Yêu cầu cần đạt

  • Nhận biết và nhận xét được nét độc đáo của bài thơ thể hiện qua từ ngữ, hình ảnh, vần, nhịp, biện pháp tu từ.
  • Nhận biết được tình cảm, cảm xúc của người viết thể hiện qua ngôn ngữ văn bản.
  • Hiểu được khái niệm ngữ cảnh, nghĩa của từ ngữ trong ngữ cảnh và biết vận dụng để dùng từ ngữ đúng với ngữ cảnh.
  • Viết được bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc.
  • Trình bày được ý kiến về một vấn đề đời sống; biết trao đổi một cách xây dựng, tôn trọng các ý kiến khác biệt.
  • Yêu mến, tự hào về vẻ đẹp của quê hương, đất nước.

Đất nước tôi thon thả giọt đàn bầu...
Tạ Hữu Yên

Giới thiệu bài học

Đất nước Việt Nam với non sông tươi đẹp, truyền thống lịch sử hào hùng, con người thân thiện, nghĩa tình,... luôn là niềm yêu mến, tự hào của chúng ta. Dù sống ở miền Nam hay miền Bắc, miền núi hay miền xuôi, giai điệu đất nước vẫn luôn ngân vang trong trái tim ta.

Tình yêu đất nước là nguồn cảm hứng dạt dào tạo nên những tác phẩm lay động lòng người của văn học Việt Nam từ xưa tới nay. Em đã được học một số tác phẩm như vậy ở các lớp dưới. Đến bài học này, em sẽ tiếp tục được lắng nghe, cảm nhận những cung bậc khác nhau của tình cảm thiêng liêng đó qua những bài thơ trữ tình hiện đại và một văn bản thuộc thể loại khác có cùng chủ đề.

Kết nối tri thức yêu cầu cần đạt

Đọc

Tri thức ngữ văn

Tình cảm, cảm xúc trong thơ

Tình cảm, cảm xúc chính là cội nguồn làm nên sức hấp dẫn đặc biệt của thơ trữ tình. Gốc của thơ là tình cảm, cảm xúc; nội dung chủ yếu của thơ là tình cảm, cảm xúc của nhà thơ trước cuộc đời.

Tình cảm, cảm xúc của nhà thơ trước cuộc đời thuộc thế giới tình cảm riêng, nhưng lại có những điểm đồng điệu với tình cảm, cảm xúc chung của nhiều người. Chính vì thế, người đọc đến với thơ để tìm sự đồng cảm, chia sẻ. Người đọc có thể cảm nhận như nhà thơ đang nói hộ nỗi lòng mình.

Hình ảnh trong thơ

Hình ảnh là một yếu tố quan trọng trong thơ trữ tình, là phương tiện để nhà thơ bộc lộ tình cảm, tư tưởng. Hình ảnh trong thơ có nguồn gốc từ đời sống (con người, thiên nhiên,..) nhưng luôn mang dấu ấn của sự hư cấu, tưởng tượng, in đậm tình cảm, cảm xúc chủ quan của nhà thơ.

Nhịp thơ

Nhịp thơ là phương tiện quan trọng để cấu tạo hình thức nghệ thuật đặc thù của văn bản thơ. Người đọc có thể nhận biết nhịp thơ qua hệ thống những điểm ngắt, ngừng được phân bố trên dòng thơ hoặc giữa các dòng thơ, theo sự chi phối của nội dung cảm xúc và quy định riêng của từng thể thơ.

Ngữ cảnh

Ngữ cảnh là bối cảnh ngôn ngữ trong đó một đơn vị ngôn ngữ được sử dụng. Đó có thể là bối cảnh trong văn bản, gồm những đơn vị ngôn ngữ (từ, cụm từ, câu) đứng trước và sau một đơn vị ngôn ngữ (còn gọi là văn cảnh); hoặc là bối cảnh ngoài văn bản, gồm người nói, người nghe, địa điểm, thời gian,... mà một đơn vị ngôn ngữ được sử dụng.

Văn bản đọc

VĂN BẢN 1. Mùa xuân nho nhỏ, Thanh Hải

VĂN BẢN 2. Gò Me (trích), Hoàng Tố Nguyên

VĂN BẢN 3. Bài thơ “Đường núi” của Nguyễn Đình Thi, Vũ Quần Phương

Văn bản 1

Trước khi đọc

1.

Mùa xuân trong cảm nhận của em có gì đáng nhớ?

2.

Hãy đọc một vài đoạn thơ mà em yêu thích viết về mùa xuân.

Đọc văn bản

Mùa xuân nho nhỏ

THANH HẢI

Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi, con chim chiền chiện (1)
Hót chỉ mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng.

Hình dung
Những màu sắc, âm thanh được gợi lên trong khổ thơ.

Hình ảnh một cánh đồng lúa xanh với sông và núi ở xa.

Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy bên lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao...

Đất nước bốn ngàn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước.

Hình dung
Vẻ đẹp mùa xuân qua hình ảnh “lộc”.

(1)

Chiền chiện: còn có tên là sơn ca, một loài chim nhỏ hơn chim sẻ, thường ở ruộng, bãi quang đãng, khi hót thường bay vút lên cao.

Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hoà ca
Một nốt trầm xao xuyến.
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.
Mùa xuân - ta xin hát
Câu Nam ai, Nam bình 1)
Nước non ngàn dặm mình
Nước non ngàn dặm tình
Nhịp phách tiền(2) đất Huế.

Liên tưởng
Hình ảnh con chim, cành hoa, nốt trầm, mùa xuân nho nhỏ.

(Nguyễn Đức Nam (Chủ biên), Thơ Việt Nam 1945-1985,
NXB Giáo dục, 1987, tr. 317-318)

Sau khi đọc

Thanh Hải (1930 – 1980) quê ở Thừa Thiên – Huế. Trong thời kì đất nước còn bị chia cắt, ông đã viết nhiều bài thơ thể hiện tình yêu quê hương, khát vọng thống nhất đất nước. Sáng tác của Thanh Hải được tập hợp trong các tập thơ: Những đồng chí trung kiên (1962), Huế mùa xuân (tập 1 – 1970, tập 2 - 1975), Dấu võng Trường Sơn (1977), Mưa xuân đất này (1982), Thơ Thanh Hải (1982),.. Thơ ông được yêu mến rộng rãi một phần quan trọng nhờ giọng điệu mộc mạc, chân thành và hình thức giản dị, giàu tính dân tộc.

Hình ảnh chân dung nhà thơ Thanh Hải.

Mùa xuân nho nhỏ có thể xem là bài thơ tiêu biểu nhất của Thanh Hải, được viết vào tháng 11 năm 1980, khi nhà thơ nằm trên giường bệnh, một tháng trước khi qua đời.

Trả lời câu hỏi

1.

Trong khổ thơ đầu, nhà thơ miêu tả mùa xuân qua những hình ảnh nào? Những hình ảnh đó gợi cho em cảm nhận gì về mùa xuân?

2.

Cảm xúc của nhà thơ trước vẻ đẹp của mùa xuân được thể hiện như thế nào qua những dòng thơ: Ơi, con chim chiền chiện/ Hót chi mà vang trời/ Từng giọt long lanh rơi/ Tôi đưa tay tôi hứng?

(1)

Nam ai, Nam bình: hai điệu ca Huế nổi tiếng. Điệu Nam ai giai điệu buồn thương, ai oán còn điệu Nam bình thì du dương, man mác buồn.

(2)

Phách tiên: phách là nhạc khí dân tộc, thường làm bằng đoạn tre cứng, dùng để gõ nhịp cho lời ca, đàn tranh, đàn tam thập lục,... Phách tiến là phách có đính thêm cọc tiền đồng.

3.

Hình ảnh người cầm súng, người ra đồng gợi cho em nghĩ đến ai? Vì sao khi nói về mùa xuân của đất nước, nhà thơ lại nhắc đến hình ảnh người cầm súng và người ra đồng?

4.

Hãy chỉ ra đặc điểm về cách gieo vần và ngắt nhịp trong khổ thơ sau:
Đất nước bốn ngàn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước.

5.

Theo em, vì sao tác giả muốn làm con chim”, “một cành hoa”, “một nốt trầm"? Liên hệ với hoàn cảnh sáng tác của bài thơ, em có cảm nhận gì về ước nguyện mà nhà thơ muốn gửi gắm qua những hình ảnh này?

6.

Trong phần đầu bài thơ, tác giả xưng “tôi” nhưng sang phần sau lại xưng "ta". Theo em, việc thay đổi cách xưng hô như thế có ý nghĩa gì?

7.

Sau khi đọc và tìm hiểu bài thơ, em có nhận xét gì về cách dùng từ trong nhan để Mùa xuân nho nhỏ? Nhan đề đó gợi cho em những cảm xúc, suy nghĩ gì?

Viết kết nối với đọc

Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) nêu cảm nhận về một đoạn thơ mà em yêu thích trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ.

Thực hành tiếng Việt

Ngữ cảnh và nghĩa của từ ngữ trong ngữ cảnh

Nhận biết nghĩa của từ ngữ trong ngữ cảnh

Đọc hai dòng thơ sau, chú ý nghĩa của từ thơm:
Thị thơm thì giấu người thơm
Chăm làm thì được áo cơm cửa nhà.
(Lâm Thị Mỹ Dạ, Chuyện cổ nước mình)

Khi đọc (nghe) chỉ một từ thơm thôi thì ta không thể biết được người viết (nói) muốn dùng nghĩa nào của từ này. Thế nhưng, từng nghĩa một của từ thơm sẽ được xác định nếu ta đặt nó trong ngữ cảnh, xem xét trong sự kết hợp với các từ bên cạnh. Từ thơm trong thị thơm có nghĩa là có mùi hương dễ chịu còn từ thơm trong người thơm lại mang nghĩa là phẩm chất tốt đẹp, thơm thảo, được mọi người yêu mến, ca ngợi.

1

Giải thích nghĩa của các từ in đậm trong những dòng thơ sau:
a. Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy bên lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ.
b. Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước.
c. Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa.

Biện pháp tu từ

2

Từ giọt trong đoạn thơ sau có nhiều cách hiểu khác nhau. Người thì cho là giọt sương, người hiểu là giọt mưa xuân và có người lại giải thích là “giọt âm thanh tiếng chim. Theo em, trong ngữ cảnh này, có thể chọn cách hiểu nào? Vì sao?
Ơi, con chim chiền chiện
Hót chỉ mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng.

3

Theo em, trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ, biện pháp tu từ nào có vị trí nổi bật nhất? Hãy cho biết tác dụng của việc sử dụng biện pháp tu từ đó.

Văn bản 2

Trước khi đọc

1.

Em biết những bài thơ nào viết về miền đất Nam Bộ? Hãy đọc cho cả lớp nghe một đoạn thơ mà em yêu thích.

2.

Chia sẻ những điều em biết về vẻ đẹp của miền đất này.

Đọc văn bản

Gò Me

Trích, HOÀNG TỔ NGUYÊN (2)

Quê tôi đó: mặt trông ra bể
Đốm hải đăng tắt, loé đêm đêm
Con đê cát đỏ cỏ viền
Leng keng nhạc ngựa ngược lên chợ Gò.
Ruộng vây quanh, bốn mùa gió mát
Lúa nàng keo chói rực mặt trời
Ao làng trăng tắm, mây bơi
Nước trong như nước mắt người tôi yêu

Hình dung
Ánh sáng, âm thanh và không gian miền quê Gò Me.

(1)

Gò Me: một địa danh nổi tiếng thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang ngày nay.

(2)

Hoàng Tổ Nguyên (1929-1975) quê ở Gò Công, Tiền Giang. Thơ Hoàng Tố Nguyên đậm chất Nam Bộ, thể hiện tình yêu và lòng nhớ thương quê hương da diết của một người con Nam Bộ đang sống trên đất Bắc. Một số tập thơ tiêu biểu của ông: Từ nhỏ đến thương (1950), Đất nước (1956), Gò Me (1957), Quê chung (1962), Gởi chiến trường chống Mỹ (1966),...

(3)

Lúa nàng keo: một giống lúa cổ truyền thơm ngon đặc biệt, được người dân miền Tây Nam Bộ trồng và gìn giữ từ hàng trăm năm.

Quê tôi sớm sớm chiều chiều
Lao xao vườn mía
Mái lá khoan thai thở làn khói nhẹ
Những chị, những em má núng đồng tiền (1)
Nọc cấy (2), tay tròn, nghiêng nón làm duyên

Hình dung
Những chỉ tiết miêu tả các cô gái Gò Me.

Véo von điệu hát cổ truyền
(Tre thôi khúc khích, mây chim lắng nghe):
- Hò... ơ... Trai Biên Hoà luy³ gái Gò Me
Không vì sắc lịch), mà chỉ vì mê giọng hỏ...

Ôi, thuở ấu thơ
Cắt cỏ, chăn bò
Gối đầu lên áo
Nằm dưới hàng me, nghe tre thổi sáo
Lòng nghe theo bướm, theo chim
Me non cong vắt lưỡi liềm
Lá xanh như dải lụa mềm lửng lơ.
[...] Tôi nằm trên võng mẹ đưa
Có chim cu gáy giữa trưa hanh nồng
Tiếng ai vút đầu bông lúa chín
Gió dịu vương xao xuyến bờ tre:

Hình dung
Những chi tiết miêu tả thiên nhiên Gò Me.

(1)

Núng đồng tiền (như lúm đồng tiến): chỗ hơi lõm thường hiện ra ở má, tạo nên nét duyên dáng, đáng yêu trên khuôn mặt.

(2)

Nọc cấy: dụng cụ lao động được làm bằng gỗ, có đầu nhọn, dùng để chọc lỗ xuống đất và gieo mầm lúa vào lỗ.

(3)

Luy kiên nhẫn chiều theo ý người khác để đạt được mục đích mình mong muốn.

(4)

Sắc lịch: nhan sắc và sự thanh lịch (nghĩa trong văn bản).

Hò ơ... Trai Biên Hoà luy gái Gò Me
Không vì sắc lịch, mà chỉ vì mê giọng hò!...

Chị tôi má đỏ, thẹn thỏ
Giã me bên trã canh chua ngọt ngào.
(Hoàng Tổ Nguyên, Từ nhớ đến thương,
NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1977, tr. 12-16)

Sau khi đọc

Trả lời câu hỏi

1.

Qua nỗi nhớ của nhà thơ – một người con phải sống xa quê – cảnh sắc Gò Me hiện lên như thế nào?

2.

Hình ảnh người dân Gò Me được tác giả khắc hoạ qua những chi tiết nào? Những chi tiết đó gợi cho em cảm nhận gì về con người nơi đây?

3.

Nhớ đến Gò Me, tác giả nhớ da diết điệu hò quê hương. Việc nhà thơ hai lần dẫn lại câu hò gợi cho em suy nghĩ gì?

4.

Bài thơ Gò Me có nhiều hình ảnh sinh động, giàu sức gợi. Em thích những hình ảnh nào? Vì sao?

5.

Nêu cảm nhận của em về tình cảm của tác giả đối với quê hương, đất nước được thể hiện trong bài thơ.

6.

Nhà thơ lấy tên một vùng đất làm nhan đề bài thơ. Hãy kể tên một số tác phẩm mà em đã học, đã đọc cũng có cách đặt nhan để tương tự.

Viết kết nối với đọc

Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) nêu cảm nhận của em về đoạn thơ từ Ôi, thuở ấu thơ đến Lá xanh như dải lụa mềm lửng lơ.

Thực hành tiếng Việt

Nghĩa của từ ngữ

1

Giải thích nghĩa của từ thở được dùng trong dòng thơ Mái lá khoan thai thở làn khói nhẹ. Chỉ ra sự khác biệt về nghĩa của từ thở trong ngữ cảnh này với từ thở trong câu: Em bé thở đều đều khi ngủ say.

2

Tìm các từ láy trong bài thơ. Chọn một từ để giải thích nghĩa và nêu tác dụng của việc dùng từ láy đó.

Dấu câu

3

Cho biết công dụng của dấu ngoặc đơn và dấu ngoặc kép trong bài thơ Gò Me.

(1)

Trà: nồi đất miệng rộng và nông, thường dùng để kho, nấu thức ăn.

Biện pháp tu từ

4.

Chỉ ra các biện pháp tu từ trong những dòng thơ sau và nêu tác dụng của chúng:
a.
Ao làng trăng tắm, mây bơi
Nước trong như nước mắt người tôi yêu.
b.
Nằm dưới hàng me, nghe tre thổi sáo.
c.
Me non cong vắt lưỡi liềm
Lá xanh như dải lụa mềm lửng lơ.
d.
Tre thôi khúc khích, mây chìm lắng nghe.

Văn bản 3

Đọc văn bản

Đường núi

Nguyễn Đình Thi

Chiều nhạt nhạt về nơi nào xa lắm
Ngây ngất sương mây
Lối mòn không dấu chân
Gió nổi
Đâu đây tiếng suối rì rào
Ôi những vạt ruộng vàng
Chiều nay rung rinh lúa ngả
Dải áo chàm bay múa
Tiếng ai hát trên nương
Bờ tre đang reo ánh lửa
Mái nhà sàn toả khói xanh
Hươu gào xa văng vẳng
Một mảnh trăng dốc ngả chập chùng
Bước chân bóng động nghiêng bờ núi.

1948

Bài thơ Đường núi của Nguyễn Đình Thi

VŨ QUẦN PHƯƠNG (1)

Bài thơ như bức tranh chấm phá vài nét chiều rừng tiết kiệm cả nét lẫn màu ấy lại thấy nổi rõ lên lòng yêu đất đai thôn bản say đắm của người viết. Có chữ nào nói sự say đắm của lòng người đâu. Không nói nhưng ta nghe được trong nhịp điệu của câu thơ, trong cái nhìn ngất ngây với sương mây, rì rào với tiếng suối. Và đây hãy lắng nghe cả hình ảnh lẫn âm điệu câu thơ. Trong hình ảnh có tiếng reo vui lặng thầm:
Ôi những vạt ruộng vàng
Chiều nay rung rinh lúa ngà
Dải áo chàm bay múa
Tiếng ai hát trên nương

(1)

Vũ Quần Phương sinh năm 1940, quê ở Nam Định. Ông là nhà thơ, nhà phê bình văn học. Các tác phẩm chính: Hoa trong cây (1977), Vầng trăng trong xe bỏ (1988), Vết thời gian (1996), Bình thơ (2012),...

Ruộng lúa rung rinh chiều, dải áo chàm bay múa, và tiếng hát vang xa... Tác giả không reo thành lời, nhưng cảnh sắc reo trong mắt anh.

Âm điệu câu thơ là âm điệu của nội tâm, vần bị bỏ rơi. Chỗ nào tâm tình lắng lại thì âm điệu câu thơ lắng lại, chơi vơi, thanh nhẹ. Câu thơ 5 chữ hay 6 chữ không phải do vần điệu thể loại quy định mà do tâm tình tác giả. Thử lưu ý hai câu 6 xen giữa các câu thơ 5 chữ:

Bờ tre đang reo ánh lửa
Mái nhà sàn toả khói xanh

Đấy là hình ảnh làm ẩm lòng tác giả nhất. Độ dài câu thơ có tác dụng như một sự ngưng đọng, sự lắng nghe từ trong kí ức người những ảnh lửa bếp chiều, những tia khói xanh trên mái lá. Hai câu thơ kết dài tới 7 âm tiết như một sự ngân nga của tâm trí.

Hình ảnh một con đường lên biên giới, tranh bột màu của Quang Dũng.

Cảnh trong bài thơ này chỉ được vẽ trong vài nét có tính cách gọi hơn là tả. Có khi hai ba cảnh trên các bình diện khác nhau hiện trong một câu thơ. Tốc độ chuyển cảnh rất nhanh. Người đọc không thấy mạch liền của cảnh nhưng lại có mạch liền của cảm xúc. Nội dung của bài thơ nằm cả ở bên ngoài các dòng chữ. Nếu tóm tắt bài thơ chỉ thấy một buổi chiều vùng núi, có lối mòn, có bản nhỏ, khói bếp, gió nổi trăng lên, áo chàm, tiếng hát, cánh đồng,... cái làm chúng ta xúc động lại là cái từ trường cảm xúc thu hút, sắp xếp các hình ảnh đó với nhau. Ấy là tình cảm yêu say đắm đồng đất núi rừng làng mạc nước non mình. Ấy là ánh nhìn rọi vào đâu cũng thấy rung rinh, xao xuyến, bay múa, ca hát. Cái tài của Nguyễn Đình Thi ở bài thơ này là tạo được một luồng không khí thân yêu trong trẻo run rẩy phủ lấy phong cảnh. Phong cảnh bỗng mang vị tâm hồn của tác giả. Đường vắng mà lòng vui. Đi một mình mà lòng như ca hát.

(Nhiều tác giả, Thơ hay có lời bình 100 bài, Vân Long tuyển chọn,
NXB Thanh niên, Hà Nội, 2001, tr. 79-81)

Đường núi

Nguyễn Đình Thi
Chiều nhạt nhạt về nơi nào xa lắm
Ngây ngất sương mây
Lối mòn không dấu chân
Gió nổi
Đâu đây tiếng suối rì rào
Ôi những vạt ruông vàng
Chiều nay rung rinh lúa ngả
Dải áo chàm bay múa
Tiếng ai hát trên nương
Bờ tre đang reo ánh lửa
Mái nhà sàn toả khói xanh
Hươu gào xa văng vẳng
Một mảnh trăng dốc ngả chập chùng
Bước chân bóng động nghiêng bờ núi.
1948

Bài thơ Đường núi của Nguyễn Đình Thi

VŨ QUẦN PHƯƠNG (1)
Bài thơ như bức tranh chấm phá vài nét chiều rừng tiết kiệm cả nét lẫn màu ấy lại thấy nổi rõ lên lòng yêu đất đai thôn bản say đắm của người viết. Có chữ nào nói sự say đắm của lòng người đâu. Không nói nhưng ta nghe được trong nhịp điệu của câu thơ, trong cái nhìn ngất ngây với sương mây, rì rào với tiếng suối. Và đây hãy lắng nghe cả hình ảnh lẫn âm điệu câu thơ. Trong hình ảnh có tiếng reo vui lặng thầm:
Ôi những vạt ruộng vàng
Chiều nay rung rinh lúa ngả
Dải áo chàm bay múa
Tiếng ai hát trên nương

(1) Vũ Quần Phương sinh năm 1940, quê ở Nam Định. Ông là nhà thơ, nhà phê bình văn học. Các tác phẩm chính: Hoa trong cây (1977), Vầng trăng trong xe bò (1988), Vết thời gian (1996), Bình thơ (2012),...

Đấy là hình ảnh làm ấm lòng tác giả nhất. Độ dài câu thơ có tác dụng như một sự ngưng đọng, sự lắng nghe từ trong kí ức người những ánh lửa bếp chiều, những tia khói xanh trên mái lá. Hai câu thơ kết dài tới 7 âm tiết như một sự ngân nga của tâm trí.

Sau khi đọc

Trả lời câu hỏi

1

Nêu cảm nhận chung của em về bài thơ Đường núi trước và sau khi đọc bài viết của Vũ Quần Phương.

2

Bài bình thơ gây được ấn tượng như thế nào đối với em? Câu nào, ý nào trong đó khiến em phải suy nghĩ sâu hơn về bài thơ đã đọc?

3

Người bình thơ đã thể hiện sự đồng cảm của mình với bài thơ như thế nào? Theo em, sự đồng cảm này có ý nghĩa gì?

4

Theo em, vì sao Vũ Quần Phương lại khẳng định: “Cái tài của Nguyễn Đình Thi ở bài thơ này là tạo được một luồng không khí thân yêu trong trẻo run rẩy phủ lấy phong cảnh. Phong cảnh bỗng mang vị tâm hồn của tác giả."?

5

Nếu được phép bổ sung cho bài viết của Vũ Quần Phương, em sẽ bổ sung những gì?

Viết

Viết bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc

Có nhiều con người, sự việc xung quanh để lại cho ta những tình cảm, ấn tượng sâu sắc. Tình cảm đó cứ lớn dần trong ta, làm cho ta sống sâu hơn. Trong bài học này, em sẽ được luyện tập phát triển kĩ năng viết bài văn biểu cảm bày tỏ tình cảm, suy nghĩ của mình về những con người hoặc sự việc như vậy.

Yêu cầu đối với bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc:

Giới thiệu được đối tượng biểu cảm (con người hoặc sự việc) và nêu được ấn tượng ban đầu về đối tượng đó.

Nêu được những đặc điểm nổi bật khiến người, sự việc đó để lại tình cảm, ấn tượng sâu đậm trong em.

Thể hiện được tình cảm, suy nghĩ đối với người hoặc sự việc được nói đến.

Sử dụng ngôn ngữ sinh động, giàu cảm xúc.

Phân tích bài viết tham khảo

Người phụ nữ hết lòng làm thiện nguyện

Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

Giới thiệu đối tượng.

Tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách là một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay. Em đã được biết nhiều tấm gương về lòng nhân hậu, về những con người đã thể hiện được lối sống tình nghĩa đậm đà. Trong số đó, em không thể quên bà Nguyễn Thị Nhung ở quận Đống Đa, Hà Nội – người phụ nữ hết lòng làm thiện nguyện. Lần đầu tiên được đọc bài viết về bà in trên mục Người Việt tử tế của báo Lao động, em đã thực sự xúc động trước nhân cách cao đẹp ấy.

Bày tỏ tình cảm, ấn tượng ban đầu về đối tượng.

Nêu các đặc điểm nổi bật của đối tượng và tình cảm, ấn tượng sâu đậm của người viết về những đặc điểm đó.

Bà Nhung hiện đang sống tại một căn nhà nhỏ trên phố Văn Miếu và hằng ngày, người phụ nữ 57 tuổi ấy vẫn tần tảo với việc bán hàng ở chợ. Mặc dù điều kiện sống cũng không dư dả gì nhưng bà vẫn luôn cố hết sức mình để chia sẻ, đem lại niềm vui cho những mảnh đời cơ cực bởi bà luôn tâm niệm: “Với tôi, cuộc sống phải biết sẻ chia, cho đi thì mới thật sự ý nghĩa và đáng để sống”. Suốt 30 năm qua, bà Nhung đã mở rộng vòng tay cưu mang, nuôi dưỡng và dạy dỗ những đứa trẻ có hoàn cảnh khó khăn. Trong số 13 người con được bà nhận nuôi, có 2 người bị tự kỉ. Thế nhưng, bằng tấm lòng yêu thương, sự quan tâm, chăm sóc hết mực của mình, bà đã dần dần giúp cả hai đứa con có một cuộc sống như bao người bình thường. Họ vẫn ngày ngày theo bà buôn bán làm ăn. Với những người con đó, bà là một người mẹ tuyệt vời, người mẹ không có công sinh nhưng có công dưỡng, người đã mang lại hạnh phúc, niềm vui cho cuộc đời họ. Ngoài việc nhận nuôi những đứa trẻ bất hạnh, bà Nhung còn nhiệt tình tham gia các hoạt động thiện nguyện khác để giúp ích cho đời. Tuy tuổi đã cao nhưng bà không quản ngại khó khăn, lặn lội đến những vùng sâu, vùng xa trao quà cho người dân miền núi. Bà đã tham gia nhóm thiện nguyện “Mùa thu và những người bạn” để giúp đỡ những bệnh nhân nghèo, bất hạnh ở các bệnh viện Hà Nội. Hằng tháng, bà quyên góp gạo để nhóm nấu cháo phát cho bệnh nhân. Vào mỗi dịp cuối tuần, bà thường dậy từ 3 giờ sáng để chuẩn bị những suất cháo đem tới bệnh viện. Nhìn nụ cười rạng rỡ trên khuôn mặt phúc hậu của bà khi tận tay trao những suất cháo cho bệnh nhân, có lẽ không ai không cảm thấy ấm áp và xúc động.

Sử dụng ngôn ngữ sinh động, giàu cảm xúc.

Em rất cảm phục và kính trọng bà – người phụ nữ tuy không thân quen nhưng với em lại rất đỗi gần gũi, ấm áp. Với những việc làm có ý nghĩa đối với cộng đồng, bà Nguyễn Thị Nhung đã góp phần làm cho xã hội ngày càng trở nên tốt đẹp, nhân văn hơn. Và bà đã vinh dự được nhận danh hiệu Người tốt, việc tốt do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội trao tặng. Nhưng có lẽ phần thưởng lớn nhất đối với bà chính là tình cảm yêu mến, quý trọng của mọi người. Nhiều người gọi bà là “bà tiên giữa đời thường”.

Khẳng định lại tình cảm, suy nghĩ của người viết đối với đối tượng.

(Bài làm của học sinh)

Thực hành viết theo các bước

Trước khi viết

Lựa chọn đề tài

Lựa chọn đối tượng biểu cảm là con người hoặc sự việc để lại cho em những tình cảm, ấn tượng sâu sắc.

Người đó có thể là người thân trong gia đình, bạn bè, hàng xóm, người làm việc ở trường hoặc người mà em biết qua sách báo.

Mục đích viết
Bày tỏ tình cảm, suy nghĩ của em đối với đối tượng được nói tới và khơi gợi sự đồng cảm, chia sẻ của người đọc.

Người đọc
Thầy cô, bạn bè và những người quan tâm tới tình cảm, suy nghĩ mà em bày tỏ trong bài văn.

Sự việc đó có thể xảy ra với bản thân em hoặc em là người chứng kiến hay được biết qua sách báo.

Tìm ý

Sau khi lựa chọn được người hoặc sự việc để bày tỏ tình cảm, suy nghĩ, hãy tìm ý cho bài viết bằng cách trả lời các câu hỏi sau:

Người đó là ai? Sự việc đó là gì?

Người hoặc sự việc đó có những đặc điểm nào nổi bật?

Em có ấn tượng, suy nghĩ gì đối với người hoặc sự việc đó?

Chi tiết nào gắn với người hoặc sự việc đó khiến em không thể quên?

Lập dàn ý

Hãy sắp xếp các ý mà em tìm được thành một dàn ý. Dưới đây là một gợi ý:

Dàn ý

Mở bài:
+ Giới thiệu người hoặc sự việc mà em muốn bày tỏ tình cảm, suy nghĩ.
+ Bày tỏ tình cảm, ấn tượng ban đầu của em về người hoặc sự việc đó.

Thân bài:
+ Trình bày tình cảm, suy nghĩ về những đặc điểm nổi bật của người hoặc sự việc.
+ Nêu ấn tượng về người hoặc sự việc đó.
Kết bài: Khẳng định lại tình cảm, suy nghĩ của em đối với người hoặc sự việc được nói tới.

Viết bài

Chú ý bám sát dàn ý. Trong quá trình viết, em cần lưu ý:

Nêu được những đặc điểm nổi bật khiến người hoặc sự việc để lại ấn tượng, cảm xúc sâu đậm cho mình.

Ngôn ngữ bài viết cần sinh động, giàu cảm xúc; vận dụng các biện pháp tu từ như so sánh, điệp ngữ,... để tăng sự hấp dẫn cho bài viết.

Chỉnh sửa bài viết

Sau khi hoàn thành, hãy rà soát bài văn theo những yêu cầu ở cột trái và gợi ý chỉnh sửa ở cột phải.

Yêu cầu
Giới thiệu được người hoặc sự việc mà em muốn bộc lộ tình cảm, suy nghĩ.
Nêu được đặc điểm nổi bật của người hoặc sự việc để lại ấn tượng, cảm xúc sâu đậm cho em.
Thể hiện được tình cảm, suy nghĩ của em đối với người hoặc sự việc đó. Chú ý sử dụng ngôn ngữ sinh động, giàu cảm xúc.
Bảo đảm yêu cầu về chính tả và diễn đạt.
Gợi ý chỉnh sửa
Nếu chưa có, hãy bổ sung thông tin cho lời giới thiệu để người đọc có được hình dung ban đầu về người hoặc sự việc.
Nếu chưa có hoặc chưa đủ, hãy bổ sung nội dung để người đọc hiểu rõ những đặc điểm nổi bật của người hoặc sự việc đã để lại ấn tượng sâu đậm trong em.
Đánh dấu những từ ngữ, câu văn thể hiện tình cảm, suy nghĩ về người hoặc sự việc được nói tới. Nếu chưa có hoặc chưa đủ, cần bổ sung.
Rà soát lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu,.. và chỉnh sửa nếu phát hiện lỗi.

Nói và nghe

Trình bày ý kiến về những hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng

Trong phần Viết ở trên, em đã có dịp chia sẻ tình cảm, suy nghĩ về một con người hoặc sự việc. Chắc hẳn, con người hoặc sự việc mà em lựa chọn để viết đã có tác động đến cuộc sống của nhiều người, để lại cho em những ấn tượng sâu sắc. Trong phần này,

em sẽ thực hành trình bày ý kiến về những hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng. Đây cũng là vấn đề được xã hội quan tâm và có những quan niệm khác nhau. Với tư cách người nói, em hãy bày tỏ suy nghĩ của mình về vấn đề được bàn sao cho lan toả được tới người nghe. Với tư cách người nghe, em hãy chú ý lắng nghe, tôn trọng người nói, ghi nhận những suy nghĩ của người nói.

Trước khi nói

Chuẩn bị nội dung nói

Viết ra giấy các ý chính của bài nói thành dạng dàn ý. Có thể tham khảo một số gợi ý sau:

+ Giới thiệu khái quát suy nghĩ của em về bản chất và vai trò của những hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng.

Mục đích nói
Chia sẻ với người nghe ý kiến của em về những hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng nhằm tác động đến suy nghĩ, cảm xúc và hành động của người nghe.

Người nghe
Thầy cô, bạn bè, người thân và những người quan tâm đến vấn đề em nói.

+ Chỉ ra được những hoạt động thiện nguyện tiêu biểu: đóng góp tiền của, tham gia hoạt động cứu trợ,... Đối tượng được giúp đỡ có thể là người gặp nạn vì thiên tai hay dịch bệnh, người già không nơi nương tựa, người khuyết tật, trẻ mồ côi,...

+ Nhấn mạnh một số ý nghĩa quan trọng của hoạt động thiện nguyện: giúp cho những người gặp hoàn cảnh khó khăn có cuộc sống tốt đẹp hơn; lan toả nghĩa cử cao đẹp tới cộng đồng, góp phần làm cho xã hội ngày càng trở nên nhân văn; thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta;...

Đánh dấu những chỗ cần nhấn mạnh, những từ ngữ then chốt, những câu quan trọng mà khi trình bày không thể bỏ qua, như:

+ Câu giới thiệu khái quát suy nghĩ của em về ý nghĩa quan trọng của hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng.

+ Những từ ngữ thể hiện suy nghĩ của em trước những hành động, việc làm cụ thể của các cá nhân, tổ chức, cộng đồng,...

+ Những câu nhấn mạnh ý nghĩa nhân văn của các hoạt động thiện nguyện.

Chuẩn bị tranh ảnh, đoạn phim ngắn, bài hát,... liên quan đến các hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng (nếu có).

Tập luyện

Để nói tốt, em cần tập luyện trước khi trình bày trên lớp. Em có thể tập luyện trước bạn bè, người thân, lắng nghe góp ý của họ để rút kinh nghiệm nhằm hoàn thiện bài nói. Em cũng có thể đứng trước gương và tập nói một mình.

Trình bày bài nói

Khi trình bày, em cần lưu ý:

Đi vào trọng tâm vấn đề là trình bày, chia sẻ với người nghe suy nghĩ của em về những hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng. Các ý trong bài nói cần được trình bày mạch lạc, sáng rõ.

Trình bày bài nói theo các ý đã chuẩn bị. Mở đầu, nên giới thiệu rõ ràng, mạch lạc để người nghe nắm bắt được suy nghĩ của em về vấn đề cần trình bày. Ở phần nội dung chính, cần chú ý tập trung vào việc trình bày một số hoạt động tiêu biểu để làm nổi bật ý nghĩa của hoạt động thiện nguyện nói chung, không nên sa đà vào việc liệt kê quá nhiều những hành động cụ thể. Kết thúc bài nói, cần khẳng định lại tầm quan trọng của các hoạt động thiện nguyện đồng thời có thể liên hệ để rút ra bài học cho bản thân.

Điều chỉnh giọng nói, tốc độ nói phù hợp với nội dung bài nói.

Sử dụng ánh mắt, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ phù hợp; thể hiện sự tương tác tích cực với người nghe.

Sau khi nói

Trao đổi về bài nói theo một số gợi ý sau:

Người nghe
Trao đổi về bài nói với tinh thần xây dựng và tôn trọng. Có thể trao đổi một số nội dung như:
Sự nổi bật của vấn đề được trình bày.
Sự phù hợp của các lí lẽ, bằng chứng được sử dụng.
Những điều khiến em xúc động hoặc có ấn tượng sâu sắc trong bài trình bày của bạn.
Sự phù hợp của việc sử dụng các phương tiện phi ngôn ngữ (cử chỉ, điệu bộ, nét mặt,...) với nội dung bài trình bày.
Một vài điểm có thể bổ sung để phần trình bày trở nên hoàn thiện hơn.
Người nói
Lắng nghe từng ý kiến phản hồi của người nghe với tinh thần cầu thị:
Cảm ơn sự đồng cảm của bạn và có thể chia sẻ thêm lí do khiến em chọn nói về những điều này.
Trao đổi lại các ý kiến phản biện, bảo vệ ý kiến của em nếu thấy cần thiết; tiếp thu những ý kiến góp ý mà em thấy hợp lí.

Củng cố, mở rộng

1

Kẻ bảng vào vở theo mẫu và điền thông tin ngắn gọn về các văn bản theo gợi dẫn:
Mùa xuân nho nhỏ
Gò Me
Tình cảm, cảm xúc của tác giả
Biện pháp tu từ nổi bật
Hình ảnh đặc sắc

2

Tìm đọc thêm một số bài thơ viết về đất nước Việt Nam. Nhận xét về nét độc đáo của một bài thơ mà em yêu thích (từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ,...).

Thực hành đọc

Khi đọc văn bản dưới đây, em cần chú ý những vấn đề sau:

Ngôn ngữ, hình ảnh, các biện pháp tu từ được sử dụng trong bài thơ.

Vẻ đẹp riêng của vùng đất biên cương trong cảm nhận của nhà thơ.

Tình cảm với quê hương, đất nước mà bài thơ gợi lên trong em.

LÒ NGÂN SỦN (1)
Chiều biên giới em oi
Có nơi nào xanh hơn
Như tiếng chim hót gọi
Như chồi non cỏ biếc
Như rừng cây của lá
Như tình yêu đôi ta.
Chiều biên giới em oi
Có nơi nào cao hơn
Như đầu sông đầu suối
Như đầu mây đầu gió
Như quê ta ngọn núi
Như đất trời biên cương.
Chiều biên giới em ơi
Có nơi nào đẹp hơn
Khi mùa hoa đào nở
Khi mùa sở ra cây
Lúa lượn bậc thang mây
Mùi toả ngát hương bay.
Chiều biên giới em ơi
Rừng chăng dây điện sáng
Ta nghe tiếng máy gọi
Như nghe tiếng cuộc đời
Lòng ta thầm mê say
Trên nông trường lộng gió
Rộng như trời mênh mông.
Chiều biên giới em ơi
Đôi ta cùng chiến hào
Gần nhau thêm bền chí
Tình yêu là vũ khí
Giữ đất trời quê hương.
Chiều biên giới em ơi
Nghe con sông chảy xiết
Nghe con suối thác đổ
Hồn ta như ngọn gió
Thổi giữa trời quê hương.
Hoàng Liên Sơn, 1980
(Tuyển tập thơ Lò Ngân Sủn, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2013, tr. 55-56)

(1) Lò Ngân Sủn (1945 – 2013) quê ở Lào Cai. Thơ Lò Ngân Sủn trong sáng, mộc mạc, giản dị, thể hiện một tâm hồn tinh tế, tha thiết yêu thương. Ông để lại nhiều tập thơ trong đó có một số tập tiêu biểu như: Chiều biên giới (1989), Những người con của núi (1990), Đám cưới (1992), Dòng sông mây (1995), Lều nương (1996), Bữa tình yêu (2005),...

Xem bản PDF nguyên trang sách: Ngữ văn 7 tập 1 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 88–104).