Yêu cầu cần đạt
- Nhận biết được một số yếu tố của truyện ngụ ngôn: để tài, tình huống, cốt truyện, nhân vật, chủ đề.
- Nhận biết được một số yếu tố của tục ngữ: số lượng câu, chữ; vần.
- Hiểu được đặc điểm và chức năng của thành ngữ, đặc điểm và tác dụng của biện pháp tu từ nói quá.
- Bước đầu biết viết bài văn nghị luận về một vấn đề trong đời sống, trình bày rõ vấn đề và ý kiến của người viết; đưa ra lí lẽ rõ ràng và bằng chứng đa dạng.
- Biết kể lại một truyện ngụ ngôn: kể đúng cốt truyện gốc, có cách kể chuyện linh hoạt, hấp dẫn.
- Có ý thức học hỏi kinh nghiệm, trí tuệ của dân gian hay của người xưa để rèn các đức tính: khiêm tốn, cẩn trọng, kiên trì, nhân nghĩa, có trách nhiệm.
Thuật ngữ: Truyện ngụ ngôn · Tục ngữ · Thành ngữ · Nói quá
Học ăn, học nói, học gói, học mở.
(Tục ngữ)
Giới thiệu bài học
- Tục ngữ có câu: Đi một ngày đàng, học một sàng khôn. Đúng vậy, không chỉ học
ở nhà trường, chúng ta còn học hỏi được nhiều điều trong cuộc sống: học qua những
chuyến đi; học từ việc tiếp xúc với những người từng trải, hiểu biết; học ở cuốn sách
ta đọc, bộ phim ta xem;... Chúng ta học suốt đời nhờ những nguồn “tài liệu” vô tận đó.
- Đến với bài học này, em sẽ được làm quen và tìm hiểu hai thể loại sáng tác ngôn
từ: truyện ngụ ngôn và tục ngữ. Đi sâu tìm hiểu những câu chuyện ngắn gọn mà sâu
sắc, những lời nói thường có vần, nhịp nhàng, cân đối, đúc kết bao nhiêu tri thức về
mọi mặt của đời sống, em sẽ thấy có những điều thật mới mẻ, bổ ích.
Nhận biết được một số yếu tố của truyện ngụ ngôn: để tài, tình huống, cốt truyện,
nhân vật, chủ đề.
Hiểu được đặc điểm và chức năng của thành ngữ, đặc điểm và tác dụng của
biện pháp tu từ nói quá.
Bước đầu biết viết bài văn nghị luận về một vấn đề trong đời sống, trình bày
rõ vấn đề và ý kiến của người viết; đưa ra lí lẽ rõ ràng và bằng chứng đa dạng.
Biết kể lại một truyện ngụ ngôn: kể đúng cốt truyện gốc, có cách kể chuyện
linh hoạt, hấp dẫn.
Có ý thức học hỏi kinh nghiệm, trí tuệ của dân gian hay của người xưa để rèn
các đức tính: khiêm tốn, cẩn trọng, kiên trì, nhân nghĩa, có trách nhiệm.
Tri thức ngữ văn
Đọc
Truyện ngụ ngôn là hình thức tự sự cỡ nhỏ, trình bày những bài học đạo lí và
kinh nghiệm sống, thường sử dụng lối diễn đạt ám chỉ, ngụ ý, bóng gió.
Một số đặc điểm của truyện ngụ ngôn
- Truyện ngụ ngôn thường ngắn gọn, được viết bằng văn xuôi hoặc thơ.
Nhân vật ngụ ngôn có thể là con người hoặc con vật, đồ vật được nhân hoá (có
đặc điểm như con người).
- Truyện ngụ ngôn thường nêu lên những tư tưởng, đạo lí hay bài học cuộc sống bằng
ngôn ngữ giàu hình ảnh, có thể pha yếu tố hài hước.
Tục ngữ thuộc loại sáng tác ngôn từ dân gian, là những câu nói ngắn gọn, nhịp nhàng,
cân đối, thường có vần điệu, đúc kết nhận thức về tự nhiên và xã hội, kinh nghiệm về
đạo đức và ứng xử trong đời sống.
Thành ngữ là một loại cụm từ cố định, có nghĩa bóng bẩy. Nghĩa của thành ngữ
là nghĩa toát ra từ cả cụm từ, chứ không phải được suy ra từ nghĩa của từng thành tố.
Nói quá là biện pháp tu từ phóng đại tính chất, quy mô của đối tượng để nhấn mạnh,
tăng sức biểu cảm hoặc gây cười.
VĂN BẢN 1. Đẽo cày giữa đường (Ngụ ngôn Việt Nam)
VĂN BẢN 2. Ếch ngồi đáy giếng (Trang Tử)
VĂN BẢN 3. Con mối và con kiến (Nam Hương)
VĂN BẢN 4. Một số câu tục ngữ Việt Nam
VĂN BẢN 5. Con hổ có nghĩa (Vũ Trinh)
Văn bàn truyện ngụ ngôn
Trước khi đọc
1.
Kể một câu chuyện em được đọc (nghe) hoặc một sự việc em chứng kiến
(tham gia) đã để lại cho em bài học sâu sắc. Bài học em rút ra được từ câu chuyện
hoặc sự việc đó là gì?
2.
Hãy chia sẻ cách hiểu của em về câu nói: “Anh ta nhận ra mình chỉ là ếch ngồi
đáy giếng mà thôi”.
Đọc văn bản
Đẽo cày giữa đường
Xưa có một người thợ mộc bỏ ra ba trăm quan ( ) tiền
mua gỗ về để làm cái nghề đẽo cày mà bán.
Số tiền người thợ mộc bỏ ra
mua gỗ.
Cửa hàng anh ta mở bên đường. Ai qua đó cũng ghé
vào coi. Người này thì nói: “Phải đẽo cày cho cao, cho
to, thì mới dễ cày”. Anh ta cho là phải, đẽo cày vừa to
vừa cao. Người khác lại nói: “Có đẽo nhỏ hơn, thấp hơn
thì mới dễ cày”. Anh ta cho là phải, lại đẽo cày vừa nhỏ,
vừa thấp. Sau lại có người bảo: “Nay ở trên ngàn 2 , hiện
có người đang phá hoang (3) bao nhiêu đồng ruộng và
cày tinh bằng voi cả. Nếu đẽo cày cho thật cao, thật to gấp đôi gấp ba thế này để
voi cày được, bày ra hàng bán thì chắc là bán được nhiều lắm, mà rồi lãi vô vàn”.
Người thợ mộc nghe nói, liên đẽo ngay một lúc bao nhiêu cày to gấp năm, gấp bảy
thứ thường bày ra bán.
Hành động của người thợ mộc
mỗi khi nhận được lời khuyên
của người qua đường.
(1) Quan: đơn vị tiền tệ thời xưa.
(2) Ngàn: rừng, vùng rừng.
(3) Phả hoang, khai khẩn đất tự nhiên làm đất cày cấy, trồng trọt (hoặc phục vụ cho những nhu cầu khác của con người).
(4) Tinh: toàn, hoàn toàn.
Nhưng qua bao nhiêu ngày tháng, chẳng thấy ai đến
mua cho một cái nào, cũng chẳng thấy ai nói voi đi cày
ruộng cả. Thành ra có bao nhiêu gỗ hỏng bỏ hết và bao
nhiêu vốn liếng đi đời nhà ma(1) sạch.
Vì sao người thợ mộc không
bán được cày?
Người thợ mộc bây giờ mới biết dễ nghe người là dại. Nhưng quá muộn rồi,
không sao chữa được nữa!
Bởi chuyện này mới có thành ngữ: “Đẽo cày giữa đường”, để nói những người
hay để tai nghe làm theo thiên hạ đến nỗi mất cả cơ nghiệp.
(Theo Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc, Truyện cổ nước Nam, tập I,
Thăng Long, 1958, tr. 101-102)
Ếch ngồi đáy giếng
TRANG TỬ (2)
Một con ếch nhỏ ngồi trong một cái giếng sụp nói
với một con rùa lớn biển đông (3): “Tôi sung sướng quá,
tôi có thể ra khỏi giếng, nhảy lên miệng giếng, rồi lại
giếng, ngồi nghỉ trong những kẽ gạch của thành
giếng. Bơi trong nước thì nước đỡ nách và cằm tôi, nhảy
xuống bùn thì bùn lấp chân tôi tới mắt cá. Ngó lại phía
sau, thấy những con lăng quăng, con cua, con nòng nọc,
không con nào sướng bằng tôi. Vả lại một mình chiếm
một chỗ nước tụ, tự do bơi lội trong một cái giếng sụp,
còn vui gì hơn nữa? Sao anh không vô giếng tôi một lát
coi cho biết?
Sự khác nhau về môi trường
sống của ếch và rùa.
Những điều khiến ếch cảm thấy
sung sướng.
(1) Đi đời nhà ma: chết; mất, mất hết (cách nói thông tục, hàm ý chế giễu).
(2) Trang Tử (khoảng năm 369 - 286 trước Công nguyên) là một triết gia nổi tiếng của Trung Quốc. Cuốn sách
Trang Tử (tên gọi khác: Nam Hoa kinh) của ông vừa chứa đựng những tư tưởng triết học uyên bác, vừa đậm chất
văn chương với nhiều mẩu chuyện sinh động, mang tính ngụ ngôn sâu sắc. Truyện Ếch ngồi đáy giếng trích trong
thiên Thu thuỷ (thiên thứ 17) của sách Trang Tử.
(3) Biển đông: biển ở phía đông.
(4) Vô: vào.
(5) Lăng quăng: con bọ gậy, ấu trùng của muỗi.
Con rùa biển đông vừa mới muốn đút cái chân bên trái vô giếng thì thấy không còn
chỗ vì cái đùi bên phải đã bít cái giếng rồi. Nó từ từ rút chân ra, lùi lại, bảo con ếch:
- Biển đông mênh mông, ngàn dặm đã thấm gì, sâu thăm thẳm, ngàn nhẫn đã
thấm gì. Thời vua Vũ , cứ mười năm thì chín năm lụt, vậy mà mực nước ở biển
không lên. Thời vua Thang, tám năm thì bảy năm hạn hán, vậy mà bờ biển không
lùi ra xa. Không vì thời gian ngắn hay dài mà thay đổi, không vì mưa nhiều hay ít
mà tăng giảm, đó là cái vui lớn của biển đông.
Biểu hiện của ếch khi được
nghe về biển.
Con ếch trong cái giếng sụp nghe vậy ngạc nhiên, thu
mình lại, hoảng hốt, bối rối.
(Trang (Trang Tít Từ và và Nam Nam B Hoa kinh, Nguyễn Hiến Lê giới thiệu và chủ địch,
NXB Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 1994, tr. 337)
Con mối và con kiến
NAM HƯƠNG (4)
Con mối trong nhà trông ra
Thấy một đàn kiến đang tha cái mồi
Mối gọi bảo: “Kiến ơi các chú
Tội tình gì lao khổ lắm thay!
Mối có thái độ như thế nào
khi thấy kiến làm việc vất vả?
(1) Nhẫn: đơn vị đo độ dài thời cổ, bằng khoảng 1,8 m.
(2) Vũ: Hạ Vũ, một vị vua trong truyền thuyết của Trung Quốc.
(3) Thang: Thành Thang, một vị vua trong truyền thuyết của Trung Quốc.
(4) Nam Hương (1899-1960) quê ở Hà Nội, sáng tác nhiều thơ ngụ ngôn, được in trong các tập: Gương thế sự
(1920), Ngụ ngôn mới (1935), Thơ ngụ ngôn (1937),... Ngoài ra, ông còn có tập thơ Bài hát trẻ con (1936) dành
cho thiếu nhi.
Làm ăn tìm kiếm khắp ngày
Mà sao thân thể vẫn gầy thế kia
Chúng ta đây chẳng hề khó nhọc
Mà ồ béo trục béo tròn
Ở ăn ghế chéo bàn tròn
Nhà cao cửa rộng, tủ hòm thiểu đâu?”
Kiến rằng: “Trên địa cầu muôn loại
Hễ có làm thì mới có ăn
Sinh tồn là cuộc khó khăn
Vì đàn vì tổ nên thân gầy gò.
Các anh chẳng vun thu(3) xứ sở (4)
Cứ đục vào chỗ ở mà xơi
Đục cho rỗng hết mọi nơi
Nhà kia đổ xuống đi đời các anh”.
Kiến tỏ thái độ ra sao về
lối sống của mối?
Lối sống của mối gây ra
hậu quả nghiêm trọng như
thế nào?
(Tuyền tập văn học dân gian Việt Nam, tập III,
Nguyễn Cừ - Phan Trọng Thương biên soạn và tuyển chọn,
NXB Giáo dục, 1999, tr. 805)
(1) ể: (dáng người) béo mập và chậm chạp (nghĩa trong văn bản).
2) Ghế chéo: ghế chân chéo, có lưng tựa.
(3) Vun thu: vun vén, thu xếp, chăm lo.
(4) Xứ sở: nơi ở, quê hương, đất nước.
Sau khi đọc
Trả lời câu hỏi
1.
Người thợ mộc trong truyện Đẽo cày giữa đường đã xử sự thế nào trước mỗi lời
khuyên, khiến công sức và của cải “đi đời nhà ma”?
2.
Nếu là người thợ mộc trong câu chuyện này, em sẽ làm gì trước những lời khuyên
như vậy?
3.
Những điều gì làm cho con ếch trong truyện Ếch ngồi đáy giếng cảm thấy sung sướng?
4.
Hãy chỉ ra những điểm khác biệt về môi trường sống của ếch và rùa. Sự khác biệt
đó ảnh hưởng như thế nào đến nhận thức và cảm xúc của hai con vật?
5.
Vì sao con ếch “ngạc nhiên, thu mình lại, hoảng hốt, bối rối”?
6.
Trong truyện Con mối và con kiến, quan niệm sống của mối và kiến bộc lộ như thế
nào qua các lời thoại của chúng?
7.
Theo em, thiện cảm của người kể chuyện được dành cho mối hay cho kiến? Vì sao
em khẳng định như vậy?
8.
Nêu những điểm giống nhau về nội dung của ba truyện ngụ ngôn: Đẽo cày giữa đường,
Ếch ngồi đáy giếng, Con mối và con kiến.
Viết kết nối với đọc
Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) có sử dụng thành ngữ đẽo cày giữa đường.
Thực hành tiếng Việt
THÀNH NGỮ
1 Chỉ ra và giải nghĩa thành ngữ trong các
câu sau:
a. Tất cả những cái đó cám dỗ tôi hơn là
quy tắc về phân từ; nhưng tôi cưỡng lại được,
và ba chân bốn cẳng chạy đến trường.
(An-phông-xơ Đô-đê (Alphonse Daudet),
Buổi học cuối cùng)
b. Lại có khi tôi cảm thấy mình dũng mãnh
đến nỗi dù có phải chuyển núi dời sông tôi
cũng sẵn sàng.
(Trin-ghi-dơ Ai-tơ-ma-tốp,
Người thầy đầu tiên)
- Đọc hai câu sau và chú ý các cụm từ
in đậm:
(1) Kẻ hầu người hạ ra vào tới tấp,
bưng lên cho khách toàn sơn hào hải vị,
mùi thơm nức mũi. (Vua chích choè)
(2) Mọi người trong làng luôn đoàn kết,
sẵn sàng chia ngọt sẻ bùi cho nhau.
Ba cụm từ in đậm trong các câu trên đều
là những tổ hợp có cấu tạo chặt chẽ.
Nghĩa của mỗi cụm từ đều hàm súc, có
tính hình tượng. Đó là nghĩa chung của
cả cụm từ chứ không phải là tổng số nghĩa
của các từ. Kẻ hầu người hạ, sơn hào hải
vị, chia ngọt sẻ bùi là các thành ngữ.
Là một loại cụm từ đặc biệt, nhiều khi
cách kết hợp các từ trong thành ngữ
không theo quy tắc thông thường, chẳng
hạn: cao chạy xa bay, con ông cháu cha,
nhường cơm sẻ áo, thượng cẳng chân hạ
cẳng tay ...
- Đọc các câu sau và tìm hiểu chức năng
của thành ngữ:
(3) Cô đem lòng yêu, có của ngon vật lạ
đều giấu đem lên cho. (Sọ Dừa)
(4) Lần này hai đội lại gặp nhau, chưa biết
mèo nào cắn mỉu nào.
Ở câu (3), của ngon vật lạ có nghĩa là
những thức ăn ngon, quý hiếm; ở câu (4),
chưa biết mèo nào cắn mỉu nào có nghĩa
là chưa biết ai thắng ai thua. Việc dùng
thành ngữ giúp cho câu trở nên súc tích,
bóng bẩy, gợi nhiều liên tưởng.
2
Thử thay thành ngữ (in đậm) trong các
câu sau bằng từ ngữ có ý nghĩa tương
đương, rồi rút ra nhận xét:
a. Thành ra có bao nhiêu gỗ hỏng bỏ hết và
bao nhiêu vốn liếng đi đời nhà ma sạch.
(Đẽo cày giữa đường)
b. Giờ đây, công chúa là một chị phụ bếp,
thôi thì thượng vàng hạ cám, việc gì cũng
phải làm.
(Vua chích choè)
3
Nhận xét về việc sử dụng thành ngữ
đẽo cày giữa đường ở hai trường hợp sau:
a. Anh làm việc này chắc nhiều người góp
cho những ý kiến hay. Khác gì đẽo cày
giữa đường.
b. Chín người mười ý, tôi biết nghe theo ai
bây giờ? Thật là đẽo cày giữa đường.
4.
Hãy đặt 4 câu, mỗi câu sử dụng một
trong các thành ngữ sau:
a. Học một biết mười
b. Học hay, cày biết
c. Mở mày mở mặt
d. Mở cờ trong bụng
Trước khi đọc
1.
Khi trò chuyện với người khác, đã bao giờ em dùng tục ngữ chưa? Em hãy lí giải
về thực tế đó của bản thân.
2.
Theo em, vì sao người ta lại dùng tục ngữ trong một số tình huống giao tiếp
thường ngày?
Đọc văn bản
Một số câu tục ngữ Việt Nam
Gió heo may, chuồn chuồn bay thì bão.
Kiến cánh vỡ tổ bay ra
Bão táp mưa sa gần tới.
Mây kéo xuống biển thì nắng chang chang,
mây kéo lên ngàn thì mưa như trút.
Đêm tháng Năm chưa nằm đã sáng
Ngày tháng Mười chưa cười đã tối.
Nắng chóng trưa, mưa chóng tối.
Nhất nước, nhì phân, tam cần , tử giống.
Nắng tốt dưa, mưa tốt lúa.
Làm ruộng ba năm không bằng chăn tằm một lứa.
Người sống hơn đống vàng.
Đói cho sạch, rách cho thơm.
Không thầy đố mày làm nên.
Học thầy chẳng tày
học bạn.
Muốn lành nghề, chở nề 3) học hỏi.
Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.
Những chủ để được thể hiện
qua các câu tục ngữ.
Nét chung nhất về hình thức
của các câu tục ngữ.
(Nguyễn Xuân Kính (Chủ biên) – Nguyễn Thuý Loan - Phan Lan Hương - Nguyễn Luân,
Kho tàng tục ngữ người Việt, tập 1 và tập 2,
NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2002)
(1) Cần: siêng năng, chăm chỉ.
(2) Tày: bằng.
(3) Nổ: ngại (nghĩa trong văn bản).
Sau khi đọc
Trả lời câu hỏi
1.
Tìm hiểu số tiếng trong những câu tục ngữ trên, từ đó rút ra nhận xét chung về
độ dài của tục ngữ.
2.
Trong 15 câu tục ngữ ở trên, những câu nào có gieo vần? Việc gieo vần như vậy
có tác dụng gì?
3.
Câu tục ngữ nào trong bài học này có hình thức của một thể thơ quen thuộc, được
dùng rất nhiều trong ca dao của người Việt? Nêu thêm hai câu tục ngữ có hình thức
tương tự.
4.
Tính chất cân đối trong cấu trúc ngôn từ được thể hiện như thế nào ở những câu
tục ngữ trên? Việc tạo nên sự cân đối trong cấu trúc của một câu tục ngữ có tác
dụng gì?
5.
Có thể phân chia các câu tục ngữ trên vào những chủ đề nào?
6.
Chỉ ra những câu tục ngữ thể hiện ý nghĩa một cách trực tiếp, những câu tục ngữ
thể hiện ý nghĩa qua hình ảnh có tính chất ẩn dụ.
7.
Ý nghĩa của câu tục ngữ số 11 và 12 có loại trừ nhau không? Em rút ra được bài
học gì từ hai câu tục ngữ đó?
8.
Vì sao nhiều câu tục ngữ về đời sống xã hội ra đời từ thuở xưa mà vẫn còn giá trị
đối với con người ngày nay?
Viết kết nối với đọc
Ghi lại một cuộc đối thoại (giả định) giữa hai người (khoảng 5 – 7 câu), trong đó,
một người có dùng câu tục ngữ: Muốn lành nghề, chớ nể học hỏi.
Thực hành tiếng Việt
BIỆN PHÁP TU TỪ
1 Chỉ ra và phân tích tác dụng của
biện pháp tu từ nói quá trong những
câu tục ngữ sau:
a. Đêm tháng Năm chưa nằm đã sáng
Ngày tháng Mười chưa cười đã tối.
b. Ngày vui ngắn chẳng tày gang.
c. Thuận vợ thuận chồng tát bể đông
cũng cạn.
Biện pháp tu từ nói quá có đặc điểm:
luôn phóng đại tính chất, quy mô của sự
vật, hiện tượng được nói đến.
Ví dụ:
Con rận bằng con ba ba
Đêm nằm nó ngáy cả nhà thất kinh.
(Ca dao)
2
Cho biết trong những câu sau, câu nào
là nói quá, câu nào là nói khoác. Từ đó, nêu
sự khác nhau giữa nói khoác và nói quá.
a. Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.
(Ca dao)
b. Trời nóng quá, mồ hôi nhỏ xuống ướt sũng
cả sàn nhà.
c. Đời người có một gang tay
Ai hay ngủ ngày còn có nửa gang.
(Ca dao)
d. Bài văn này tôi chỉ làm vèo trong năm phút,
thế mà vẫn viết được ba trang.
Ở câu ca dao này, độ lớn của con rận
và tác động của tiếng ngáy mà nó phát
ra là không thể tin được, vì đã được
phóng đại đến mức phi lí.
Biện pháp tu từ nói quá có tác dụng:
gây ấn tượng đặc biệt, tăng sức biểu
cảm hoặc gây cười.
Ví dụ:
(1) Dời non lấp biển (Thành ngữ)
(2) Làm trai cho đáng nên trai
Khom lưng chống gối gánh hai hạt vừng.
(Ca dao)
Thực tế cho thấy, dời non lấp biển là
việc quá lớn, phi thường. Nói quá như
ở câu (1) nhằm để cao ý chí hoặc thể
hiện sự khâm phục trước những kì tích
của con người. Câu (2) vẽ nên một tình
huống hài hước: cái gọi là sự nghiệp
“lớn lao của kẻ làm trai ở đây rốt cục
chỉ thể hiện ở chỗ cố gắng làm sao để
gánh cho nổi hai hạt vừng. Nói quá như
thế là để chế nhạo cái vô tích sự của
đối tượng.
3
Hãy đặt 4 câu, mỗi câu sử dụng một
trong các cụm từ có biện pháp tu từ nói quá
sau đây:
a. buồn nẫu ruột
b. rụng rời chân tay
c. cười vỡ bụng
d. mệt đứt hơi
Con hổ có nghĩa
Vũ trinh (1)
Huyện Đông Triều có bà đỡ
là bà Trần. Một đêm bà nghe tiếng gõ cửa, bèn
mở cửa nhìn khắp xung quanh mà chẳng thấy ai. Đột nhiên, có con hổ chồm tới cõng
bà đi. Ban đầu, bà sợ chết khiếp. Sau đó, bà tỉnh táo lại, thấy hỗ dùng một chân trước
ôm bà chạy như bay, gặp bụi rậm gai góc thì dùng một chân rẽ lối, từ từ mà đi. Tới chỗ
(1) Vũ Trinh (1759 1828) người làng Xuân Lan, huyện Lương Tài, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc (nay là thôn
Ngọc Quan, xã Lâm Thao, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh). Ông sáng tác cả thơ (Cung oán thi tập, Sử Yên thi tập...)
và văn xuôi (Lan Trì kiến văn lục). Lan Trì kiến văn lục là một trong những tác phẩm đỉnh cao của thể loại
truyện truyền kì Việt Nam thời trung đại. Văn bản Con hổ có nghĩa là truyện thứ 8 trong 45 truyện ngắn viết bằng
chữ Hán trong Lan Trì kiến văn lục.
(2) Huyện Đông Triều: địa phương ở vùng đông bắc Bắc Bộ.
(3) Bà đỡ người phụ nữ làm nghề đỡ đẻ.
ngọn núi sâu trong rừng, hổ thả bà xuống. Bà lại thấy một con hổ cái đang cào đất, lăn
lộn. Bà cho là hỗ định ăn thịt mình, sợ hãi không dám động đậy. Hỗ đực dùng chân
chỉ dẫn bà nhìn hổ cái và chảy nước mắt. Bà thấy như có cái gì động đậy trong bụng
hổ cái, biết là nó sắp đẻ. Sẵn có thuốc kích đẻ trong dải ảo, bà bèn hoà với nước suối
cho nó uống. Cảm thấy hổ cái đỡ đau, bà lại xoa bóp bụng cho nó. Lát sau thì hổ sinh
con. Bà thấy hỗ đực mừng rỡ đùa giỡn với con mình, còn hổ cái thì nằm phục xuống,
dáng mệt mỏi lắm. Hỗ đực rời khỏi gốc cây, đến bên bà đỡ, quỳ chân trước trên đất,
vừa quỷ vừa nhìn bà, lát sau đưa ra một khối bạc. Bà biết hỗ tặng mình, nhận lấy và
buộc vào thắt lưng. Hỗ đực từ từ đứng dậy, vừa đi vừa ngoái nhìn bà. Bà theo hổ ra
khỏi rừng. Lúc rời khỏi khu rừng, trời
sắp sáng, bà giơ tay nói: “Xin chúa
sơn lâm quay về”. Hỗ bèn dừng lại
quỳ xuống, hướng về bà đỡ cúi đầu
quẫy đuôi tỏ ý tiễn biệt. Bà đi khá xa,
hổ mới gầm lớn rồi rời đi. Bà về đến
nhà, bỏ bạc ra cân được hơn mười
lạng (1). Năm ấy mất mùa, bà nhờ có số
bạc ấy mà sống qua được.
Huyện Lạng Giang (2) có một người tiều phu³ nọ đang kiếm củi ở chân núi. Từ
xa thấy cây cối trong thung lũng phía trước ngọn núi lay động không ngớt, bác tiều
mới vác búa đến xem. Bác ngó quanh thì thấy một con hổ trán trắng, to như con bò,
khi thi cúi đầu cảo đất, khi thì nhảy lên vật xuống, thỉnh thoảng lấy chân móc họng,
miệng ngoác lớn như cái sàng, máu chảy lênh láng. Bác tiều phu thấy miệng hổ có
khúc xương mắc trong họng. Bàn chân hỗ móng vuốt lớn, càng móc, khúc xương
càng vào sâu. Bác tiều chậm rãi uống rượu lấy can đảm, rồi trèo lên cây hô lên
rằng: “Cổ họng ngươi đau phải không? Đừng cắn ta, ta sẽ lấy xương ra cho ngươi”.
Hổ nghe thấy, nằm phục xuống, há miệng hướng về bác tiểu như cầu cứu. Bác
tiểu trèo xuống, thò tay vào cổ họng hổ, lấy ra một chiếc xương bò to như cánh tay.
Hổ liếm mép, vừa bỏ đi vừa nhìn khuôn mặt bác tiều. Bác tiều hô lớn: “Nhà ta ở thôn
ấy, hễ được miếng ngon thì nhớ nhau nhé”. Bác tiều ra về được mấy hôm, nửa đêm
nghe thấy ngoài cửa có tiếng kêu rất dữ dội. Sáng hôm sau mở cửa, bác tiểu thấy có
một con hươu chết ở đó. Nhiều năm sau, bác tiều qua đời. Lúc sắp chôn, một con hổ
bỗng nhiên đến trước mộ. Những người đưa đám bỏ chạy, từ xa thấy hổ dùng đầu dụi
vào quan tài, gầm gừ, gào lớn, đi quanh quan tài vài vòng rồi bỏ đi. Về sau, mỗi dịp
đến ngày giỗ bác tiều, hỗ lại đưa hươu, lợn đến để ở ngoài cửa, mấy chục năm liền.
(Dương Tuấn Anh địch, tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, tháng 5/2021, tr. 47-49)
(1) Lạng: đơn vị đo khối lượng thời xưa, xấp xỉ bằng 37,8 g.
(2) Huyện Lạng Giang: nay thuộc tỉnh Bắc Giang.
(3) Tiều phư người làm nghề đốn củi.
Sau khi đọc
Trả lời câu hỏi
1.
Các con hổ đã được bà đỡ Trần và bác tiều phu giúp đỡ như thế nào?
2.
Hổ đã làm những gì để tri ân người giúp đỡ mình?
3.
Em cảm nhận được điều gì về tiếng gầm của hai con hổ ở phần cuối mỗi câu chuyện?
4.
Mượn hình tượng con hổ có nghĩa, tác phẩm đã gửi gắm bài học đạo lí nào cho
con người?
5.
Việc tác giả ghép hai câu chuyện khác nhau vào trong cùng một văn bản có ý nghĩa
gì? Theo em, nếu bớt đi một câu chuyện, ý nghĩa của văn bản có thể bị ảnh hưởng
như thế nào?
6.
Nêu cảm nghĩ về một chi tiết em thấy ấn tượng nhất trong truyện.
Viết
Viết bài văn nghị luận về một vấn đề trong đời sống (trình bày ý kiến tán thành)
Các vấn đề trong đời sống luôn đa dạng, phức tạp và thường được đánh giá khác
nhau, tuỳ cách nhìn nhận của mỗi người. Sự trung thực của con người thể hiện ở thái
độ biết tán thành những ý kiến đúng, phản đối những ý kiến sai trái. Phần Viết của bài
học này yêu cầu em bàn luận về một vấn đề trong đời sống, theo hướng trình bày ý
kiến tán thành. Sự tán thành dĩ nhiên phải được đặt trên cơ sở những nguyên tắc ứng
xử và nền tảng đạo lí thích hợp, cũng như sức thuyết phục của ý kiến tuỳ thuộc vào
những lí lẽ và bằng chứng được sử dụng.
- Nêu được vấn đề và ý kiến cần bàn luận.
Trình bày được sự tán thành đối với ý kiến cần bàn luận.
Đưa ra được những lí lẽ rõ ràng và bằng chứng đa dạng để chứng tỏ sự tán thành
là có căn cứ.
Phân tích bài viết tham khảo
Trường học đầu tiên
Tuần trước, cô giáo đã tổ chức cho lớp tôi thảo luận
về đề tài: “Vai trò của gia đình đối với sự trưởng thành
của mỗi người”. Các bạn, mỗi người một ý, bàn luận
Nêu vấn đề nghị luận.
rất sôi nổi. Tôi nhớ, ý kiến của Hồng Minh đã gây ra một
cuộc tranh luận nhỏ khá thú vị. Bạn ấy cho rằng: “Gia đình
cũng là một trường học”. Sau khi nghe Hồng Minh
trình bày, có bạn phản đối: “Nếu vậy thì còn đâu sự phân biệt gia đình và nhà trường
nữa, trong khi gia đình – nhà trường – xã hội là ba môi trường khác nhau”. Lại
có người chất vấn: “Hồng Minh nghĩ sao về những bạn có hoàn cảnh thiệt thòi,
cơ nhỡ vì không được lớn lên trong một mái ấm gia đình?”.
Nêu ý kiến đáng quan
tâm về vấn đề.
Riêng tôi, sau khi suy nghĩ kĩ, tôi thấy Hồng Minh
hoàn toàn có lí.
Người viết tán thành ý
kiến đã nêu.
Đúng là trong cuộc sống, có những người kém may
mắn, vì lí do nào đó mà ngay từ thuở ấu thơ, họ đã không
được nuôi nấng, chăm sóc bởi bàn tay của những người
thân. Dù được bù đắp bởi những tấm lòng nhân ái, họ vẫn thực sự thiệt thòi. Nhưng
tôi nghĩ, những trường hợp như thế không chiếm đa số trong xã hội, do đó ý kiến
của bạn Hồng Minh vẫn có sức thuyết phục.
Sử dụng lí lẽ.
Phần lớn mọi người đều có gia đình. Gia đình là nơi ta được sinh ra, lớn lên, được
sống với những người ruột thịt. Ông bà, cha mẹ, anh chị không chỉ nuôi nấng, chăm
sóc mà còn bảo ban, dạy dỗ ta bằng tấm lòng yêu thương trìu mến, niềm tin và hi
vọng. Trong gia đình, ông bà, bố mẹ, anh chị chính là những “thầy cô” đầu tiên của
chúng ta. Bài học đầu đời của ta đến từ những truyện cổ tích hấp dẫn, từ những câu
ca dao trong lời mẹ hát, hay những câu tục ngữ bà dẫn ra
trong lời nói hằng ngày. Đó là những bài học về đạo làm
người, về cách đối nhân xử thế nhẹ nhàng, tự nhiên mà
thấm thía. Tôi nhớ, lần tôi mới vào lớp 4, có cô bạn của mẹ đến chơi. Cô hỏi khẽ:
“Cháu học lớp mấy rồi?”. Tôi nhìn cô, giơ bốn ngón tay lên. Mẹ vội lên tiếng: “Con
không được trả lời với người lớn như thế. Con lễ phép nói lại với cô đi”. Tất nhiên
là tôi nghe lời mẹ và ngượng nghịu trả lời. Mấy năm đã trôi qua, nhưng giờ đây, mỗi
lần nhớ lại cái cử chỉ giơ bốn ngón tay lên để trả lời người bằng tuổi mẹ mình mà
như trả lời bạn cùng lứa, tôi vẫn thấy xấu hổ.
Nêu bằng chứng.
Trong gia đình, mọi người đối xử với nhau theo những chuẩn mực đạo lí có giá trị
lâu bền. Tình mẹ con, tỉnh cha con, tinh anh em là những tình cảm đặc biệt cao quý,
thiêng liêng. Cha mẹ sẵn sàng dành cho con cái tất cả
gia tài vật chất và tinh thần, được gây dựng bằng công
sức, mồ hôi nước mắt suốt một đời. Anh em, chị em ruột
có thể chia sẻ, tương trợ nhau mà không tính toán thiệt hơn. Một thành viên lầm lạc
trở về, người thân trong gia đình sẵn lòng tha thứ và đón nhận. Trong nhà có người
Kết hợp lí lẽ và bằng chứng.
Yêu cầu đối với bài văn nghị luận về một vấn đề trong đời sống (trình bày ý kiến tán thành):
- Nêu được vấn đề và ý kiến cần bàn luận.
- Trình bày được sự tán thành đối với ý kiến cần bàn luận.
- Đưa ra được những lí lẽ rõ ràng và bằng chứng đa dạng để chứng tỏ sự tán thành là có căn cứ.
ốm đau, bệnh tật, mọi người thực sự lo lắng, săn sóc. Như vậy, nếu coi gia đình là trường học, thì trước hết, đó là trường học của tình thương và bổn phận, của dâng hiến và hi sinh, của khoan dung và độ lượng.
Khẳng định lại sự tán thành ý kiến.
Khi hiểu ra nhiều điều, tôi càng thấy ý kiến của bạn Hồng Minh là rất đúng. Quả thật, gia đình không chỉ là tổ ấm, mà còn là “trường học” đầu tiên của mỗi con người. “Trường học gia đình” đồng hành và hỗ trợ cho ngôi trường nơi hằng ngày ta được học hành với thầy cô, bè bạn. Thật hạnh phúc khi mỗi chúng ta như hạt giống được ươm gieo từ giáo dục gia đình và nảy mầm, sinh trưởng tốt tươi trong môi trường giáo dục lành mạnh của xã hội.
(Bài làm của học sinh, có chỉnh sửa)
Thực hành viết theo các bước
Trước khi viết
a. Lựa chọn đề tài
Trong cuộc sống hằng ngày, có biết bao vấn đề gợi những cách nhìn nhận, đánh giá đa chiều và được thể hiện bằng những ý kiến khác nhau. Để lựa chọn đề tài cho bài viết, em có thể tham khảo các vấn đề sau, và hình dung từ các vấn đề đó, nảy sinh những ý kiến đúng đắn, cần thể hiện sự tán thành:
Mục đích viết
Khẳng định sự tán thành ý kiến, thuyết phục người đọc đồng tình với quan điểm của mình.
Người đọc
Thầy cô, bạn bè và những người quan tâm đến vấn đề được bàn luận.
Sự hỗ trợ của người khác và nỗ lực của bản thân, yếu tố nào quan trọng hơn đối với sự thành công của mỗi người?
- Thành công và thất bại, mặt nào mới là trải nghiệm bổ ích giúp con người tiến bộ?
“Không thấy đố mày làm nên.” và “Học thầy chẳng tày học bạn.", câu nào là chân lí?
Ham mê trò chơi điện tử, nên hay không nên?
Đồ dùng bằng nhựa – tiện ích và tác hại.
Ngoài ra, em có thể tìm để tài từ sách báo, in-tơ-nơt hoặc các phương tiện truyền thông khác. Chọn được để tài em thực sự am hiểu và có hứng thú thì việc viết bài mới thuận lợi.
b. Tìm ý
Sau khi xác định được vấn đề, cần tiến hành tìm ý bằng cách tự trả lời một số câu hỏi:
Vấn đề gì được nêu ra để bàn luận?
Ngay ở phần Mở bài, vấn đề cần bàn luận phải được nêu một cách rõ ràng, cụ thể. Ví dụ: “Tuần trước, cô giáo đã tổ chức cho lớp tôi thảo luận về đề tài: “Vai trò của gia đình đối với sự trưởng thành của mỗi người”.” (Bài viết tham khảo)
Vấn đề gợi ra những cách hiểu nào?
Một vấn đề có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Đưa ra những cách hiểu như vậy là để nhìn nhận nhiều chiều về vấn đề, có cơ sở thấy được cách hiểu nào là có lí. Ví dụ: Ở bài viết tham khảo, trước đề tài nêu ra, “mỗi người một ý, bàn luận rất sôi nổi”. Có người cho gia đình cũng là một trường học, có những người không tán thành ý kiến đó.
Ý kiến nào đáng quan tâm nhất?
Trong những ý kiến đưa ra để đối sánh, có những ý kiến tác động tích cực đến nhiều người. Ví dụ: Trong bài viết tham khảo, khi cô giáo đưa ra đề tài "Vai trò của gia đình đối với sự trưởng thành của mỗi người", bạn Hồng Minh nêu quan điểm: “Gia đình cũng là một trường học”. Ý kiến này đáng quan tâm nhất, vì nó đã gây ra một cuộc tranh luận nhỏ, thú vị, thu hút sự chú ý của các bạn trong lớp.
Vì sao bày tỏ thái độ tán thành?
Đây là điều phải được nói rõ, dứt khoát trong bài nghị luận về một vấn đề đời sống (trình bày ý kiến tán thành). Có nêu được ý kiến ngay từ đầu mới có hướng để triển khai các phần tiếp theo của bài viết. Ví dụ: “Riêng tôi, sau khi suy nghĩ kĩ, tôi thấy Hồng Minh hoàn toàn có lí. (Bài viết tham khảo)
- Những lí lẽ và bằng chứng nào cần đưa ra để chứng tỏ sự tán thành là xác đáng?
Câu hỏi này nhắc nhở em: Trong quá trình tìm ý, cần nêu được những lí lẽ và bằng chứng cụ thể để ý kiến tán thành có sức thuyết phục. Ở bài viết tham khảo, người viết đưa ra lí lẽ chặt chẽ và bằng chứng xác thực khiến người đọc tin rằng gia đình đúng là trường học đầu tiên của con người. Ví dụ: "Trong gia đình, mọi người đối xử với nhau theo những chuẩn mực đạo lí có giá trị lâu bền. Tình mẹ con, tình cha con, tình anh em là những tình cảm đặc biệt cao quý, thiêng liêng.” (Lí lẽ); "Trong gia đình, ông bà, bố mẹ, anh chị chính là những “thầy cô” đầu tiên của chúng ta. Bài học đầu đời của ta đến từ những truyện cổ tích hấp dẫn, từ những câu ca dao trong lời mẹ hát, hay những câu tục ngữ bà dẫn ra trong lời nói hằng ngày. Đó là những bài học về đạo làm người, về cách đối nhân xử thế nhẹ nhàng, tự nhiên mà thấm thía.” (Bằng chứng)
c. Lập dàn ý
Dàn ý là kết quả của việc sắp xếp hợp lí các ý đã tìm được ở trên, phân bố chúng vào từng phần khi viết bài.
Dàn ý
- Mở bài: Nêu vấn đề đời sống cần bàn và ý kiến đáng quan tâm về vấn đề đó.
- Thân bài:
+ Trình bày thực chất của ý kiến, quan niệm đã nêu để bàn luận.
+ Thể hiện thái độ tán thành ý kiến vừa nêu bằng các ý:
- Ý 1: Khía cạnh thứ nhất cần tán thành (lí lẽ, bằng chứng)
- Ý 2: Khía cạnh thứ hai cần tán thành (lí lẽ, bằng chứng)
- Ý 3: Khía cạnh thứ ba cần tán thành (lí lẽ, bằng chứng)
- ...
- Kết bài: Khẳng định tính xác đáng của ý kiến được người viết tán thành và sự cần thiết của việc tán thành ý kiến đó.
Viết bài
Việc thực hiện bài viết đòi hỏi triển khai đầy đủ các ý đã có trong dàn ý. Muốn vậy, cần nắm vững cách viết từng phần của bài.
a. Mở bài
Có thể nêu vấn đề cần bàn theo cách trực tiếp hay kể một câu chuyện để dẫn đến vấn đề, giới thiệu ý kiến về vấn đề đó. Mở bài cần ngắn gọn, hấp dẫn, thu hút sự chú ý của người đọc.
b. Thân bài
Làm rõ các khía cạnh cơ bản của vấn đề.
Khẳng định rõ ràng, dứt khoát thái độ tán thành ý kiến.
- Tuần tự triển khai từng ý, sử dụng lí lẽ và huy động bằng chứng để sự tán thành ý kiến có sức thuyết phục. Mỗi ý cần được viết thành một đoạn văn hoàn chỉnh, giữa các đoạn có sự liên kết chặt chẽ.
c. Kết bài
Khẳng định lại sự tán thành ý kiến, nêu tác dụng của ý kiến đó đối với cuộc sống. Phần Kết bài nên viết trọn vẹn trong một đoạn văn.
Chỉnh sửa bài viết
Đọc, rà soát các phần, các đoạn của bài viết để chỉnh sửa theo yêu cầu của bài nghị luận về một vấn đề trong đời sống (trình bày ý kiến tán thành). Cụ thể:
Nội dung rà soát | Hướng dẫn chỉnh sửa
Đã nêu rõ ý kiến cần được tán thành chưa? | Nếu ý kiến chưa nêu rõ trong phần Mở bài thì phải bổ sung.
Đã trình bày tường minh sự tán thành đối với ý kiến được nêu lên để bàn luận chưa? | Nếu việc tán thành ý kiến chưa được thể hiện rõ thì phải bổ sung ý hoặc tìm phương án diễn đạt phù hợp hơn.
Việc tán thành ý kiến đã có sức thuyết phục chưa? Lí lẽ và bằng chứng được nêu lên làm cơ sở cho sự tán thành đã thật sự thuyết phục chưa? | Bổ sung, thay đổi nếu thấy lí lẽ và bằng chứng chưa làm cho sự tán thành đủ sức thuyết phục.
Đã nói rõ được ý nghĩa của việc tán thành ý kiến chưa? | Bổ sung nếu thấy ý nghĩa của việc tán thành ý kiến còn được thể hiện mờ nhạt.
Việc dùng từ ngữ, đặt câu, duy trì mạch lạc và liên kết trong bài viết đã đạt yêu cầu chưa? | Chỉnh sửa những lỗi về từ ngữ, ngữ pháp, bổ sung từ ngữ liên kết nếu thấy giữa các câu, các đoạn còn rời rạc.
Nói và nghe
Kể lại một truyện ngụ ngôn
Em đã được học, được đọc về truyện ngụ ngôn. Hẳn nhiều truyện đã đưa lại cho em ấn tượng sâu sắc vì bài học rút ra từ đó rất gần gũi, thiết thực. Em hãy kể lại một truyện ngụ ngôn, nêu ý nghĩa của câu chuyện và chia sẻ cảm xúc của mình.
Trước khi nói
a. Chuẩn bị
Chọn được truyện ngụ ngôn mà mình yêu thích.
Nắm được cốt truyện của truyện ngụ ngôn. Có thể tóm lược nội dung truyện theo một trật tự đơn giản, dễ hiểu.
- Lưu ý những chi tiết, hình ảnh, từ ngữ diễn đạt đặc sắc, giàu nghĩa.
Có thể sáng tạo thêm những cách diễn đạt thú vị hơn để tăng sức hấp dẫn nhưng không làm sai lệch những yếu tố cơ bản của cốt truyện gốc.
Mục đích nói
Kể một truyện ngụ ngôn nhằm rút ra bài học phù hợp với tình huống đời sống, đồng thời tạo được không khí vui vẻ trong một bối cảnh sinh hoạt cụ thể.
Người nghe
Thầy cô, bạn bè, những người muốn được nghe và chia sẻ cảm nhận về câu chuyện.
b. Tập luyện
Kể lại truyện trước các bạn trong nhóm, chú ý bài học được thể hiện qua câu chuyện.
Luyện kể bằng ngữ điệu truyền cảm (giọng to/ nhỏ, cao/ thấp, nhanh/ chậm, nhấn/ lướt,... thể hiện lời thoại phù hợp với đặc điểm nhân vật, cảm xúc của câu chuyện).
- Tập kết hợp lời kể với ngôn ngữ cơ thể (nét mặt, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ,...) để cuốn hút người nghe.
Trình bày bài nói
Mở đầu: Tạo không khí thoải mái, thu hút sự chú ý của người nghe trước khi kể.
Triển khai: Kể nội dung câu chuyện bằng lời kể sinh động; luôn tương tác với người nghe một cách tự nhiên (bằng lời nói, ánh mắt, cử chỉ,..). Có thể sáng tạo trong khi kể (không phải đọc thuộc lòng) để tạo sự lôi cuốn, nhưng không được làm sai lệch nội dung cơ bản của câu chuyện.
Kết luận: Nêu ý nghĩa của câu chuyện.
Sau khi nói
Cùng người nghe bàn luận, bình phẩm về chi tiết, hình ảnh đặc sắc, bài học đạo lí rút ra từ câu chuyện vừa kể.
Trao đổi, rút kinh nghiệm về cách sử dụng ngôn ngữ nói và ngôn ngữ cơ thể (nét mặt, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ,...).
Bàn bạc, trao đổi về cách sáng tạo khi kể để câu chuyện thêm thú vị, làm nổi bật bài học đạo lí và những kinh nghiệm sống mà câu chuyện ngụ ngôn muốn truyền tải.
Củng cố, mở rộng
1
Kẻ bảng vào vở theo mẫu sau và điền thông tin phù hợp:
Phương diện so sánh | Truyện ngụ ngôn | Tục ngữ
Loại sáng tác | |
Nội dung | |
Dung lượng văn bản | |
2
Sưu tầm và ghi lại những câu tục ngữ em đã nghe hoặc đọc vào vở hay một cuốn sổ nhỏ (nên chia các câu tục ngữ đó theo nhóm chủ đề).
3
Hãy viết đoạn văn (khoảng 8 – 10 câu) nêu những điều tốt đẹp em đã tiếp nhận được sau khi đọc những truyện ngụ ngôn, tục ngữ và thành ngữ trong bài học này.
4
Hãy kể lại một truyện ngụ ngôn mà ý nghĩa của nó có gắn với một thành ngữ.
Thực hành đọc
Khi đọc văn bản dưới đây, em cần chú ý những vấn đề sau:
Thể loại của văn bản.
Diễn biến của câu chuyện.
. Bài học kinh nghiệm, đạo lí rút ra từ câu chuyện.
Thiên nga, cá măng và tôm hùm
I-VAN CRU-LỐP(1) (IVAN KRYLOV)
Làm việc gì cũng cần nhất trí,
Có thuận hoà mới dễ thành công,
Còn như lục đục, dù đông
Mỗi người một phách, chớ hòng việc trôi.
Vào một buổi đẹp trời ba bạn
Thiên nga, tôm hùm với cá măng
Cùng nhau kéo một xe hàng,
Cả ba gắng sức – xe càng đứng im.
(1) I-van Crư-lốp (1769-1844) là nhà báo, nhà viết kịch, nhà thơ Nga. Ông sáng tác hơn 200 truyện ngụ ngôn (trong đó có một số truyện chịu ảnh hưởng của Ê-dốp (Aesop) và La Phông-ten (La Fontaine)).
(2) Phách: đơn vị đo thời gian cơ bản của nhịp trong âm nhạc. Mỗi người một phách: mỗi người một nhịp không đều nhau, ý nói mỗi người có cách riêng, không đồng tâm nhất trí.
(3) Hòng: muốn và cố thực hiện được điều biết là rất khó làm, thậm chí không thể thực hiện.
Vì sao vậy? Hãy tìm nguyên có
Hoá ra tôm chỉ cố giật lùi,
Thiên nga kéo bổng lên trời,
Cá măng thì cố sức bơi xa bờ.
Đến nay xe vẫn nằm trơ...
Nếu ai có hỏi, xin nhờ ngụ ngôn
Cho hay dù việc còn con,
Mà không nhất trí thì còn hỏng to.
Thuận chồng, thuận vợ, hát hò
Biển đông cũng cạn ( ), chẳng lo lắng gì.
(Chu-lốp, Truyện ngụ ngôn, Hồ Quốc Vỹ dịch,
NXB Văn học, Hà Nội, 2000, tr. 61)
(3) Biển đông cũng cạn: lấy ý câu tục ngữ "Thuận vợ thuận chồng tát bể (biển) đông cũng cạn." (người dịch đã Việt hoá cách diễn đạt trong nguyên tác tiếng Nga).
Xem bản PDF nguyên trang sách: Ngữ văn 7 tập 2 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 4–24).
