngữ cảnh hay ghép nối nghĩa của từng yếu tố cấu tạo rất dễ dẫn tới tình trạng hiểu sai thuật ngữ.
Có những từ ngữ khi thì được dùng với tư cách là một thuật ngữ, khi lại được dùng như một từ ngữ thông thường. Ví dụ:
Muối là hợp chất mà phân tử gồm có một hay nhiều nguyên tử kim loại liên kết với một hay nhiều gốc acid.
Trong trường hợp này, muối là thuật ngữ, chỉ một loại hợp chất hoá học.
Canh còn hơi nhạt, con thêm tí muối nữa đi.
Muối ở đây là một từ thông dụng, chỉ một loại gia vị trong thực phẩm.
Có những thuật ngữ đôi khi được dùng như từ ngữ thông thường. Ví dụ:
Ẩn số của phương trình này là một số thập phân.
Ẩn số ở đây là một thuật ngữ toán học, có nghĩa: “số chưa biết".
Liệu con vi-rút này có biến thể nào khác hay không vẫn còn là một ẩn số.
Trong câu này, ẩn số là từ thông dụng, có nghĩa: “điều chưa ai biết rõ".
Muốn xác định được một từ ngữ có phải là thuật ngữ hay không, cần phải dựa vào ngữ cảnh mà nó xuất hiện.
2
Hãy tra từ điển hoặc các loại tài liệu thích hợp để tìm hiểu nghĩa của các thuật ngữ đã tìm được ở bài tập 1.
3
Trong các từ ngữ in đậm ở những cặp câu dưới đây, trường hợp nào là thuật ngữ, trường hợp nào là từ ngữ thông thường? Cho biết căn cứ để xác định như vậy.
a.
Cặp câu thứ nhất:
Câu nói ấy lặp đi lặp lại như một điệp khúc.
Trong một bài hát hay bản nhạc, phần được lặp lại nhiều lần khi trình diễn gọi là điệp khúc.
b.
Cặp câu thứ hai:
Trong thời đại ngày nay, con người đã biết tận dụng các nguồn năng lượng.
Đọc sách là một cách nạp năng lượng cho sự sống tinh thần.
c.
Cặp câu thứ ba:
Cháu biết không, tấm bản đồ của ông lúc ấy thật sự bế tắc.
Bản đồ là hình vẽ thu nhỏ một phần hay toàn bộ bề mặt Trái Đất lên mặt phẳng trên cơ sở toán học, trên đó các đối tượng địa lí được thể hiện bằng các kí hiệu bản đồ.
Văn bản 3
Đọc văn bản
Nói với con
Y PHƯƠNG (1)
Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười
Người đồng mình (2) yêu lắm con ơi
Đan lò (3) cài nan hoa
Vách nhà ken(4 câu hát
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng
Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới
Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời.
(1) Y Phương (1948-2022) quê ở Cao Bằng. Thơ Y Phương thể hiện tâm hồn chân thật, mạnh mẽ, phóng khoáng, in đậm màu sắc văn hoá vùng đất quê ông. Một số tập thơ tiêu biểu của Y Phương: Nói với con (1980), Người núi Hoa (1982), Tiếng hát tháng Giêng (1986), Đàn then (1996), Vũ khúc Tày (2015),....
(2) Người đồng mình: người vùng mình, người quê mình.
(3) Lò: một loại dụng cụ được đan bằng những nan tre vót tròn, dùng để bắt cá.
(4) Ken: làm cho kín hết, không còn chỗ hở, chỗ trống. Ken ở đây được dùng với nghĩa bóng bẩy.
Nhận biết đặc điểm và chức năng của thuật ngữ
1
Chỉ ra thuật ngữ trong những câu sau và cho biết dựa vào đâu em xác định như vậy.
a. Sam, ông chợt nhớ lại câu chuyện ngụ ngôn này khi nghĩ tới những tấm bản đồ dẫn đường cho chúng ta.
b. Từ hôm đó, được thúc đẩy bởi một sứ mệnh có tính chất mặc khải, ông đi sâu nghiên cứu triết học, và trở thành nhà tư tưởng hàng đầu của thời trung đại.
c. Con chữ trên trang sách hàm chứa văn hoá của một dân tộc, mang hồn thiêng của đất nước.
d. Thời nay, với sự xuất hiện của in-tơ-nét và sách điện tử, cách đọc cũng đa dạng: đọc không chỉ là nhìn vào trang giấy và chữ in mà còn nhìn vào màn hình chiếu sáng.
Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ cố định, được sử dụng theo quy ước của một lĩnh vực chuyên môn hoặc ngành khoa học nhất định. Có nhiều trường hợp, ngay sau thuật ngữ đã được dịch ra tiếng Việt, người ta còn ghi thêm thuật ngữ gốc trong tiếng Anh, tiếng Pháp,... (để trong ngoặc đơn).
Muốn hiểu nghĩa của thuật ngữ, cần tìm đến Bảng tra cứu thuật ngữ đặt ở phía sau cuốn sách (nếu có) hoặc đọc các từ điển chuyên ngành. Việc suy đoán nghĩa của thuật ngữ dựa vào ngữ cảnh hay ghép nối nghĩa của từng yếu tố cấu tạo rất dễ dẫn tới tình trạng hiểu sai thuật ngữ.
Có những từ ngữ khi thì được dùng với tư cách là một thuật ngữ, khi lại được dùng như một từ ngữ thông thường. Ví dụ:
Muối là hợp chất mà phân tử gồm có một hay nhiều nguyên tử kim loại liên kết với một hay nhiều gốc acid.
Trong trường hợp này, muối là thuật ngữ, chỉ một loại hợp chất hoá học.
Canh còn hơi nhạt, con thêm tí muối nữa đi.
Muối ở đây là một từ thông dụng, chỉ một loại gia vị trong thực phẩm.
Có những thuật ngữ đôi khi được dùng như từ ngữ thông thường. Ví dụ:
Ẩn số của phương trình này là một số thập phân.
Ẩn số ở đây là một thuật ngữ toán học, có nghĩa: “số chưa biết".
Liệu con vi-rút này có biến thể nào khác hay không vẫn còn là một ẩn số.
Trong câu này, ẩn số là từ thông dụng, có nghĩa: “điều chưa ai biết rõ".
Muốn xác định được một từ ngữ có phải là thuật ngữ hay không, cần phải dựa vào ngữ cảnh mà nó xuất hiện.
2
Hãy tra từ điển hoặc các loại tài liệu thích hợp để tìm hiểu nghĩa của các thuật ngữ đã tìm được ở bài tập 1.
3
Trong các từ ngữ in đậm ở những cặp câu dưới đây, trường hợp nào là thuật ngữ, trường hợp nào là từ ngữ thông thường? Cho biết căn cứ để xác định như vậy.
a. Cặp câu thứ nhất:
- Câu nói ấy lặp đi lặp lại như một điệp khúc.
- Trong một bài hát hay bản nhạc, phần được lặp lại nhiều lần khi trình diễn gọi là điệp khúc.
b. Cặp câu thứ hai:
- Trong thời đại ngày nay, con người đã biết tận dụng các nguồn năng lượng.
- Đọc sách là một cách nạp năng lượng cho sự sống tinh thần.
c. Cặp câu thứ ba:
- Cháu biết không, tấm bản đồ của ông lúc ấy thật sự bế tắc.
- Bản đồ là hình vẽ thu nhỏ một phần hay toàn bộ bề mặt Trái Đất lên mặt phẳng trên cơ sở toán học, trên đó các đối tượng địa lí được thể hiện bằng các kí hiệu bản đồ.
Nói với con
Y PHƯƠNG (1)
Chân phải bước tới cha
Chân trái bước tới mẹ
Một bước chạm tiếng nói
Hai bước tới tiếng cười
Người đồng mình(2) yêu lắm con ơi
Đan lờ (3) cài nan hoa
Vách nhà ken (4) câu hát
Rừng cho hoa
Con đường cho những tấm lòng
Cha mẹ mãi nhớ về ngày cưới
Ngày đầu tiên đẹp nhất trên đời.
(1) Y Phương (1948-2022) quê ở Cao Bằng. Thơ Y Phương thể hiện tâm hồn chân thật, mạnh mẽ, phóng khoảng,
in đậm màu sắc văn hoá vùng đất quê ông. Một số tập thơ tiêu biểu của Y Phương: Nói với con (1980), Người núi Hoa
(1982), Tiếng hát tháng Giêng (1986), Đàn then (1996), Vũ khúc Tày (2015)......
(2) Người đồng mình: người vùng mình, người quê mình.
(3) Lờ: một loại dụng cụ được đan bằng những nan tre vót tròn, dùng để bắt cá.
(4) Ken: làm cho kín hết, không còn chỗ hở, chỗ trống. Ken ở đây được dùng với nghĩa bóng bẩy.
Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn
Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung (1) không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc
Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục
Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con.
(Nguyễn Đức Nam (Chủ biên), Thơ Việt Nam 1945-1985,
NXB Giáo dục, 1987, tr. 326-327)
(1) Thung (thung lũng): dải đất trũng và kéo dài nằm giữa hai sườn đồi, núi.
Sau khi đọc
Trả lời câu hỏi
1
Nói với con thể hiện tình cảm của người cha đối với con, nhưng qua đó, nhà thơ còn hướng tới những đối tượng nào khác?
2
Qua những lời tâm tình, căn dặn, người cha muốn nói với con về những điều gì?
3
Người cha đã nhìn nhận như thế nào về mối quan hệ giữa “con” với gia đình, quê hương, xứ sở? Những mối quan hệ ấy có ý nghĩa gì đối với sự trưởng thành của “con”?
4
Vẻ đẹp tâm hồn và sức sống mãnh liệt, bền bỉ của “người đồng mình được thể hiện như thế nào trong bài thơ? Nói về “người đồng mình", người cha muốn nhắn gửi con điều gì?
5
Nêu cảm nhận của em về nghệ thuật của bài thơ.
Viết
Viết bài văn nghị luận về một vấn đề trong đời sống (trình bày ý kiến phản đối)
Trong đời sống, trước một vấn đề, thường có những ý kiến khác nhau, trong đó có thể có ý kiến khiến ta không thể đồng tình. Biết tán thành với ý kiến đúng thì cũng cần biết phản đối ý kiến sai. Nhiều trường hợp, sự phản đối được thể hiện bằng bài văn nghị luận. Để việc phản đối có sức thuyết phục, người viết văn nghị luận cần đưa ra ý kiến rõ ràng, lí lẽ sắc bén, bằng chứng tiêu biểu, xác thực, dựa trên những tiêu chuẩn chân lí được thừa nhận rộng rãi.
Yêu cầu đối với bài văn nghị luận về một vấn đề trong đời sống (trình bày ý kiến phản đối):
Nêu được vấn đề, làm rõ thực chất của vấn đề.
Trình bày rõ ràng ý kiến phản đối của người viết về một quan niệm, cách hiểu khác.
Đưa ra được lí lẽ và bằng chứng để chứng tỏ ý kiến phản đối là hoàn toàn có cơ sở.
Phân tích bài viết tham khảo
Việc lớn, việc nhỏ
“Tôi chỉ làm việc lớn, việc nhỏ là việc vô nghĩa, tôi không thích làm” – đây là đề tài chúng tôi sẽ thảo luận trong mục Mỗi tuần một câu chuyện vào chiều thứ Bảy tuần này. Cô giáo cho biết, một anh học sinh khoá trước đã “tuyên bố” như vậy trong buổi cả lớp lao động quét dọn, vệ sinh sân trường, lớp học. Tôi thực sự bị thu hút bởi đề tài cô giáo vừa nêu. Tôi biết trong lớp, không ít bạn có suy nghĩ giống như “tác giả” của câu nói trên. Theo tôi, câu nói đó đã bộc lộ một quan điểm thật khó chấp nhận.
Nêu vấn đề nghị luận.
Thể hiện ý kiến không đồng tình với quan niệm.
Trước hết, muốn chỉ ra chỗ bất ổn của quan điểm trên đây, cần hiểu thế nào là việc lớn, việc nhỏ, việc vô nghĩa và thái độ của chúng ta trước những công việc như vậy.
Việc lớn có thể hiểu là những việc hệ trọng, đòi hỏi người ta phải dành nhiều thời gian, công sức, trí tuệ,... để giải quyết. Đối với học sinh, việc lớn nhất là học tập nhằm chiếm lĩnh tri thức, hình thành và phát triển năng lực;
Sử dụng lí lẽ và bằng chứng để thể hiện sự phản đối khía cạnh thứ nhất của quan niệm.
rèn luyện thể chất để có cơ thể khoẻ mạnh; trau dồi phẩm chất, trở thành con người chân chính. Trên từng bước trưởng thành, những việc lớn luôn chờ đợi chúng ta. Tốt nghiệp phổ thông, học một ngành đại học hay một nghề, ra trường có việc làm ổn định, xây đắp sự nghiệp, lo toan cuộc sống gia đình, đảm trách một nhiệm vụ trong xã hội,... tất cả đều là những việc trọng đại của con người. Vậy, có riêng gì anh học sinh ấy, trong đời, ai mà chẳng phải làm việc lớn? Anh ấy không thể lấy cớ “bận làm việc lớn” để né tránh những “việc nhỏ” mà anh có bổn phận phải làm, giống như mọi người.
Bên cạnh việc lớn, hằng ngày còn có bao nhiêu việc nhỏ chúng ta phải làm. Trong gia đình có những công việc ngỡ rất tầm thường, nhưng không thể không làm như quét dọn nhà cửa, cọ rửa ấm chén, lau chùi bàn ghế, tưới cây, chăm sóc vật nuôi,... Đến trường, không chỉ học tập, chúng ta còn phải tham gia những việc nhỏ như dọn vệ sinh lớp học, trồng cây trong vườn trường, thu gom rác thải nhựa,... Nếu người nào cũng cho rằng mình được sinh ra chỉ để làm việc lớn thì những việc nhỏ kia sẽ đùn đẩy cho ai? Con cái không tranh thủ đỡ đần, hẳn bố mẹ phải nai lung ra làm hết các việc sau khi đã bận rộn cả ngày ở cơ quan, trong công xưởng hay ngoài đồng ruộng. Trong lớp, mình chừa việc ra thì các bạn khác phải gánh vác. Tuyên bố rằng chỉ làm việc lớn, không làm việc nhỏ như anh bạn kia thực sự là biểu hiện của một thái độ thiếu trách nhiệm với gia đình hoặc với tập thể. Nói như thế còn là một cách biện minh cho sự biếng nhác đã thành thói quen.
Sử dụng lí lẽ và bằng chứng để thể hiện sự phản đối khía cạnh thứ hai của quan niệm.
Có một câu hỏi cần được trả lời: Việc nhỏ có phải là việc vô nghĩa không? Quả thật, đôi khi có người đã làm những việc không đưa lại bất cứ ích lợi gì. Không thể đánh đồng những trò tầm thường đó với những việc tuy nhỏ mà ý nghĩa lớn lao. Tôi đã đọc bài báo nói về chuyện ông Ni-nô-mi-gia (Ninomiya) - một doanh nhân người Nhật. Trong những ngày tháng làm việc ở Việt Nam, cứ mỗi sáng Chủ nhật, ông đến nhặt rác để làm sạch Hồ Gươm. Việc làm của ông Ni-nô-mi-gia có sức lan toả rất lớn. Từ chỗ một mình ông Ni-nô-mi-gia, thời gian sau đã có thêm hơn chục người nước ngoài cùng tham gia nhặt rác. Việc làm ấy đúng là rất nhỏ, nhưng ý nghĩa và sức tác động của nó thì không hề nhỏ chút nào.
Sử dụng lí lẽ và bằng chứng để thể hiện sự phản đối khía cạnh thứ ba của quan niệm.
Càng suy nghĩ, tôi càng thấy câu nói “Tôi chỉ làm việc lớn, việc nhỏ là việc vô nghĩa, tôi không thích làm" hoàn toàn không đúng. Sự lệch lạc trong nhận thức như vậy không chỉ cản trở chúng ta thể hiện trách nhiệm
Ý nghĩa của việc thể hiện ý kiến phản đối.
trước tập thể, cộng đồng, mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của bản thân. Đối thoại thẳng thắn với quan điểm này là một điều hết sức cần thiết, vì có như vậy chúng ta mới phân biệt được đúng sai trong suy nghĩ, từ đó, biết cách điều chỉnh, lựa chọn hành vi phù hợp. Mọi người ai cũng có quyền nghĩ đến những việc lớn và cố gắng cao nhất để thực hiện ước mơ của mình, nhưng hãy nhớ rằng, nhiều khi chính việc lớn được bắt đầu từ những việc nhỏ. Không ít tấm gương thành đạt trong cuộc sống đã cho ta bài học ấy.
(Bài làm của học sinh, có chỉnh sửa)
Thực hành viết theo các bước
1
TRƯỚC KHI VIẾT
a. Lựa chọn đề tài
Cần quan sát thực tế diễn ra hằng ngày (trực tiếp hoặc qua các phương tiện như ti vi, báo, đài,...) để nhận thấy, trong cuộc sống hiện nay, có những quan niệm chưa đúng đắn, tác động không tốt đến đời sống cộng đồng, cần bày tỏ thái độ phản đối. Em có thể tham khảo một số ý kiến sau đây để chọn đề tài cho bài viết của mình:
Mục đích viết
Phản đối quan niệm, cách hiểu không đúng về một vấn đề, nhằm góp phần tạo nên một sự thay đổi tích cực trong đời sống.
Người đọc
Thầy cô, bạn bè và những ai quan tâm đến vấn đề.
- Vệ sinh trường học là trách nhiệm của những người lao công đã được nhà trường trả lương.
- Có thể bỏ qua một số môn, chỉ nên học những môn mình yêu thích.
- Tắt thiết bị điện trong Giờ Trái Đất chỉ là việc làm hình thức, không có tác dụng, vì chẳng tiết kiệm điện được bao nhiêu.
- Sách giáo khoa bố mẹ đã bỏ tiền mua, trở thành sở hữu của mình, nếu muốn, mình có thể viết, vẽ vào đó.
b. Tìm ý
Sau khi chọn được để tài, cần tiến hành tìm ý bằng cách trả lời một số câu hỏi:
Vấn đề gì cần bàn luận ở bài viết?
Vấn đề cần bàn luận phải được nêu ra. Có thể giải thích thêm để người đọc nắm được thực chất của vấn đề. Ví dụ, cách nêu vấn để ở bài viết tham khảo: ““Tôi chỉ làm việc lớn, việc nhỏ là việc vô nghĩa, tôi không thích làm – đây là đề tài chúng tôi sẽ thảo luận trong mục “Mỗi tuần một câu chuyện vào chiều thứ Bảy tuần này".
Trước ý kiến trái ngược với quan điểm của bản thân, cần thể hiện ý kiến của mình như thế nào?
Nhận thức của người viết về tính đúng/ sai của một quan niệm, một ý kiến phải rõ ràng, dứt khoát. Nếu đúng, cần khẳng định; nếu sai, cần phản đối. Thái độ này phải được thể hiện rõ trong một ý. Ví dụ: Ở bài viết tham khảo, người viết nêu ý kiến: “Tôi biết trong lớp, không ít bạn có suy nghĩ giống như “tác giả” của câu nói trên. Theo tôi, câu nói đó đã bộc lộ một quan điểm thật khó chấp nhận".
Làm cách nào để ý kiến của mình thuyết phục được người đọc?
Ý kiến tán thành hay phản đối phải có cơ sở. Muốn người đọc hiểu được quan điểm của mình, cần trình bày thành ý rõ ràng, có lí lẽ và bằng chứng cụ thể, xác thực. Ví dụ, ở bài viết tham khảo, người viết đã lần lượt nêu ba ý phản đối:
+ Trên đời, ai cũng có việc lớn, không thể lấy cớ phải làm việc lớn để trốn tránh những việc nhỏ (lí lẽ, bằng chứng).
+ Không làm việc nhỏ hằng ngày trong gia đình và ở lớp học là biểu hiện của thái độ thiếu trách nhiệm và biếng nhác (lí lẽ, bằng chứng).
+ Đánh đồng việc nhỏ với việc vô nghĩa để từ chối nó là điều không thể chấp nhận (lí lẽ, bằng chứng).
c. Lập dàn ý
Sắp xếp các ý đã tìm được ở trên vào các phần của bài viết theo một trật tự hợp lí để có một dàn ý. Nhiệm vụ của từng phần được thể hiện rõ trong dàn ý.
Dàn ý
- Mở bài: Nêu được vấn đề nghị luận và bày tỏ ý kiến phản đối cách nhìn nhận về vấn đề.
Thân bài:
+ Ý 1. Trình bày thực chất của ý kiến, quan niệm đã nêu để bàn luận.
+ Ý 2. Phản đối các khía cạnh của ý kiến, quan niệm (lí lẽ, bằng chứng).
+ Ý 3. Nhận xét những tác động tiêu cực của ý kiến, quan niệm đối với đời sống (lí lẽ, bằng chứng).
Kết bài: Nêu ý nghĩa của việc thể hiện ý kiến phản đối.
2
VIẾT BÀI
Khi viết bài, em cần đặt dàn ý trước mặt để thường xuyên tự kiểm soát việc viết từng phần và triển khai từng ý.
- Mở bài: Nêu được vấn đề nghị luận. Có thể bắt đầu bằng một tình huống, một câu chuyện có liên quan hay giới thiệu trực tiếp vấn đề.
- Thân bài: Các ý chính cần được trình bày rành mạch, mỗi ý được triển khai trong một đoạn văn riêng, rõ ràng, mạch lạc; bằng chứng cụ thể, thuyết phục. Khi viết, cản chú ý mạch văn trôi chảy, kết nối các câu trong đoạn và các đoạn trong bài chặt chẽ, hợp lí. Tránh cách viết kể lể, rườm rà.
- Kết bài: Khẳng định lại ý nghĩa của việc bàn luận, giúp người đọc suy nghĩ đúng về vấn đề để có sự thay đổi tích cực trong nhận thức và hành động.
3
CHỈNH SỬA BÀI VIẾT
Đối chiếu bài viết với Yêu cầu đối với bài văn nghị luận về một vấn đề trong đời sống (trình bày ý kiến phản đối) và dàn ý để tự đánh giá mức độ đáp ứng của bài viết, từ đó chỉnh sửa theo các gợi ý sau:
Yêu cầu | Gợi ý chỉnh sửa
Nêu cụ thể vấn đề nghị luận và ý kiến cần phản đối. | Chỉnh sửa nếu thấy vấn đề nghị luận và ý kiến cần phản đối còn mơ hồ.
Trình bày rõ sự phản đối của người viết về ý kiến vừa nêu. | Diễn đạt cho rõ nếu thấy sự phản đối chưa được thể hiện rõ ràng.
Đưa ra được lí lẽ và bằng chứng để việc phản đối ý kiến có sức thuyết phục. | Củng cố lí lẽ nếu thấy chưa vững chắc, bổ sung bằng chứng nếu thấy còn thiếu.
Nêu được ý nghĩa của việc phản đối ý kiến trái ngược về vấn đề. | Bổ sung nếu thấy chưa nêu được ý nghĩa hoặc nêu chưa rõ.
Rà soát lỗi về từ ngữ, câu, đoạn văn, liên kết các câu và các đoạn, cách trình bày bài viết. | Sửa những lỗi phát hiện được.
Nói và nghe
Trình bày ý kiến về một vấn đề đời sống
Trước ý kiến về một vấn đề đời sống được bàn luận (liên quan đến chủ đề Trải nghiệm để trưởng thành), người nghe có thể tán thành hay phản bác. Thói quen trao đổi như thế là rất cần thiết. Được tán thành, người nói sẽ thấy tự tin hơn vì những điều mình trình bày có sức thuyết phục. Gặp sự phản bác, người nói cần kiểm tra lại ý kiến của mình, biết điều chỉnh nếu thấy chưa đúng và biết cách bảo vệ nếu thấy xác đáng.
1
TRƯỚC KHI NÓI
a. Chuẩn bị nội dung nói
Nội dung nói có thể dựa vào kết quả viết ở bài 6 hoặc bài 8 này. Theo đó, cần tóm lược bài viết thành một dàn ý.
Nắm vững vấn đề đời sống cần bàn luận và nội dung trình bày.
Dự kiến các tình huống người nghe có thể phản bác để có phương án tiếp thu và bảo vệ ý kiến.
Mục đích nói
Trình bày để người nghe hiểu đúng bản chất, thấy được ý nghĩa của vấn đề đối với đời sống, từ đó lựa chọn thái độ, cách ứng xử phù hợp.
Người nghe
Thầy cô, bạn bè và những ai quan tâm đến vấn đề.
Ghi nhanh một số lí lẽ, bằng chứng cần sử dụng.
b. Tập luyện
Đối với kiểu bài nói trình bày ý kiến về một vấn đề đời sống, hình thức tập luyện theo nhóm là thích hợp nhất. Cả nhóm đưa ra một số vấn đề đời sống cần bàn, thay nhau thể hiện các vai nói và nghe, phản bác và bảo vệ, tiếp thu, rút kinh nghiệm về kết quả thể hiện.
2
TRÌNH BÀY BÀI NÓI
Người nói | Người nghe
a. Trình bày ý kiến về vấn đề | a. Tiếp nhận và suy nghĩ về ý kiến của người nói
- Nêu vấn đề, nói rõ tầm quan trọng của vấn đề trong đời sống xã hội. | – Tập trung lắng nghe và ghi chép các ý cơ bản của bài nói, đối chiếu với sự chuẩn bị của mình để thấy những chỗ tương đồng và khác biệt trong ý kiến.
- Trình bày các khía cạnh để làm rõ thực chất vấn đề.
- Nêu ý kiến của bản thân về vấn đề (dùng lí lẽ và bằng chứng để thuyết phục người nghe). | – Ghi nhanh ý kiến trao đổi.
b. Bảo vệ ý kiến trước sự phản bác của người nghe | b. Nêu ý kiến trao đổi
- Tóm tắt ý kiến trao đổi, giải thích lại những chỗ người nghe chưa hiểu, dùng lí lẽ và bằng chứng làm rõ tính đúng đắn của ý kiến trình bày. | – Ý kiến cần trình bày ngắn gọn, rõ ràng, bằng câu khẳng định hoặc câu hỏi.
- Sẵn sàng trao đổi nếu người nghe tiếp tục thắc mắc, mục đích cuối cùng là để khẳng định sự xác đáng của ý kiến. | – Theo dõi phản hồi của người nói, trao đổi lại nếu thấy chưa thoả đáng, đồng tình nếu thấy ý kiến bảo vệ có sức thuyết phục.
3
SAU KHI NÓI
Người nói và người nghe cùng trao đổi để đánh giá và rút kinh nghiệm về một số mặt:
- Vấn đề đời sống được bàn luận có hấp dẫn và thiết thực không?
- Cách trình bày và cách bảo vệ ý kiến của người nói (nội dung, cách nói, giọng nói, các phương tiện phi ngôn ngữ, tính thuyết phục) đạt ở mức nào?
- Cách phản bác của người nghe (tính xác đáng của nội dung phản bác, cách nêu ý kiến phản bác, tiếp nhận ý kiến bảo vệ của người nói,...) có tác dụng tích cực với người nói không?
- Việc tổ chức thảo luận về các vấn đề đời sống, việc thể hiện rõ ràng thái độ tán thành hay phản bác những ý kiến đã phát biểu có ý nghĩa gì?
Củng cố, mở rộng
1
Những trải nghiệm trong cuộc sống có vai trò như thế nào đối với sự trưởng thành của mỗi người? (Dùng lí lẽ và bằng chứng trong các văn bản đọc để tìm câu trả lời.)
2
Chỉ ra những điểm giống nhau và khác nhau về cách nêu ý kiến, cách sử dụng lí lẽ và bằng chứng giữa hai văn bản Bản đồ dẫn đường và Hãy cầm lấy và đọc.
3
Hãy viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) về chủ đề Sách – người bạn đường.
4
Chọn trong văn bản Bản đồ dẫn đường một câu làm đề tài cho bài nói. Lập dàn ý bài nói và tập luyện cách trình bày.
5
Tìm đọc thêm hai văn bản nghị luận bàn về vấn đề đời sống. Ghi chép ngắn gọn thu hoạch của em đối với từng văn bản (về vấn đề được bàn luận, về cách sử dụng lí lẽ và bằng chứng).
Thực hành đọc
Khi đọc văn bản dưới đây, em cần chú ý những vấn đề sau:
- Những ý nghĩa phong phú của hình ảnh “con đường” và vai trò của cá nhân trong việc lựa chọn đường đi cho cuộc đời mình.
- Mối quan hệ giữa các ý kiến, lí lẽ, bằng chứng trong văn bản nghị luận.
Câu chuyện về con đường
ĐOÀN CÔNG LÊ HUY (1)
Không phải đợi đến lúc ngồi trước bộ hồ sơ thi đại học em mới nghĩ về con đường em đi. Con đường có ý nghĩa sớm hơn em tưởng. Ngay từ khi em còn nằm cuộn tròn trong bụng mẹ, em đã quẫy đạp để khao khát ra đường. Con đường là chúng nhân đợi chờ em lớn lên. Con đường trước ngõ cũng âm thầm mà tha thiết đứng chờ em thả những bước chân chập chững rời “góc sân và khoảng trời (2) nhà em. Rồi đường ngõ làng tiếp tục chờ em. Đường cái quan (3) chờ em. Giao lộ chờ em, những hải trình dài dằng dặc chờ em, những đường băng quốc tế mênh mông xứ người chờ em. Con đường là vạch xuất phát em rời tay mẹ bước đi và con đường là thước đo chân em dài đi vào tương lai.
Con đường mở ra văn minh nhân loại, là biểu tượng cho sự trưởng thành của một quốc gia. Đường bộ, đường thuỷ, đường ngầm trong lòng đất, đường trên cao, đường cao tốc, đường siêu tốc,... Từ đi bằng bốn chân, đến đi bằng hai chân, từ đi bằng hai chân, tay (chèo thuyền) đến đi bằng đầu óc, bằng trí tuệ (ô tô, máy bay, tàu vũ trụ,...), con người sẽ còn khám phá ra biết bao con đường mới, không một trở lực nào có thể ngăn cản được. Con đường trí tuệ bắt đầu từ những ngôi trường em đang ngồi học. Những kinh tuyến, vĩ tuyến mới, những nẻo đường ngang dọc mới đang chờ em đó.
(1) Đoàn Công Lê Huy sinh năm 1963, quê ở Thừa Thiên – Huế, tác giả của một số cuốn sách viết cho tuổi học trò như: Một chú bé và một người cha (2016), Những bàn tay vẫy những ngọn đèn ngoan (2016), Yêu xứ sở thương đồng bào (2016), Gửi em mây trắng (2016), Tôi muốn hỏi em: Về sau thế nào? (2018).
(2) Tên một tập thơ của Trần Đăng Khoa.
(3) Đường cái quan: từ dùng thời trước, chỉ đường tương đối rộng, làm trục giao thông chính giữa các địa phương trong nước.
“Đường và chân là đôi bạn thân”. Đó là lời bài hát em hát từ thời mẫu giáo. Đường không có chân sẽ không còn là con đường, là sự hoang vu cỏ dại lấp đầy sau tháng năm. Người không có đường sẽ chẳng đi về đâu cả. Con người và con đường. Đôi bạn này có chung một từ “con”. Sao không là “cái đường mà là “con đường ? Bởi chúng đều sống động và có linh hồn, chúng đều là những chuyển động có hướng. Ai cũng có kỉ niệm về “người bạn thân”, có nỗi nhớ về những con đường, về những “lối cũ ta về dường như nhỏ lại (1) khi ta đã rời xa...
Em biết không, còn có một con đường gắn chặt với số phận mỗi người. Ấy là “đường đời”. Dẫu là anh em, chị em sinh đôi, khuôn mặt giống nhau như hai giọt nước, thì đường đời của từng người cũng vẫn khác nhau. Con đường này vô hình, không thể vẽ ra giấy, không tính được bằng những đơn vị đo thông thường, không tạo nên bằng các vật liệu xây dựng mà người ta thường dùng cho những con đường chúng ta đi lại hằng ngày. Mỗi người phải tự “thi công” đường đời của chính mình, “vật liệu” là sức lực, trí tuệ và ý chí của bản thân. Trên con đường ấy, mỗi trải nghiệm là một bước trưởng thành. Sự nâng đỡ, dìu dắt không bao giờ là yếu tố quyết định thành công. Có bao giờ em tự hỏi: Sau này mình sẽ là ai? Những gì đang chờ đợi mình phía trước? Em không tự trả lời được, cũng như không ai có thể trả lời câu hỏi đó giúp em. Nhưng có một điều chắc chắn, để đi đến đích, em sẽ phải trải qua không ít thử thách, gian nan. Những lúc như vậy, hãy luôn nhớ rằng, “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông (2).
Hai mươi tuổi, chàng thanh niên Lỗ Tấn (3) du học ở Nhật. Ông theo học ngành Y. Tình cờ ông được xem một đoạn phim thời sự, trong đó có cảnh một người Trung Quốc bị người Nhật hành hình, trong lúc những người Trung Quốc khoẻ mạnh khác đứng xem, vẻ mặt đần độn, không phản ứng gì. Ông lập tức bỏ học nghề Y năm thứ 2 và chuyển sang viết văn. Bởi ông nhận thấy học chữa bệnh không quan trọng, bởi dân mà còn ngu muội, hèn nhát thì dù thân thể có khoẻ mạnh cũng chỉ là nô lệ mà thôi. Từ đó, ông muốn dùng ngòi bút để chữa bệnh tật trong tính cách dân tộc. Chính chàng trai kiệt xuất này là tác giả của câu nói nổi tiếng để khích lệ những người mở đường: “Kì thực trên mặt đất vốn làm gì có đường, người ta đi mãi rồi thành đường thôi”.
(Đoàn Công Lê Huy, Giri em mây trắng, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2016, tr. 7-12,
Đoàn Công Lê Huy chỉnh lí năm 2021)
(1) Lời bài hát Lối cũ ta về của nhạc sĩ Thanh Tùng.
(2) Câu nói nổi tiếng của nhà văn Nguyễn Bá Học (1857-1921).
(3) Lỗ Tấn (1881-1936): nhà văn Trung Quốc.
Xem bản PDF nguyên trang sách: Ngữ văn 7 tập 2 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 54–75).
