Yêu cầu cần đạt
- Nhận biết và phân tích được một số yếu tố của hài kịch như: ngôn ngữ, xung đột, hành động, nhân vật, kết cấu, tình huống, thủ pháp trào phúng,...
- Phân tích và đánh giá được khả năng tác động của hài kịch đối với người đọc, người xem và tiến bộ xã hội.
- Viết được báo cáo kết quả nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội; có sử dụng sơ đồ, bảng biểu, có thuyết minh các hình ảnh minh hoạ, có sử dụng trích dẫn, cước chú và biết trình bày phần tài liệu tham khảo.
- Biết trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu (dưới hình thức thuyết trình) về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội.
- Biết ứng xử phù hợp với tình thế xã hội; biết sống có khát vọng, vui tươi, chân thực, tự nhiên.
Thuật ngữ: Hài kịch · Nhân vật trong hài kịch · Tình huống hài kịch · Xung đột trong hài kịch · Thủ pháp trào phúng
Đọc
Tri thức ngữ văn
Hài kịch là một thể loại kịch, dùng tiếng cười để chế giễu những thói tật, hiện tượng đáng phê phán (vụ lợi, kệch cỡm, cực đoan, lạc hậu, ảo tưởng,...) vốn đi chệch các chuẩn mực tốt đẹp của con người và cộng đồng. Tiếng cười hài kịch cất lên từ sự vênh lệch, không tương thích giữa mục đích và phương tiện thực hiện, bản chất và biểu hiện, hành động và hoàn cảnh, tham vọng cá nhân và các khả năng thực hiện,... tức là từ những cái ngộ nghĩnh, ngược đời, bất hợp lí. Hài kịch có thể được triển khai theo các hướng khác nhau tuỳ theo tính chất của tiếng cười nhằm vào đối tượng: từ tiếng cười bông đùa, hài hước đến tiếng cười châm biếm, mỉa mai hay tiếng cười lật tẩy, tố cáo, đả kích,... Bằng tiếng cười phủ nhận “những thiếu sót không nên có", hài kịch muốn làm thay đổi cách nhìn của người đọc, người xem về một hiện tượng xã hội nào đó, khẳng định lối sống lành mạnh, lạc quan, hợp với lẽ phải và tiến bộ xã hội. Bởi vậy, hài kịch nhất thiết phải đưa ra một kết cục có hậu, vui vẻ đối với người đọc, người xem.
Nhân vật, tình huống, xung đột, hành động và kết cấu hài kịch
Nhân vật trong hài kịch là những nhân vật tiêu biểu cho một thói tật đáng cười, đáng phê phán, hoặc những nhân vật thường xuyên lầm lẫn, có cách ứng xử không phù hợp với hoàn cảnh thực tế. Nhân vật hài kịch hiếm khi là kẻ cùng hung cực ác, mà phổ biến hơn là người có khiếm khuyết, sai lầm cần khắc phục. Những nhân vật hài kịch như vậy có tính cách nhất quán, được xây dựng theo lối cường điệu, tô đậm nét đáng cười, chứ không được khai thác qua toàn bộ tiểu sử. Trong hài kịch còn có thể xuất hiện một số nhân vật châm chích, pha trò hài hước, hay nhân vật đại diện cho một lực lượng đối kháng tiến bộ nào đó, song đó thường chỉ là những nhân vật phụ.
Tình huống hài kịch là những tình huống hài hước diễn ra trong cuộc sống sinh hoạt, thế sự với những toan tính đời thường, làm nổi bật những thói tật đáng cười của con người. Tình huống hài kịch còn có thể là những tình huống hiểu lầm, trớ trêu, dở khóc dở cười, song không bi đát và luôn có thể được giải quyết tốt đẹp.
Xung đột trong hài kịch thường được xây dựng trên cơ sở mâu thuẫn giữa những tham vọng, toan tính vật chất, mưu kế tầm thường, bất chấp đạo đức, lẽ phải,... (phần nhiều là ảo tưởng) với những chuẩn mực và tiến bộ xã hội. Xung đột trong hài kịch dù căng thẳng đến mấy, cũng luôn có khả năng được giải quyết theo hướng cái xấu, cái không hoàn thiện bị phủ nhận, cái tốt đẹp, tiến bộ được khẳng định. Hành động trong hài kịch chủ yếu là hành động bên ngoài, những toan tính, mưu mô của nhân vật đều bộc lộ hết ra lời (hài kịch không nhấn mạnh trăn trở nội tâm – hành động bên trong). Hành động trong hài kịch hướng tới tô đậm nét tính cách chủ đạo của nhân vật hay tính chất cực đoan của những mưu mô, toan tính, chứ không phải làm nổi bật sự kiện, bởi vậy, diễn biến hành động qua mỗi hồi kịch thường mở ra các bình diện khác nhau của cái đáng cười hơn là thúc đẩy xung đột đi tới hồi kết. Kết cấu hài kịch thông thường được tổ chức trên cơ sở một hành động kịch nhất quán: mở đầu bằng việc giới thiệu các nhân vật với thói tật và những toan tính, mưu mô, ảo tưởng của họ; thắt nút theo cách đưa các nhân vật vào tình huống khó xử, đẩy xung đột đi tới đỉnh điểm theo đà thắng thế của toan tính, ảo tưởng; giải quyết xung đột bằng một mưu mẹo hay một yếu tố ngẫu nhiên để bước vào kết thúc với sự sụp đổ của những toan tính, ảo tưởng đáng cười.
Thủ pháp trào phúng và ngôn từ trong hài kịch
Thủ pháp trào phúng bao gồm các cách thức bất ngờ làm bật lên tiếng cười giễu cợt, mỉa mai, châm biếm, hạ thấp đối tượng. Hài kịch thường sử dụng những thủ pháp trào phúng như: tạo tình huống hiểu lầm hài hước, trớ trêu; phóng đại cử chỉ, điệu bộ, thói tật; tạo tương phản gây cười (hoán đổi các cảnh, các vị trí nhân vật, đồ vật một cách nghịch lí, cải trang lộ liễu, đột ngột biến dạng bất cân xứng,...). Về ngôn từ, cả trong chỉ dẫn sân khấu, cách gọi tên nhân vật, cũng như trong lời đối thoại, độc thoại, hài kịch sử dụng
rất nhiều biện pháp như: cường điệu, tương phản, lặp, nhại, chơi chữ, nói bóng gió, nói lái, nói quá, nói lỡ, nói không ra tiếng,... Đối thoại trong hài kịch có khi được tổ chức theo kiểu đối chọi chan chát, "ăn miếng trả miếng” trong tình huống các nhân vật tố cáo lẫn nhau; có khi được triển khai xoay quanh tình huống "ông nói gà, bà nói vịt” thể hiện sự lệch kênh về ý thức; cũng có khi đột ngột bỏ lửng lời thoại khiến người đọc, người xem bật cười.
Văn bản 1
Nhân vật quan trọng(*)
(Trích Quan thanh tra)
Ni-cô-lai Gô-gôn (Nikolai Gogol)
Khoác lác, ảo tưởng, theo bạn, có phải là một thói tật đáng cười? Vì sao?
Tóm tắt hài kịch Quan thanh tra:
Hồi I: Thị trưởng một thị trấn tỉnh lẻ ở nước Nga đột ngột triệu tập quan chức địa phương để tuyên bố về việc nhận được mật báo: có một quan thanh tra cấp cao bí mật tới thị trấn. Cả bọn kinh hãi, bởi có “đốt đuốc giữa ban ngày" cũng không thấy có việc gì trong thị trấn có thể coi là tử tế: thị trưởng công khai hà hiếp dân chúng, cùng với chánh án, công khai nhận quà biếu hối lộ; chánh án để toà án bẩn thỉu, giấy má lẫn với roi ngựa đi săn, bồi thẩm thì luôn say xỉn; chủ sự bưu vụ chuyên đọc trộm thư từ; viên kiểm học Lu-ca Lu-kích (Luka Lukitr) bê trễ công việc, coi giáo dục là "nghề chết tiệt"; trưởng viện tế bắn Ác-tê-mi Phi-líp-pô-vích (Artemi Philippovitr) bỏ mặc người bệnh "tự ốm, tự khỏi", song lại do thám mọi chuyện để viết thư tố cáo kẻ khác; còn vợ thị trưởng An-na An-đrê-ép-na (Anna Andreevna) và con gái thị trưởng Ma-ri-a An-tô-nốp-na (Maria Antonovna) là những kẻ đầu óc rỗng tuếch, đài các rởm, chỉ biết dua dòi học làm sang và hãnh tiến,... Theo bẩm báo của hai gã địa chủ chuyên ngồi lê đôi mách, cả bọn tưởng một người khách dừng chân tại quán trọ thị trấn "không chịu trả tiền, cũng không chịu đi" là quan thanh tra, nên sửa soạn đến mời.
Hồi II: I-van A-lếch-xan-đrô-vích Khơ-lét-xta-cốp (Ivan Alexandrovitr Khlestacov)(1) vốn là một nhân viên thư kí quèn, "đoảng vị, không được việc gì", tại văn phòng của một vụ ở Pê-téc-bua
15 Nhan đề văn bản do người biên soạn sách giáo khoa đặt.
(1) Khơ-lét-xta-cốp: họ của nhân vật trong tiếng Nga có gốc từ "khơ-li-ô-xtơ" (хлёст) – có nghĩa là "kẻ khoác lác không ngượng mồm, chuyên ngồi lê đôi mách".
(Petersburg). Anh ta từng sống chui lủi để trốn tiền trọ, phải rời khỏi thủ đô về tỉnh lẻ, sa vào bài bạc, cháy túi, song vẫn luôn giữ diện mạo bảnh bao, mơ ước "sống trên đời chỉ cốt để hái những bông hoa khoái lạc". Đang khi Khơ-lét-xta-cốp hết tiền, đói khát, bị mắc kẹt ở quán trọ, thì dám quan chức trong thị trấn, tưởng gã là quan thanh tra, tới khúm núm cung phụng. Thị trưởng mời Khơ-lét-xta-cốp thăm thú những địa điểm trong thị trấn đã được chuẩn bị trước và chuyển đến ở nhà mình để dễ bề bố trí cảnh sát canh gác, ngăn không cho tiếp xúc với những người bị hà hiếp, oan khuất.
Hồi III: Khơ-lét-xta-cốp hồn nhiên nhập vai quan thanh tra, đi thăm thú, tiệc tùng, rồi chuyển đến ở nhà thị trưởng. Việc được thết đãi linh đình tạo cảm hứng cho gã khoác lác về vị thế sang trọng và danh tiếng tưởng tượng của mình. Vợ và con gái thị trưởng sán lại làm thân. Lũ quan tham trong thị trấn lại thêm phần sợ hãi.
Hồi IV: Quan chức, những kẻ tò mò và cả những người bị oan khuất trong thị trấn lũ lượt xin vào gặp Khơ-lét-xta-cốp. Gã thoạt dầu còn sượng sùng vay tiền đám quan chức, tiến tới đòi hỏi, quát nạt để ăn hối lộ công khai của cả người bị hiếp đáp. Khơ-lét-xta-cốp còn tận dụng cơ hội để tán tỉnh cả vợ lẫn con gái thị trưởng. Sau khi cao hứng cầu hôn với con gái ông ta, Khơ-lét-xta-cốp lo bại lộ chân tướng, lấy cớ phải tạm rời thị trấn "đến nhà ông chủ giàu sụ", yêu cầu cung cấp xe cộ, hành trang, tiến bạc, để nhanh chóng cao chạy xa bay.
Hồi V: Thị trưởng vênh váo, ra oai với đám dưới quyền, say sưa với việc con gái mình sẽ kết hôn với "quan lớn" thanh tra, gia đình sẽ chuyển về thủ đô, sẽ thật thần thế, danh giá. Đang khi các nhân vật “có máu mặt" trong thị trấn đến chúc mừng gia đình thị trưởng, thì chủ sự bưu vụ đột ngột báo tin Khơ-lét-xta-cốp không phải là quan thanh tra. Chủ sự bưu vụ đưa ra cho mọi người xem bức thư của Khơ-lét-xta-cốp gửi cho anh bạn nhà báo (tên là Giẻ Rách) kể ra sự thật về chuyện hiểu nhầm, nhận xét châm biếm về thị trường và hết thảy các nhân vật. Thị trưởng vỡ mộng, cay đắng nói với mọi người: "Các ngài cười gì? Các ngài đang cười giễu chính mình đấy!". Đúng lúc đó, một viên hiến binh thình lình xuất hiện, tuyên bố: Quan thanh tra đích thực vừa mới đến thành phố, yêu cầu tất cả tới trình diện. Lời tuyên bố "như sét đánh" làm cho tất cả kinh hoàng, đờ ra như hoá đá, chuyển vào Lớp Câm – kết thúc vở hài kịch.
Nhân vật quan trọng là đoạn trích từ lớp VI, hồi III của hài kịch Quan thanh tra.
Hội III
Lớp VI
(Các vai trên, thêm An-na An-đrê-ép-na và Ma-ri-a An-tô-nóp-na)
THỊ TRƯỞNG – Xin giới thiệu gia đình tôi: Đây là nhà tôi và cháu gái.
KHO-LÉT-XTA-CỐP (cúi chào) - Thưa bà, tôi rất sung sướng được cái hân hạnh đặc biệt gặp bà.
AN-NA AN-ĐRÊ-ÉP-NA - Dạ, chúng tôi còn vui mừng hơn khi được gặp một người như tôn ông...
Đối thoại xã giao thái quá của các nhân vật thể hiện điều gì?
KHƠ-LÉT-XTA-CỐP (điệu bộ giả tạo) – Xin lỗi bà, trái hẳn lại, tôi mới là người vui mừng hơn.
AN-NA AN-ĐRÊ-ÉP-NA - Đâu phải thế! Ông nói như thế thực là quá khen chúng tôi. Xin rước ông ngồi ạ!
KHƠ-LÉT-XTA-CỐP – Được đứng bên cạnh bà đã là hạnh phúc lắm rồi; nhưng nếu bà muốn thì tôi xin phép ngồi ạ. Được ngồi gần bà tôi sướng quá đấy ạ.
AN-NA AN-ĐRÊ-ÉP-NA – Xin lỗi ông, quả thực tôi không dám nhận những lời khen của ông. Ông quen ở thủ đô, nay phải đi Vôi-a-gi-rốp-ca(1), chắc khó chịu lắm đấy nhỉ?
Lưu ý thái độ của Khơ-lét-xta-cốp với “dân đen", cũng như chính bản thân mình.
KHƠ-LÉT-XTA-CỐP - Thực khó chịu quá sức tưởng tượng. Tôi quen sống trong cái xã hội thượng lưu, comprenez vous?(2), vậy mà bỗng phải đi đường xa: nào hàng quán bẩn thỉu, nào dân đen ngu dốt tối tăm... Xin thú thực là nếu không gặp được dịp may mắn như thế này... (nhìn kĩ An-na An-đrê-ép-na và làm điệu bộ giả tạo trước mặt mụ), nó đền bù lại tất cả...
AN-NA AN-ĐRÊ-ÉP-NA - Như vậy quả thực ông phải vất vả, khó chịu nhiều lắm.
KHƠ-LÉT-XTA-CỐP – Nhưng thưa bà, trong giờ phút này, tôi lại thấy rất dễ chịu.
AN-NA AN-ĐRÊ-ÉP-NA - Ông cứ nói quá! Ông làm vinh dự cho tôi nhiều lắm, tôi thật không xứng chút nào.
KHƠ-LÉT-XTA-CỐP – Vì lẽ gì không xứng kia ạ? Thưa bà, bà rất xứng đáng...
AN-NA AN-ĐRÊ-ÉP-NA – Tôi ở chốn quê mùa...
Khơ-lét-xta-cốp sơ ý bộc lộ thân phận thật của mình qua lời khoác lác thế nào?
KHƠ-LÉT-XTA-CỐP – Nhưng, thưa bà, thôn quê cũng có những dòng sông nhỏ, những trái đồi xinh chứ, tất nhiên ai lại đi so sánh thôn quê với Pê-téc-bua! Chà, Pê-téc-bua! Thực đấy, đời sống ở thủ đô sao mà... Có lẽ bà tưởng tôi là một anh chàng thư kí nhì nhằng? Không, quan vụ trưởng là bạn thân với tôi đấy. Ngài vỗ vai tôi thế này, nói: “Người anh em, lại đằng nhà ăn với mình!”. Mỗi ngày tôi chỉ đến vụ có hai phút, đủ để ra lệnh làm như thế này,
(1) Vôi-a-gi-róp-ca: đúng tiếng Pháp phải là voyage - cuộc du hành. An-na An-đré-ép-na học đòi nói tiếng Pháp, nhưng lại nói “tiếng bồi", nửa đầu Pháp ("vôi-a-gi"), nửa sau Nga ("rőp-ca" "co-man-di-róp-ca", nghĩa là chuyến công tác).
(2) Tiếng Pháp trong nguyên bản: Bà hiểu không?. Khơ-lét-xta-cốp nói tiếng Pháp đúng hơn An-na An-đrê-ép-na, có lẽ y học lỏm được ở thủ đô.
làm như thế kia! Ở đấy đã có một viên công chức, một anh thạo việc bàn giấy, cứ cầm bút một cái xoạch, xoạch... thảo như bay tất cả công văn cho tôi. Họ muốn cử tôi làm quan phó đoàn tuyển cử(1). Nhưng tôi nghĩ nhận chức ấy làm quái gì. Lại còn một thằng hầu lúc nào cũng cầm bàn chải chạy theo khi tôi lên cầu thang: "Ông I-van A-lếch-xan-đrô-vích, ông cho phép con đánh hầu ông” (Nói với viên thị trưởng). Kìa, sao các ông lại đứng thế? Xin mời các ông ngồi!
THỊ TRƯỞNG – Dạ, theo ngạch bậc, chúng tôi phải đứng ạ.
ÁC-TÊ-MI PHI-LÍP-PÔ-VÍCH - Chúng tôi đứng cũng được ạ.
LU-CA LU-KÍCH – Ông cứ mặc chúng tôi, xin đừng bận tâm ạ.
KHO-LÉT-XTA-CỐP – Không cần ngạch bậc, lễ nghi gì cả. Mời các ông cứ ngồi. (Thị trưởng và cả bọn ngồi). Tôi không thích lễ nghi phiền phức đâu nhé: trái lại, bao giờ tôi cũng cố tìm cách lần tránh cho không ai biết mình. Nhưng không tài nào lần tránh được chứ lị, không biết làm cách nào! Tôi vừa có mặt ở đâu, đã thấy có người nói: “Kìa ông I-van A-lếch-xan-đrô-vích đi kia kìa”. Có lần họ lại tưởng tôi là tổng tư lệnh. Thế là bọn lính từ trong bốt vội vàng nhảy xổ ra, bồng súng chào. Sau đó viên sĩ quan vốn biết tôi lắm, nói với tôi rằng: “Kìa, người anh em, thế mà bọn mình cứ tưởng lầm đằng ấy là tổng tư lệnh”.
AN-NA AN-ĐRÊ-ÉP-NA – Thế kia đấy!
Chú ý sự vênh lệch của việc gắn tên tuổi Pu-skin với thể loại "ca kịch vui".
KHƠ-LÉT-XTA-CỐP – Tôi quen nhiều đào hát lắm. Vì tôi cũng có đi xem nhiều vở ca kịch vui... Tôi thường gặp các nhà văn. Tôi là bạn cánh hẩu của Pu-skin (Pushkin). Nhiều lần tôi bảo hắn là: “Thế nào người anh em Pu-skin?”. Hắn ta trả lời: “Bình thường, người anh em ạ, vẫn như mọi khi thôi”... Hắn là con người rất độc đáo.
AN-NA AN-ĐRÊ-ÉP-NA – Như vậy là ông cũng viết văn nữa kia à? Làm nhà sáng tác chắc thú vị lắm thì phải. Chắc ông cũng gửi bài đăng trên các tạp chí chứ?
KHƠ-LÉT-XTA-CỐP – Phải, tôi cũng có cho đăng trên tạp chí nhiều bài. Tôi viết nhiều tác phẩm lắm: Đám cưới chàng Phi-ga-rô (Figaro), Rô-be (Robe) con quỷ, Noóc-ma (Norma),
(1) Đây chỉ là một chức quan hạng thứ tám, trong số mười bốn nấc thang công chức ở nước Nga lúc đó. Khơ-lét-xta-cốp, vốn là một công chức hạng bét, chỉ biết khoác lác từ những gì nghe lỏm được về cuộc sống thượng lưu, tưởng rằng đây đã là cấp bậc cao lắm rồi.
(2) Đám cưới chàng Phi-ga-rô là vở nhạc kịch của Mô-da (Mozart, 1756-1791) viết theo hài kịch bất hủ cùng tên của nhà viết kịch Pháp thế kỉ XVIII Bô-mác-se (Beaumarchais, 1732-1799); Rô-be con quỷ là vở nhạc kịch của Mây-ro-bi-o (Mayrbeer, 1791-1864); Noóc-ma là vở nhạc kịch của Ben-li-ni (Bellini, 1801-1835). Khơ-lét-xta-cốp nhận vơ tất cả những tác phẩm này là của mình.
Khơ-lét-xta-cốp đã bộc lộ thực chất trình độ hiểu biết văn chương của mình như thế nào?
Tôi không nhớ tên nhiều tác phẩm khác. Tôi viết mọi tác phẩm cũng là do tình cờ thôi. Tôi có muốn đâu, nhưng ban giám đốc nhà hát bảo tôi: “Người anh em, làm ơn viết cho tôi cái gì đi chứ!”. Tôi nghĩ thầm: “Được lắm, người anh em ạ”. Thế rồi hình như chỉ một buổi tối là tôi viết xong tất cả, ai cũng phải kinh ngạc. Tôi suy nghĩ thực dễ dàng lạ lùng. Tất cả những tác phẩm kí tên nam tước Brăm-bê-út, Chiến hạm Hi vọng, Điện tín Mát-xco-va (Moskva)(1),... tất cả đều do tôi viết.
AN-NA AN-ĐRÊ-ÉP-NA – Vậy ra ông là nam tước Brăm-bê-út à?
KHƠ-LÉT-XTA-CỐP – Cố nhiên: tôi chữa thơ cho tất cả bọn họ. Thằng Xmiếc-đin (Smirdin)(2) phải tặng tôi bốn chục nghìn rúp để tôi làm việc ấy cho nó đấy.
AN-NA AN-ĐRÊ-ÉP-NA - Như vậy, đúng ông là tác giả cuốn lu-ri Mi-lốt-xláp-xki (Yuri Miloslavsky)(3) rồi.
KHƠ-LÉT-XTA-CỐP - Phải, đó là sáng tác của tôi.
AN-NA AN-ĐRÊ-ÉP-NA – Tôi đoán đúng ngay mà.
Chú ý lời thoại của các nhân vật tố cáo lẫn nhau.
MA-RI-A AN-TÔ-NỐP-NA - Kìa, mợ ơi, cuốn ấy có ghi rõ tên tác giả là Da-gốt-xkin (Zagoskin) cơ mà!
AN-NA AN-ĐRÊ-ÉP-NA – Đấy, thấy chưa, tao biết mà, đến ở đây mà mày cũng sắp cãi đấy.
KHƠ-LÉT-XTA-CỐP - Ở đúng đấy, chính Da-gốt-xkin là tác giả cuốn sách đó, nhưng còn một cuốn lu-ri Mi-lốt-xláp-xki khác nữa kia, cuốn ấy mới là của tôi.
AN-NA AN-ĐRÊ-ÉP-NA - Vậy cuốn tôi đọc đúng là cuốn ông viết đấy. Ông viết hay quá đi mất thôi!
KHƠ-LÉT-XTA-CỐP - Thú thật là tôi sống bằng nghề văn đấy. Tôi có cái nhà đẹp nhất ở Pê-téc-bua. Ai cũng biết: nhà của ông I-van A-lếch-xan-đrô-vích (Nói với cả bọn). Các ông ạ, sau này nếu có dịp các ông đến Pê-téc-bua mời các ông vui lòng lại chơi, lại chơi nhà tôi. Tôi cũng hay mở những cuộc khiêu vũ gia đình lắm.
(1) Nam tước Brăm-bê-út (Brambeus, 1818-1858) là bút danh của nhà văn, nhà báo Xen-cốp-xki (Senkovsky, 1800-1858), chủ bút tạp chí Thư viện đọc (1834-1856), nổi tiếng hay sửa chữa, can thiệp thô bạo vào các bài đăng trên tạp chí; Chiến hạm Hi vọng là truyện của nhà văn lãng mạn Bét-xtu-giép Mác-lin-xki (Bestuzhev - Marlinsky, 1797-1837); Điện tín Mát-xcơ-va là tạp chí nổi tiếng truyền bá tư tưởng tự do, xuất bản từ năm 1825 đến 1834.
(2) Xmiéc-đin (1795-1897) là ông chủ xuất bản của nhiều ấn phẩm nói tiếng thời đó ở thủ đô Pê-téc-bua, trong đó có tạp chí Thư viện đọc. Thời đó, nhuận bút cho tác giả nổi tiếng như Pu-skin thường chỉ khoảng hơn một nghìn rúp, Khơ-lét-xta-cốp khuếch khoác số tiền trả cho việc "chữa thơ" thành bốn mươi nghìn rúp.
(3) Tiểu thuyết lịch sử lu-ri Mi-lốt-xláp-xki là tác phẩm của nhà văn Da-gốt-xkin. Ở thời điểm vở kịch của Gô-gôn ra đời, cuốn tiểu thuyết này đang được tung hỏ, mặc dù về nghệ thuật không được giới phê bình đánh giá cao. An-na An-đrê-ép-na, hiểu biết lõm bõm về văn chương, gán luôn cho Brăm-bê-út là tác giả cuốn tiểu thuyết này. Khơ-lét-xta-cốp, không hề hay biết, nhận tất là của mình.
AN-NA AN-ĐRÊ-ÉP-NA – Tôi chắc rằng những cuộc khiêu vũ do ông mở, tráng lệ huy hoàng không thể tả được.
Qua lời khoác lác của Khơ-lét-xta-cốp, có thể nhận ra điều gì về các hoạt động được giới thượng lưu quan tâm?
KHƠ-LÉT-XTA-CỐP - Còn phải nói! Này nhé, thí dụ, trên bàn, tôi cho bày một quả dưa hấu đáng giá bảy trăm rúp(1). Xúp nấu xong để nguyên trong xoong từ thành Pa-ri (Paris) nước Pháp được chở thẳng sang bằng tàu thuỷ, khi mở nắp xoong ra, hơi bốc lên nghi ngút chưa từng thấy ở trên đời này. Ngày nào tôi cũng dự những cuộc khiêu vũ. Rồi thì chúng tôi họp nhau chơi bài câm, quan thượng thư Bộ ngoại giao, các vị đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Anh, nước Pháp, nước Đức(2) và tôi. Chơi có thể nói là mệt lử đi như sắp chết mới thôi. Khi về nhà, chạy nhanh lên tầng gác thứ tư, chỉ kịp nói với mụ đầu bếp: “Này, Ma-ru-xca (Maruska), đưa áo khoác đây”. Tôi nói lảm nhảm gì ấy nhỉ? À, quên mất, tôi ở ngay gác hai. Chỉ có mỗi một cầu thang để leo lên thôi... Mỗi khi tôi ngủ dậy, ai mà ghé nhìn chỗ hành lang nhà tôi thì sẽ thấy lạ lắm. Bá tước, hoàng thân lúc nhúc xô đẩy nhau, nói lào xào như ong ấy, chỉ nghe thấy tiếng giè...giè...giè... Đôi khi có cả quan thượng thư... (Thị trưởng và mọi người khác khúm núm đứng cả đậy). Họ viết thư cho tôi để: “Kính gửi cụ lớn”. Có lần tôi điều khiển cả một vụ. Câu chuyện kể cũng lạ: một hôm quan vụ trưởng biến đi đâu mất, không ai biết là đi nơi nào. Cố nhiên thế là mọi người bàn tán xôn xao: ai thế chân bây giờ? Vô số anh nguyên soái cũng muốn tấp tểnh leo lên, nhưng, xin các anh, khó lắm, không cáng đáng được đâu. Mới nhìn tưởng dễ nhưng đi sâu vào xem, chà, hắc búa lắm! Không biết làm cách nào, họ phải cầy cục tìm đến tôi. Thế là lập tức ngoài phố nhan nhản những phái viên được cử đến chỗ tôi, hết phái viên, phái viên lại phái viên,... các ông thử tưởng tượng xem, có đến ba vạn năm nghìn phái viên, hoàn cảnh khó xử quá, tôi xin hỏi các ông làm thế nào? Họ nói: “I-van A-lếch-xan-đrô-vích, xin mời ông ra điều khiển vụ ngay”. Thú thật là lúc ấy tôi cũng hơi bối rối, mặc cả quần áo ngủ ra tiếp, định bụng từ chối, nhưng lại nghĩ nếu mình làm thế thì việc sẽ đến tai hoàng thượng; rồi công việc làm ăn của mình lại... Thế là tôi nói: “Thưa các ngài, được, xin vui lòng, tôi nhận nhiệm vụ, tôi nhận, làm thì làm, tôi nhận, nhưng đối với tôi ấy à, không lơ mơ đâu nhé, không. Tôi để ý đấy nhé! Tôi...”. Mà thật, khi tôi qua bên vụ, thật đúng như động đất ấy, tất cả mọi người đều sợ, cứ run bắn người lên như chiếc lá ấy. (Thị trưởng và mọi người đều run cầm cập vì hoảng sợ; Khơ-lét-xta-cốp càng nói càng hăng). Hừ! Tôi không thích đùa đâu nhé. Tôi làm cho tất cả bọn chúng nó khiếp vía lên. Ngay đến Quốc vụ viện còn phải hãi tôi kia. Chứ sao? Tôi thế. Tôi chả xem thằng nào là gì... Tôi nói với tất cả bọn họ: tự tôi biết tôi là ai, tự tôi. Đâu cũng tôi,
Vì sao Khơ-lét-xta-cốp càng nói càng hăng?
(1) Lương thư kí văn phòng thời đó là bốn trăm rúp một năm, dưa hấu bảy trăm rúp là không tưởng.
(2) Thực ra hồi này chưa có đại sứ Đức ở Nga.
đâu cũng tôi. Ngày nào tôi cũng vào trong điện. Chỉ mai kia là tôi sẽ được thăng đại thống ch... (Trượt chân, suýt ngã xuống sàn, nhưng cả bọn công chức kính cẩn đỡ y lên).
THỊ TRƯỞNG (lại gần, toàn thân run cầm cập, cố gắng lắp bắp) - Hừ... hừ... qua... qua... qua... qua...
KHƠ-LÉT-XTA-CỐP (nói nhanh đõng dạc) – Cái gì?
THỊ TRƯỞNG - Hừ... hừ... qua... qua... qua... qua...
KHƠ-LÉT-XTA-CỐP (vẫn nói với giọng cũ) – Tôi chẳng hiểu gì cả? Ông nói lăng nhăng cái gì ấy.
THỊ TRƯỞNG - Qua... qua... qua... quan lớn ngài có muốn nghỉ ngơi không ạ? Buồng đây ạ, có đủ mọi thứ cần dùng!
KHƠ-LÉT-XTA-CỐP – Thật dấm dở, nghỉ với chẳng ngơi. Ừ thì nghỉ, xin sẵn sàng... Các ông ạ, bữa ăn vừa rồi khá lă... ắm... Tôi bằng lòng lắm. Tôi bằng lòng lắm. Cá thu nạc muối ngon tuyệt, cá thu nạc muối ngon tuyệt!
Đi ra, vào buồng bên cạnh, thị trưởng theo sau.
(Ni-cô-lai Gô-gôn, Quan thanh tra, Vũ Đức Phúc dịch), NXB Lao động – Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2009, tr. 62-69)
Ni-cô-lai Gô-gôn (1809 - 1852) là nhà văn, nhà soạn kịch nổi tiếng của văn học Nga nửa đầu thế kỉ XIX. Gô-gôn sinh ra trong một gia đình quý tộc ở tỉnh Pôn-ta-va (Poltava), nay thuộc U-crai-na (Ukraina). Năm 1828, ông tới Pê-téc-bua, làm trợ lí ở Vụ bất động sản hoàng gia một thời gian. Gô-gôn bắt đầu viết văn và trở nên nổi tiếng với tập truyện đầu tay mang nhiều hương vị dân gian Những buổi tối ở thôn gắn Đi-can-ka (Dikanka) (1831-1832). Năm 1832, ông làm quen với Pu-skin, được nhà thơ đánh giá cao và được khơi gợi nhiều ý tưởng sáng tạo. Năm 1834, Gô-gôn được bổ làm trợ giảng về lịch sử thời trung cổ tại Trường Đại học Tổng hợp Pê-téc-bua. Trong khoảng thời gian 1836-1847, Gô-gôn sống nhiều ở nước ngoài (Đức, Thuỵ Sĩ, Pháp, Bỉ, Ý). Bắt đầu từ năm 1845, nhà văn rơi vào một cuộc khủng hoảng tinh thần, sa vào khuynh hướng tôn giáo thần bí. Năm 1852, Gô-gôn từ bỏ văn nghiệp, giam mình cầu nguyện, tuyệt thực, rồi mất tại nhà một người bạn ở Mát-xcơ-va.
Gô-gôn nổi tiếng trong lịch sử văn học thế giới với những tác phẩm như: Ta-rax Bun-ba - Taras Bulba (truyện, 1835), Những điền chủ cổ xưa (truyện, 1835), Bức chân dung (truyện, 1835), Nhật kí người điên (truyện, 1835), Cái mũi (truyện, 1836), Quan thanh tra (hài kịch, 1836), Chiếc áo khoác (truyện, 1842), Những linh hồn chết (tiểu thuyết, 1842). Phần nhiều những tác phẩm hiện thực của Gô-gôn thể hiện cơn mê sảng của thực tại đương thời với những hình tượng con người bị đồ vật hoá, thảm hại,
(1) Văn bản được người biên soạn sách giáo khoa chỉnh sửa một số câu chữ cho sát hơn với nguyên tác.
trống rỗng, tồn tại như những bóng ma và luôn ám ảnh về sự báo ứng. Giọng văn trào phúng của Gô-gôn, một mặt, thể hiện thái độ phủ nhận thực tại nhố nhăng đương thời "qua tiếng cười thế gian thấy rõ và những giọt nước mắt thế gian không trông thấy"(1); mặt khác, lại đau đáu niềm hi vọng vào một thực tại khác xứng đáng hơn với cuộc sống con người.
Hài kịch năm hồi Quan thanh tra của Gô-gôn được sáng tác trên cơ sở một giai thoại do Pu-skin gợi ý. Vở hài kịch là một đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của Gô-gôn và ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của sân khấu hài kịch thế giới. Quan thanh tra không chỉ là vở hài kịch đả kích “tất cả những gì tệ hại của nước Nga" dầu thế kỉ XIX, mà còn khơi dậy nỗi đau về sự tồn tại trống rỗng, phi lí của con người và niềm hi vọng vào một cuộc sống tốt đẹp hơn. Nhân vật quan trọng là một trong những lớp kịch đặc sắc nhất trong Quan thanh tra.
1.
Dựa vào phần tóm tắt hài kịch Quan thanh tra, hãy xác định tình huống hiểu lầm của vở kịch.
2.
Đối chiếu hoàn cảnh thực tế của Khơ-lét-xta-cốp (qua phần tóm tắt hồi II của vở kịch) với cuộc sống "thượng lưu" mà nhân vật khoe khoang trong đoạn trích, hãy lí giải nhân vật này đáng cười ở điểm nào.
3.
Thị trưởng cùng viên kiểm học Lu-ca Lu-kích, trưởng viện tế bán Ác-tê-mi Phi-líp-pô-vích thể hiện thái độ thế nào trước sự khoác lác, ra oai của Khơ-lét-xta-cốp? Vì sao?
4.
Nhân vật An-na An-đré-ép-na và Ma-ri-a An-tô-nốp-na đóng vai trò gì trong việc tạo ra tiếng cười trong đoạn trích?
5.
Xác định các thủ pháp trào phúng được tác giả sử dụng trong đoạn trích. Phân tích một thủ pháp nổi bật trong số đó.
6.
Qua việc đọc đoạn trích Nhân vật quan trọng và phần tóm tắt hài kịch Quan thanh tra, hãy nêu những điểm đặc sắc về xung đột và kết cấu của vở kịch.
7.
Theo bạn, "thói Khơ-lét-xta-cốp" bắt nguồn từ đâu và có thể gây ra những hậu quả gì? Nêu suy nghĩ của bạn về nhận định của Gô-gôn: "Ít ai tránh được việc trở nên giống Khơ-lét-xta-cốp, dù chỉ một lần trong đời".(2)
Kết nối đọc - viết
Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) nêu suy nghĩ của bạn về cách khắc phục “thói Khơ-lét-xta-cốp".
(1) N. Gô-gôn, Toàn tập tác phẩm, tập 6, NXB Viện Hàn lâm Liên Xô, 1951, tr. 134.
(2) N. Gô-gôn, Toàn tập tác phẩm, tập 4, NXB Viện Hàn lâm Liên Xô, 1951, tr. 101.
Văn bản 2
Giấu của (*)
(Trích Quần)
Lộng Chương
Hãy chia sẻ trải nghiệm của bạn khi xem một bộ phim hài, một vở hài kịch, hoặc đọc một truyện cười.
Cảnh vào trò
Bóng tối dày đặc.
Tiếng đồng hồ tích tắc như tiếng mọt đục trong đêm. Có tiếng động bước chân thận trọng, cánh cửa ngang “két” nhẹ. Một luồng ánh sáng đèn rọi vụt loé và chạy lướt chung quanh phòng, soi sáng từng mảng đồ đạc đủ các kiểu cổ kim đông tây... Rồi luồng sáng vươn lên tường, chiếu thẳng vào tấm ảnh bán thân một người đàn bà nạ dòng, cặp mắt trừng trừng nhìn thẳng, miệng loe một nụ cười ngây thộn: Ảnh bà Đại Cát.
Lời chỉ dẫn sân khấu ở đây có những điểm gì đáng chú ý?
Vẫn luồng ánh sáng ấy bỗng nhảy vọt sang tường đối diện, cắm thẳng vào tấm ảnh bán thân một người đàn ông đeo mục kỉnh (loang loáng trong kính ảnh) để râu vuông gọn tựa một đốt ngón tay đính giữa nhân trung, làm cho cái miệng ông ta như rúm lại, giống kiểu người chúm môi thổi sáo: Ảnh ông Đại Cát.
Tiếp đến là hai bóng người dắt tay nhau từ cửa ngang tối om, rón rén đi ra lượn quanh dưới hai tấm ảnh.
Hai bóng người đó chính là ông bà Đại Cát.
ÔNG ĐẠI CÁT – Bật lên tiếng cười như ho. Hụ! Hụ! Mợ xem... không suy suyển một li!
Luồng ánh sáng thu lại, chiếu thẳng vào hai người, soi rõ hai cặp chân đứng ríu vào nhau. Hai ống quần trắng của bà Đại Cát hơi rung rung.
BÀ ĐẠI CÁT – Cậu ạ... tôi thấy để đây... nó... nó lộ... lộ là!
Nhan đề đoạn trích do người biên soạn sách giáo khoa đặt.
ÔNG ĐẠI CÁT – Lộ gì? Hở mà kín, kín mà hở, không ai ngờ được!
BÀ ĐẠI CÁT – Thì cứ cất trong két ở ngay đầu giường mình có hơn không!
ÔNG ĐẠI CÁT - Để trong két, con Trinh nó mở ra luôn, có bao nhiêu nó biết cả...
Đến lúc phải khai vốn, nó lại khai ra hết thì hỏng bét! Yên lặng một giây.
O hay... làm sao mọ lại run cầm cập thế?
BÀ ĐẠI CÁT – Tôi... run đâu! Hai chân vẫn run.
Cậu thử nghĩ xem còn giấu ở đâu kín hơn nữa không?
ÔNG ĐẠI CÁT – Không đâu hơn cả! Giấu đâu cũng không lọt được với cụ cố nhà này. Bà cụ lục lọi cả ngày...
BÀ ĐẠI CÁT – Cậu này... hay là treo nó lên buồng ngủ?
ÔNG ĐẠI CÁT - Treo ai lên buồng ngủ?
BÀ ĐẠI CÁT - Treo cậu và tôi...
Chú ý thủ pháp gây cười được vận dụng trong đoạn đối thoại.
ÔNG ĐẠI CÁT – Sao lại treo mợ và tôi lên buồng ngủ?
BÀ ĐẠI CÁT – Là tôi bảo treo hai cái ảnh ấy chứ!
ÔNG ĐẠI CÁT – À... Không được!
Ảnh đang treo ở dưới này lại vác lên đấy, có khác gì lạy ông tôi ở đây không? Cứ để ngay trước mắt thiên hạ... thế mới cao tay. Họ không công tư hợp doanh(1) ảnh của mình đâu!
BÀ ĐẠI CÁT – Hay là đem chôn?
ÔNG ĐẠI CÁT - Chôn? Chôn mợ và tôi ấy à?
BÀ ĐẠI CÁT – Khéo khỉ! Là chôn... cái khoản kia ấy chứ!
ÔNG ĐẠI CÁT – Không được! Chôn xuống đào lên lỉnh kỉnh, nhỡ con U Trinh nó biết...
BÀ ĐẠI CÁT – Lưỡng lự một giây. Cậu này... Thế còn vòng xuyến tư trang có đúng là...
(1) Công tư hợp doanh: nhà nước và tư nhân cùng góp vốn kinh doanh.
ÔNG ĐẠI CÁT - Đúng rồi... Tư trang không phải là vốn kinh doanh, không sợ!
Luồng ánh sáng đèn chạy vút qua hai tấm ảnh.
BÀ ĐẠI CÁT – Thế cậu cho nốt chỗ này vào... Dúi vào tay chồng một gói nhỏ.
ÔNG ĐẠI CÁT - Đưa đây. Cầm gói. Mợ khiêng với tôi cái kỉ, để tôi trèo...
Hai người khiêng lúng túng, khiến ông Đại Cát đánh rơi đèn. Căn phòng tối mù.
BÀ ĐẠI CÁT – Buột miệng kêu to. Ôi trời ơi... Làm sao thế này?
ÔNG ĐẠI CÁT – Suỵt! Im... khẽ chứ. Mợ định đánh thức cả nhà dậy đấy à?
BÀ ĐẠI CÁT – Nhưng tối quá cậu ơi... Đèn đâu... bấm lên.
ÔNG ĐẠI CÁT - Đang mò đây. Đâu mất rồi không biết?
BÀ ĐẠI CÁT – Mất gì? Mất à?
Hai người cùng mò, đâm phải nhau.
ÔNG ĐẠI CÁT – Khỉ!
Đứng yên để người ta mò thì không, cũng lại bò ra... để mà tru lên thế...
Bà Đại Cát vẫn quờ quạng, sờ phải mặt chồng.
BÀ ĐẠI CÁT – Lại rú lên. Úi trời!
Hai nhân vật đã rơi vào tình thế hài hước như thế nào?
ÔNG ĐẠI CÁT – Cũng rú lên. Úi trời... Cào cả vào mặt người ta rồi.
Mợ ngồi im đấy, để tôi bật đèn lên vậy.
Dò dẫm ra chỗ bật điện. Đèn ống nhấp nháy, rồi bùng lên. Ánh sáng xanh lè. Bà Đại Cát vẫn còn phủ phục dưới đất. Hai vợ chồng mặc quần áo ngủ, lếch thếch, trông đến thiếu não.
ÔNG ĐẠI CÁT - Ô hay, mợ còn phục vị ra đấy làm gì nữa?
BÀ ĐẠI CÁT – Lấy bẩy chống gối đứng dậy. Cái gói... đâu?
ÔNG ĐẠI CÁT - Đây! Tôi giữ thì mất làm sao được mà mợ lo! Nhặt đèn bấm.
BÀ ĐẠI CÁT – Ngồi phịch xuống sập, cào lại mái tóc, tay còn run.
Ối chao ơi, sung sướng quá! Đang buôn đang bán thì đùng đùng chuyển hướng cơ. Cậu làm khổ lây cả tôi.
ÔNG ĐẠI CÁT - Nheo mắt nhìn vợ. Lại sắp sửa...
BÀ ĐẠI CÁT – Nặng giọng. Sắp sửa làm sao?
Xem bản PDF nguyên trang sách: Ngữ văn 12 tập 1 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 130–142).
