Yêu cầu cần đạt

  • Các hình ảnh thơ có tính chất biểu tượng.
  • Đặc điểm của thể thơ, ngôn ngữ, hình tượng thơ.
  • Những phát hiện, suy ngẫm của tác giả về sự phong phú, bí ẩn kì diệu của tình yêu và tâm hồn con người.

Thực hành đọc

Một số điều cần lưu ý khi đọc văn bản:

Ra-bin-đơ-ra-nát Ta-go (Rabindranath Tagore)(1)

Đôi mắt băn khoăn của em buồn,
Đôi mắt em muốn nhìn vào tâm tưởng của anh
Như trăng kia muốn vào sâu biển cả.
Anh đã để cuộc đời anh trần trụi dưới mắt em,
Anh không giấu em một điều gì
Chính vì thế mà em không biết gì tất cả về anh.
Nếu đời anh chỉ là viên ngọc
anh sẽ đập nó ra làm trăm mảnh
và xâu thành một chuỗi
quàng vào cổ em.
Nếu đời anh chỉ là một đoá hoa
tròn trịa, dịu dàng và bé bỏng
anh sẽ hái nó ra để đặt lên mái tóc em.

Bài thơ được in trong Người làm vườn, một tập thơ nổi tiếng gồm 85 bài, không có nhan đề, chỉ đánh số thứ tự. Tác giả sáng tác tập thơ bằng tiếng Ben-gan (Bengal), sau đó tự dịch sang tiếng Anh và xuất bản năm 1914. Tác phẩm đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới.

Ra-bin-đơ-ra-nát Ta-go (1861-1941) là nhà thơ vĩ đại của Ấn Độ, danh nhân văn hoá thế giới. Ông để lại một di sản nghệ thuật đồ sộ, bao gồm nhiều thể loại nhưng nổi tiếng nhất là thơ. Ông là tác giả đầu tiên của châu Á được trao giải Nô-ben Văn học. Thơ Ta-go thể hiện tình yêu cuộc sống tha thiết, mãnh liệt; giàu ý nghĩa triết lí và tư tưởng nhân văn; sử dụng thành công những hình ảnh thiên nhiên mang ý nghĩa biểu tượng, các hình thức liên tưởng so sánh và biện pháp tu từ điệp ngữ.

Nhưng em ơi, đời anh là một trái tim
Nào ai biết chiều sâu và bến bờ của nó.
Em là nữ hoàng của vương quốc đó
Ấy thế mà em có biết gì biên giới của nó đâu.
Nếu trái tim anh chỉ là những phút giây lạc thú
Nó sẽ nở ra thành một nụ cười nhẹ nhõm
Và em thấu suốt rất nhanh
Nếu trái tim anh chỉ là khổ đau
Nó sẽ tan ra thành lệ trong
Và lặng im phản chiếu nỗi niềm u ẩn.
Nhưng em ơi, trái tim anh lại là tình yêu
Nỗi vui sướng, khổ đau của nó là vô biên.
Những đòi hỏi và sự giàu sang của nó là trường cửu.
Trái tim anh cũng ở gần em như chính đời em vậy,
Nhưng chẳng bao giờ em biết trọn nó đâu.

(Ta-go - Tuyển tập thơ, Đào Xuân Quý dịch, NXB Văn hoá – Thông tin, Hà Nội, 2000, in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2018, tr. 169)

Thực hành tiếng Việt

Lỗi logic, lỗi câu mơ hồ và cách sửa

1

Chỉ ra lỗi logic trong các câu sau và sửa lại:

a

Là nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ mới, Vội vàng của Xuân Diệu như một bản tuyên ngôn về cách sống của cái tôi cá nhân.

b

Sử dụng điện gió vừa bảo vệ được môi trường, vừa không tốn nhiên liệu như nhà máy nhiệt điện.

c

Loan không thích nghệ thuật, vì cô ấy không biết làm thơ.

2

Trong các câu sau, có câu mắc lỗi về ngữ pháp, có câu mắc lỗi về logic. Hãy phân tích loại lỗi của từng câu và sửa lại:

a

Không chỉ say mê làm thơ, ông tôi còn rất thích sáng tác bằng thể lục bát và song thất lục bát.

b

Ăn nhiều rau quả vừa tốt cho sức khoẻ lại vừa giảm nguy cơ mắc một số bệnh.

c

Hoàng Phủ Ngọc Tường - một cây bút viết kỉ được Nguyễn Tuân đánh giá rất cao.

d

Bên cạnh từ đơn và từ ghép, tiếng Việt còn có bộ phận từ Hán Việt.

Nhận biết lỗi logic của câu và cách sửa

Các biểu hiện của câu mắc lỗi logic và cách sửa:

  • Có sự lẫn lộn các bình diện khi nói về đối tượng. Ví dụ: Trong các phóng sự phản ánh hiện thực đời sống Việt Nam trước Cách mạng, Vũ Trọng Phụng là cây bút xuất sắc nhất.

Ở câu này, người viết đã gộp hai bình diện khác nhau (tác giả và tác phẩm) làm một, khiến hai về câu không có sự tương thích. Cách sửa: Quy các ý về cùng một bình diện (hoặc bình diện tác phẩm, hoặc bình diện tác giả).

Có sự mâu thuẫn giữa các ý trong câu. Ví dụ: Việc làm kịp thời này lẽ ra phải được tiến hành từ tháng trước.

Đã nói là kịp thời thì không thể nói lẽ ra phải được tiến hành trước đó; ngược lại, nếu nói lẽ ra phải được tiến hành trước đó thì không thể cho là kịp thời. Cách sửa: Lược bỏ một trong hai ý (hoặc ý gắn với từ kịp thời, hoặc ý gắn với cụm từ lẽ ra).

  • Đặt các đối tượng không cùng cấp độ trong quan hệ đồng đẳng. Ví dụ: Báo in, báo điện tử, các phương tiện truyền thông, đài phát thanh, đài truyền hình,... đều có vai trò quan trọng trong cuộc sống hiện đại.

Phương tiện truyền thông đã bao hàm cả báo in, báo điện tử, đài phát thanh, đài truyền hình, vì vậy, không thể đặt ngang hàng với những phương tiện cụ thể đã được nó bao hàm. Để sửa chữa, cần phân chia cấp độ rành mạch cho các đối tượng được nhắc tới.

3

Đọc các câu sau và thực hiện yêu cầu:
a. Nêu những khả năng hiểu khác nhau về từng câu và lí giải căn cứ của mỗi cách hiểu.
b. Sửa lại để mỗi câu chỉ được hiểu theo một nghĩa.

Các cảnh sát truy tìm tên tội phạm không để lại dấu vết.

Trong vườn hoa cúc nở rộ rực một màu vàng.

Bầu trời in xuống dòng sông xanh ngắt một màu.

Doanh nghiệp làm ăn có lãi rất nhiều.

4

Nêu và phân tích các cách hiểu có thể có về những câu thơ sau, từ đó cho biết các câu thơ ấy có mắc lỗi câu mơ hồ hay không.

- Anh mang tình em đi
Qua những đèo lè nắng
Những sông trưa không đò
Những đường mưa ngần trắng
(Lê Đạt, Sáng soi)

Giọt nước mắt vầng trăng
Long lanh trong đáy giếng
(Thanh Thảo, Đàn ghi-ta của Lor-ca)

Đất đá ong khô nhiều suối lệ
Em đã bao ngày lệ chứa chan?
(Quang Dũng,
Mắt người Sơn Tây)

Lưu ý: Khi sửa lỗi, cần nắm bắt đúng điều người viết muốn biểu đạt để chọn hướng sửa phù hợp. Trong văn bản văn học, có những câu "phi logic" được tác giả chủ động sử dụng với ý đồ nghệ thuật riêng. Ở đây, không thể nói tác giả đã mắc lỗi.

Nhận biết lỗi câu mơ hồ và cách sửa

Lỗi câu mơ hồ tồn tại ở câu có cấu trúc được diễn giải theo những cách khác nhau, dẫn đến những cách hiểu nghĩa khác nhau. Ví dụ:

  • Câu Giải bài không được xem đáp án, có thể được hiểu là giải bài không được thì xem đáp án hoặc khi giải bài thì không được xem đáp án.

Câu Những ngôi nhà cao tầng được xây dựng ở một khu đô thị mới rất hiện đại, có thể được hiểu là những ngôi nhà cao tầng rất hiện đại được xây dựng ở một khu đô thị mới hoặc những ngôi nhà cao tầng được xây dựng ở một khu đô thị mới, hiện đại.

Để sửa lỗi câu mơ hồ, trước hết, phải xác định được ý cần biểu đạt, tiếp đó, đọc lại câu để biết cần thêm từ ngữ hay dấu câu vào vị trí nào nhằm biểu đạt đúng ý đã xác định.

Lưu ý: Cần phân biệt câu mơ hồ do sơ suất của người viết với những câu đa nghĩa trong văn bản văn học thể hiện sự sáng tạo nghệ thuật của nhà văn, nhà thơ.

Viết

Viết bài văn nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ (những hoài bão, ước mơ)

Trong đời sống, có nhiều vấn đề thu hút sự quan tâm, khơi gợi những suy nghĩ về bổn phận, tác động tích cực đến việc hình thành nhân cách của giới trẻ. Qua việc bàn luận một cách thấu đáo những vấn đề như vậy, người viết không chỉ có điều kiện phát triển, hoàn thiện kĩ năng nghị luận, mà còn xác lập nền móng nhận thức vững vàng, định hướng cho cách lựa chọn hành động của bản thân.

Yêu cầu

  • Nêu được vấn đề có ý nghĩa, liên quan đến những hoài bão, ước mơ của tuổi trẻ để bàn luận.
  • Trình bày được hệ thống luận điểm hợp lí, chặt chẽ; sử dụng lí lẽ sắc bén, bằng chứng xác đáng; biết phối hợp hiệu quả các thao tác: chứng minh, bình luận, bác bỏ, giải thích, phân tích, so sánh để tăng sức thuyết phục cho bài viết.
  • Nêu và phản bác được ý kiến trái chiều có thể có về vấn đề được bàn luận nhằm củng cố quan điểm của người viết.
  • Kết bài gây ấn tượng đối với người đọc, thúc giục tuổi trẻ hành động.

Bài viết tham khảo

Giá trị của tuổi trẻ

Nguyễn Lân Dũng(1)

Giới thiệu trực tiếp vấn đề nghị luận.

Những người trẻ tuổi là tác nhân lớn nhất của sự thay đổi trong một xã hội. Tuổi trẻ chắc chắn là một trong những khoảng thời gian đẹp nhất trong cuộc đời của mỗi người. Bạn tràn đầy năng lượng, ước mơ và có rất nhiều khát vọng. Nhưng cũng có nhiều thách thức đang chờ bạn.

Nguyễn Lân Dũng sinh năm 1938, quê ở tỉnh Hưng Yên, là giáo sư sinh học tác giả của nhiều bài báo bàn về những vấn đề thời sự của đất nước, nhất là về giáo dục.

Xây dựng tương lai cho tuổi trẻ

Nêu luận điểm thứ nhất (bằng một tiểu mục).

Tôi đã từng gặp không ít bạn trẻ tài giỏi, kể cả những thanh niên nghèo hoặc các bạn không có tay chân nguyên vẹn. Trịnh Xuân Mười, con thứ mười của một hộ nông dân nghèo ở Diễn Châu, Nghệ An, một mình vào Tây Nguyên lập nghiệp khi còn rất trẻ. Từ chỗ làm thuê cho gia đình trồng bơ anh đã lớn lên cùng với cây bơ và chẳng bao lâu trở thành “vua bơ như mọi người đặt tên cho anh. Anh đã tạo ra bốn giống bơ quý mang tên: XM1, XM2, XM3 và XM4. Anh trở thành tỉ phú nhờ bán các giống bơ quý này và sáng kiến trồng bơ làm cây che bóng cho cà phê. Anh còn cùng tôi sang Úc mang về giống bơ quý có thể bảo quản lâu ngày để xuất khẩu. Ngày nay giống bơ Úc đã mọc trên khắp Tây Nguyên.

Triển khai nội dung nghị luận (sử dụng bằng chứng).

Tôi cũng đã gặp, đã biết những bạn trẻ như Nguyễn Ngọc Bảo Khanh ở Hà Nội, chỉ có một cánh tay rưỡi mà từ nhỏ đã học giỏi, biết vẽ, biết chơi pi-a-nô, biết ném bóng rổ và đặc biệt là đã có thể viết tự truyện bằng tiếng Anh; như Lê Thị Thắm ở Thanh Hoá, sinh ra không có hai tay, viết bằng chân mà đã tốt nghiệp đại học, trở thành cô giáo dạy tiếng Anh miễn phí cho các bạn trẻ trong làng.

Nhiều tài liệu nước ngoài cho rằng: Giá trị của tuổi trẻ nằm ở sự chăm chỉ, nỗ lực, dũng cảm; ở sự phấn đấu, sáng tạo, cống hiến.

Có lẽ không có gì sai. Có tác giả đã viết: Thanh niên là trụ cột của một xã hội và do đó họ quyết định tương lai của bất kì xã hội nào. Thanh niên là xương sống của bất kì quốc gia nào. Có tác giả viết: Tuổi trẻ sống bằng hi vọng, tuổi già sống bằng kí ức.

Triển khai nội dung nghị luận (nêu lí lẽ).

Tuổi trẻ là quãng thời gian vô cùng quan trọng trong cuộc đời mỗi người. Tuổi trẻ của một quốc gia là những nhà lãnh đạo của ngày mai. Vì vậy điều quan trọng là phải giáo dục họ những giá trị tốt đẹp, sự mạnh mẽ cũng như những suy nghĩ sâu sắc.

Tuổi trẻ là niềm vui. Tuổi trẻ khoẻ mạnh về thể chất, hay tò mò, thích mạo hiểm và tận hưởng cuộc sống. Đây cũng là điều cần khuyến khích ở họ.

Chúng ta đang sống trong một thế giới bận rộn, nhiều thứ đã thay đổi, bao gồm cả quan điểm và kì vọng. Một số người lớn nghĩ rằng giới trẻ ngày nay là một thế hệ nghiện công nghệ, không muốn làm việc và chỉ tập trung vào việc vui chơi. Định kiến về tuổi trẻ như vậy dường như đã ăn sâu,

Nêu ý kiến trái chiều để phản bác.

xuất hiện với chúng ta hết lần này đến lần khác. Và thử thách của các bạn trẻ bắt đầu từ đây: phải làm sao để cho xã hội thấy giá trị và tiềm năng thực sự của tuổi trẻ.

[...] Rất đáng suy nghĩ về câu nói này của Phrăng-cơ-lin D. Ru-do-ven (Franklin D. Roosevelt): "Không phải lúc nào chúng ta cũng có thể xây dựng tương lai cho tuổi trẻ của mình, nhưng chúng ta có thể xây dựng tuổi trẻ cho tương lai". Thật ý nghĩa biết bao! Thanh niên đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất nước và xã hội. Nếu cần mô tả những người trẻ tuổi trong ba “từ , đó sẽ là: sức mạnh, thay đổi và hi vọng. Tuổi trẻ cần được tham gia vào các hoạt động sáng tạo và đổi mới, tham gia vào quá trình ra quyết định và phải có nhiều cơ hội hơn để lên tiếng trong cộng đồng, trường học và gia đình, bởi thế tiếng nói của tuổi trẻ luôn cần được lắng nghe.

Sử dụng ý kiến của người có uy tín để củng cố quan điểm đã nêu.

Học cách đặt mục tiêu

Nêu luận điểm thứ hai (bằng một tiểu mục).

Công nghệ đang giúp bảo vệ tương lai của giới trẻ. Công nghệ sẽ là trung tâm của hầu hết các công việc trong tương lai, và các kĩ năng công nghệ tiên tiến và điện toán, chẳng hạn như kiến thức về trí tuệ nhân tạo, sẽ được săn đón nhiều hơn. Không hề sợ hãi về một tương lai không chắc chắn, phần lớn những người trẻ tuổi lạc quan về tác động của công nghệ và đổi mới.

Theo khảo sát của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, 78,6% người được hỏi ý kiến cho rằng công nghệ đang “tạo ra chứ không phải đang “phá huỷ” việc làm. Giới trẻ ngày nay rất muốn trở thành một phần của thế giới. Họ cho rằng có một “hệ sinh thái khởi nghiệp” và “tinh thần khởi nghiệp” đang là chìa khoá mở ra tương lai cho các bạn trẻ.

Vào ngày Quốc tế Thanh thiếu niên năm 2020, người ta nêu khẩu hiệu: “Tuổi trẻ gắn kết hành động toàn cầu", một khẩu hiệu nhằm làm nổi bật cách thức những người trẻ tuổi tham gia ở cấp địa phương, quốc gia và toàn cầu. Những thách thức toàn cầu, như đại dịch virus Corona hoặc biến đổi khí hậu, cũng như các vấn đề địa phương, sẽ ảnh hưởng đến tương lai. Đã đến lúc cần xem xét mức độ ảnh hưởng đến nhóm dân số trẻ nhất và đưa ra các giải pháp. Những người từ 14 – 29 tuổi đại diện cho một thế hệ lớn nhất trong lịch sử.

Triển khai luận điểm bằng cách sử dụng các loại bằng chứng khác nhau.

Mối nguy hiểm lớn hơn đối với hầu hết giới trẻ không nằm ở việc đặt mục tiêu quá cao và không đạt được mục tiêu mà là đặt mục tiêu quá thấp và đạt được mục tiêu của mình.

Cha mẹ muốn con mình thành công ở trường học để đạt được thành công trong cuộc sống sau này. Các giáo viên cũng muốn như vậy vì họ có tham vọng giúp những người trẻ này thực hiện ước mơ của mình và có những lựa chọn trong cuộc sống để hạnh phúc trong khi đóng góp tích cực cho xã hội. Vì vậy, cần phát triển các chương trình để kích hoạt điều này, thấm nhuần quan điểm rằng mọi thứ chúng ta làm ở trường học và ở nhà đều phải nhằm tới việc mang lại món quà có ý nghĩa nhất có thể cho con cái chúng ta - món quà của một nền giáo dục ưu việt. Một số trường học nói về thành tích cao trong học tập, điều này có thể giúp một số người đạt được mục tiêu của họ, nhưng một trường học với triết lí khuyến khích tất cả mọi người có tham vọng còn hơn thế nữa. Đó là việc phát triển một khái niệm học tập rộng lớn hơn, vượt xa các kĩ năng, kiến thức và hiểu biết về các môn học truyền thống. Nó thúc đẩy học sinh, sinh viên xem xét bản chất của việc biết những gì chúng ta biết. Nó khuyến khích tuổi trẻ thách thức và phê bình những gì chúng đang được chứng kiến để phát triển, hiểu biết sâu sắc hơn về thế giới và tất cả những gì xảy ra trong thế giới đó. Xô-cơ-rát (Socrates) đã từng nói: “Cuộc sống không được thử thách không đáng sống đối với một con người”.

Triển khai luận điểm bằng giải thích, phân tích, bình luận.

Cuộc sống thường cho chúng ta thấy, một số người có tài năng nhưng ít tham vọng để thúc đẩy tiến lên sẽ dẫn đến lãng phí tiềm năng. Đó là hạt giống của động lực, khả năng phục hồi và sự bền bỉ kết hợp với các giá trị đạo đức mạnh mẽ được nuôi dưỡng trong môi trường học tập tốt nhất và khuyến khích những đặc điểm này phát triển để tạo ra những con người trưởng thành toàn diện, tự tin và tích cực cho một tương lai tốt đẹp.

Thời còn đi học, Giêm Đai-xơn (James Dyson) đã xuất sắc khi thi chạy đường dài: “Tôi chạy khá giỏi, không phải vì thể chất tốt mà vì tôi có nhiều quyết tâm hơn. Tôi học được sự quyết tâm từ đó”. Giêm Đai-xơn đã mất năm năm và tạo ra hơn 5 000 mẫu trước khi tung ra máy hút bụi không dùng túi. Tuy nhiên, không có nhà sản xuất hoặc nhà phân phối nào xử lí sản phẩm của Đai-xơn ở Anh, vì nó sẽ làm xáo trộn thị trường có giá trị cho loại máy có túi đựng bụi. Đai-xon đã tung sản phẩm này tại Nhật Bản thông qua bán hàng theo danh mục. Ông đã đối mặt và vượt qua nhiều thách thức trước khi công ti của ông trở nên thành công trên toàn cầu như ngày nay.

Sử dụng bằng chứng để củng cố lí lẽ.

Mai-cơn Gioóc-đan (Michael Jordan), vận động viên bóng rổ nổi tiếng đã không có một khởi đầu dễ dàng. Anh ấy bị chế giễu vì quá lùn để chơi ở cấp độ cao và anh ấy không được chọn, nhưng anh đã học được từ gia đình và từ các giáo viên của

mình là không bao giờ được bỏ cuộc và với một tầm nhìn đầy tham vọng và một suy nghĩ tích cực, anh đã có thể vượt qua các trở ngại.

Như vậy, tuổi trẻ đồng nghĩa với thay đổi, tiến bộ và tương lai. Suy cho cùng, tuổi trẻ là đối mặt với những thách thức và tạo ra hoặc tái tạo ra không gian cho sự phát triển toàn diện trong tương lai. Nó có nghĩa là biến vấn đề thành cơ hội và giải pháp và là động lực của xã hội.

Khái quát vấn đề nghị luận.

(Theo Nguyễn Lân Dũng, Giá trị của tuổi trẻ, báo Đại đoàn kết, ngày 17/3/2023)

1

Ở bài viết tham khảo, vấn đề gì liên quan đến tuổi trẻ được nêu để bàn luận? Người viết đặt mình vào vị trí nào để trình bày quan điểm về vấn đề này?

2

Bài viết triển khai mấy luận điểm? Cách phối hợp giữa lí lẽ và bằng chứng được thể hiện như thế nào ở từng luận điểm?

3

Chỉ ra những thao tác nghị luận đã được phối hợp sử dụng trong bài viết.

Thực hành viết

Chuẩn bị viết

Để viết bài văn nghị luận đáp ứng được yêu cầu của bài học, bạn phải chọn một đề tài có liên quan đến cuộc sống của tuổi trẻ hiện nay (quan niệm sống, định hướng tương lai, việc học tập và rèn luyện, cách ứng xử trong các mối quan hệ,...). Có thể tìm kiếm đề tài từ các cuốn sách, các phương tiện truyền thông hoặc từ chính những trải nghiệm đời sống của bản thân. Gợi ý một số đề tài: Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến xu hướng chọn nghề của giới trẻ; Nhu cầu thưởng thức âm nhạc, phim ảnh của giới trẻ; Ý thức về giới của các bạn trẻ; Quyền được thử và sai lầm của giới trẻ; Sống theo sở thích cá nhân và sống để phụng sự xã hội;...

Tìm ý, lập dàn ý

Tìm ý

Kết hợp tham khảo bài viết với việc tìm hiểu đề tài đã xác định, có thể nêu các câu hỏi như sau để suy nghĩ, tìm ý:

Cần giải thích điều gì ở vấn đề vừa nêu? Trong đề tài bài viết, có thể có các khái niệm, câu chữ cần được giải thích cặn kẽ thì mới bàn luận đúng hướng. Chẳng hạn, ở bài viết tham khảo, vấn đề bản chất của tuổi trẻ, các giá trị của tuổi trẻ đã được tác giả quan tâm giải thích trước khi nêu lí lẽ cần thiết.

Có những khía cạnh nào của vấn đề cần bình luận? Người viết có thể đánh giá sự đúng đắn của vấn đề hoặc nêu những kiến khác với quan điểm của mình để bình luận. Ở bài viết tham khảo, tác giả đã bình luận về tiềm năng của tuổi trẻ; những thách thức đối với tuổi trẻ trong thời đại khoa học công nghệ; thái độ thấu hiểu, đồng cảm cần có của người đi trước đối với thế hệ trẻ.

  • Cần có định hướng hành động như thế nào sau khi nhận thức được ý nghĩa của vấn đề? Tuỳ vào vấn đề đời sống và các luận điểm đã triển khai, người viết đề xuất phương hướng hành động. Bài viết tham khảo nêu trách nhiệm của xã hội đối với tuổi trẻ cũng như những điều người trẻ cần làm để phát triển bản thân.

Lập dàn ý

Theo hướng trên, người viết sẽ tìm và ghi nhanh một số ý theo thứ tự các câu hỏi. Sau đó sắp xếp lại cho hợp lí để có dàn ý hoàn chỉnh.

Mở bài: Giới thiệu vấn đề liên quan đến tuổi trẻ, nêu quan điểm của người viết về vấn đề đó.

Thân bài:

  • Giải thích từ ngữ, khái niệm để làm rõ bản chất vấn đề cần bàn luận liên quan đến tuổi trẻ.
  • Trình bày các khía cạnh của vấn đề (Vì sao vấn đề này thiết yếu đối với tuổi trẻ? Vấn đề gợi cho tuổi trẻ những suy nghĩ và hành động như thế nào? Cần có những điều kiện gì để tuổi trẻ thực hiện yêu cầu mà vấn đề nêu ra?,...). Với từng luận điểm, cần dùng lí lẽ và bằng chứng phù hợp để lập luận nhằm tạo nên sức thuyết phục của bài viết.

Bình luận về sự đúng đắn, thiết thực của vấn đề, bác bỏ ý kiến trái ngược để củng cố quan điểm của mình.

Kết bài: Khái quát lại ý nghĩa của vấn đề, liên hệ với đời sống thực tại, rút ra bài học cho bản thân.

Viết

Khi viết bài, cần bám sát dàn ý để triển khai tuần tự các luận điểm, đảm bảo tính mạch lạc và sự liên kết chặt chẽ giữa các câu, các đoạn.

Bàn về vấn đề liên quan đến tuổi trẻ, bạn cần viết với tâm thế của người trong cuộc, viết như trả lời những câu hỏi vẫn thường đặt ra cho bản thân, liên quan đến học tập và rèn luyện; cuộc sống hiện tại và định hướng tương lai; những ưu thế của tuổi trẻ hoặc khó khăn cần vượt qua;... Trong lập luận, cần khai thác dẫn chứng gắn với các mặt trong đời sống tuổi trẻ, từ những trải nghiệm của bản thân, tránh theo khuôn mẫu, công thức chung chung.

  • Luôn chú ý phối hợp các thao tác thường được sử dụng trong bài nghị luận (giải thích, phân tích, chứng minh, bình luận, so sánh, bác bỏ) để triển khai các luận điểm của phần Thân bài. Trong quá trình viết từng đoạn văn triển khai luận điểm, có thể dùng các yếu tố như tự sự, biểu cảm để tăng sức hấp dẫn và thuyết phục cho bài văn.

Cần nhận thức rõ: Vấn đề liên quan đến tuổi trẻ không đồng nghĩa với vấn đề của riêng tuổi trẻ. Vấn đề được chọn làm đề tài của bài viết cũng có thể liên quan đến mọi thành viên của cộng đồng. Tuy nhiên, khi viết bài, cần biết triển khai luận điểm từ góc nhìn của tuổi trẻ và chú ý khai thác những điều có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến tuổi trẻ.

Chỉnh sửa, hoàn thiện

Đối chiếu với yêu cầu của kiểu bài và dàn ý để có hướng chỉnh sửa. Ngoài việc soát lỗi chính tả, lỗi diễn đạt (từ ngữ, câu văn, đoạn văn), cần tập trung chú ý các phương diện sau đây:

  • Vấn đề đời sống liên quan đến tuổi trẻ được trình bày như thế nào ở phần Mở bài? Người viết đã thể hiện rõ quan điểm của mình về vấn đề chưa?
  • Các khía cạnh của vấn đề được triển khai thành các luận điểm ở phần Thân bài đã đầy đủ chưa? Có hiện tượng mất cân đối giữa các luận điểm trong bài không?
  • Các thao tác nghị luận được sử dụng và phối hợp với nhau như thế nào?

Phần Kết bài đã liên hệ với đời sống, nêu được phương hướng hành động sau khi nhận thức được ý nghĩa của vấn đề chưa?

Lần lượt bám vào các phương diện nêu trên để rà soát. Nếu thấy luận điểm nào còn mờ nhạt, lí lẽ và bằng chứng chưa đầy đủ, các thao tác nghị luận chưa rõ ràng, tương quan giữa các luận điểm thiếu cân đối,... thì phải chỉnh sửa hoặc bổ sung để hoàn thiện bài viết.

Nói và nghe

Thuyết trình về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ

Yêu cầu

Nêu được vấn đề có ý nghĩa để thuyết trình.

  • Xác định được mối liên hệ giữa vấn đề với đời sống của giới trẻ.
  • Làm rõ được từng khía cạnh của vấn đề, đánh giá được tính tích cực hay tiêu cực của các cách nhìn nhận về vấn đề.
  • Đảm bảo tính cụ thể, chính xác của các thông tin liên quan đến vấn đề.

Rút ra được ý nghĩa của việc thuyết trình về vấn đề.

Chuẩn bị nói

Lựa chọn đề tài

Bên cạnh những đề tài đã được gợi ý ở phần Viết, bạn có thể tham khảo thêm một số đề tài khác, chẳng hạn:

  • Tuổi trẻ hiện nay cần nhận thức như thế nào về vấn đề cống hiến và hưởng thụ?

Ứng xử như thế nào với các thế hệ khác nhau trong gia đình và trong cộng đồng cho phù hợp?

Vấn đề việc làm đặt ra với giới trẻ trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo có thể làm thay phần việc của con người ở một số lĩnh vực.

  • Vai trò của kĩ năng mềm đối với tuổi trẻ.

Tìm ý và sắp xếp ý

Nếu lựa chọn đề tài đã triển khai ở phần Viết, bạn cần dựa vào nội dung bài viết để lập dàn ý cho bài thuyết trình. Chú ý điều chỉnh cho phù hợp với hoạt động nói và nghe. Còn nếu chọn đề tài mới thì bạn cần tìm ý và xây dựng dàn ý cho bài thuyết trình. Để có hướng tìm ý, bạn hãy nêu một số câu hỏi xoáy vào các khía cạnh trọng tâm sau:

Bản chất của vấn đề là gì?

  • Vấn đề có liên quan như thế nào đến đời sống của giới trẻ?

Những khía cạnh nào của vấn đề cần làm rõ?

Cần định hướng hoạt động như thế nào sau khi đã nhận thức rõ về vấn đề?

Xây dựng dàn ý của bài thuyết trình bằng cách sắp xếp những ý đã tìm được vào các phần Mở đầu, Triển khai, Kết thúc một cách hợp lí.

Thực hành nói

Bài nói đảm bảo các phần: Mở đầu (giới thiệu vấn đề liên quan đến tuổi trẻ, chọn cách giới thiệu gây được chú ý cho người nghe); Triển khai (đi sâu vào từng khía cạnh của vấn đề, làm rõ sự liên quan của từng khía cạnh đó đối với đời sống của giới trẻ, lí giải và nêu cách thức ứng xử,...); Kết luận (làm rõ ý nghĩa của việc thuyết trình về vấn đề).

Việc nhận xét vấn đề tuy cần thiết, nhưng cần tiết chế, tránh làm cho bài thuyết trình (vốn ưu tiên cho việc cung cấp thông tin) biến thành bài nghị luận (chủ yếu đánh giá, bàn luận về vấn đề).

Trao đổi, đánh giá

Người nghe có thể nhận xét về sự cần thiết của vấn đề được đề cập, sức thuyết phục của bài thuyết trình, độ chính xác của các thông tin đã nêu, cách sử dụng ngôn ngữ và các yếu tố phi ngôn ngữ của người nói. Nếu có khía cạnh nào chưa rõ, yêu cầu người nói giải thích thêm.

Người nói cần làm rõ thêm những ý mà người nghe nêu thắc mắc, trao đổi lại các kiến đánh giá về nội dung và cách thực hiện bài thuyết trình.

Văn bản 1

Hải khẩu linh từ (Đền thiêng cửa bể)

Đoàn Thị Điểm

Hãy chia sẻ cảm nhận về một số truyện dân gian có yếu tố kì ảo mà bạn từng đọc.

Kể tên một số truyện truyền kì có yếu tố kì ảo mà bạn biết. Bạn có ấn tượng với tác phẩm nào nhất? Vì sao?

Nguyễn Cơ - cung phi(1) triều Trần là con gái nhà quan. Nàng có tiểu tự(2) là Bích Châu, tính tình đứng đắn, dung nhan tươi tắn, lại thông hiểu âm luật [...]. Vua Duệ Tông(3) biết tiếng, cho kén vào cung.

Giới thiệu lai lịch, chân dung nhân vật chính.

Một hôm, đúng tiết Trung thu trời đẹp, vua mở yến hội các phi tần. Đứng tựa hiên ngọc, nhà vua đưa mắt ngóng nhìn bốn hướng, thấy cảnh lâu đài tấp nập, mọi nơi ca múa, ánh đèn chói lọi cùng ánh trăng lồng bóng vào nhau.

Rồi nhân lúc rượu nồng, nhà vua nảy ra thì hứng, ngẫu nhiên thành một vế đối:

  • Thu thiên hoạ các quải ngân đăng, nguyệt trung đan quế(4).

Nhà vua ngâm nga một lát, rồi ngoảnh nhìn Nguyễn Cơ mà bảo:

  • Nàng có thể đối lại câu ấy chăng?

Nguyễn Cơ liền dời gót sen, hé môi đào chúm chím chậm rãi ứng khẩu(5):

  • Xuân sắc trang đài khai bảo kính, thuỷ để phù dung(6).

Nghe nàng ứng đối, nhà vua khen ngợi hồi lâu, rồi ban cho đôi ngọc long kim nhĩ(7) và nhân câu đối của nàng có hai chữ “phù dung” liền lấy hai chữ đó đặt tên cho nàng. Từ đó Phù Dung Nguyễn Cơ được vua yêu quý hơn tất cả các cung phi.

(1) Cung phi: chỉ chung các phi tần, cung nữ trong hoàng cung.
(2) Tiểu tự: tên chữ (tự), một trong số những danh xưng của các nhân vật thời xưa (huý, tự, hiệu, thuỵ....).
(3) Duệ Tông: tức Trần Duệ Tông (1337 – 1377), vua thứ mười triều Trần, là người phế truất Dương Nhật Lễ (tức Hôn Đức công, kẻ tiếm ngôi Trần Dụ Tông).
(4) Gác tía trời thu treo đèn bạc, quế đô ở trong trăng.
(5) Ứng khẩu: ứng đối trực tiếp.
(6) Đài trang xuân sắc mở gương trong, phù dung nơi đây nước. (Phù dung: hoa phù dung, tượng trưng cho vẻ đẹp kiêu sa.)
(7) Ngọc long kim nhĩ: vòng đeo tai bằng vàng, nạm ngọc hình rồng.

Bấy giờ Nguyễn Cơ thấy chính sự quốc gia tiếp theo thói tệ thời Hôn Đức nên ngày càng suy kém, bèn viết bài biểu Kê minh thập sách(1) dâng lên. Đại khái, nội dung của bài đó như sau:
“Trộm nghĩ đời củi khỏi bếp tranh(2), để phòng cháy trước khi chua chây, dùng dâu ràng của tổ(3) để ngừa mưa trước lúc chưa mua. Dân tình dễ chìm đắm vào sự yên vui, còn thế vận khó lòng giữ được luôn bình trị [...]. Thần là kẻ thiếp hèn mọn, tên tự Bích Châu, lúc nhỏ sinh ở bồng môn(4), khi lớn được hầu nơi tiêu thất [...].
Xin bày tỏ mười điều băn khoăn tấc dạ:
Một là, năng giữ cỗi gốc của nước, trừ hà bạo(5) thì lòng người yên vui.
Hai là, giữ phép xua bỏ phiền nhiễu thì kỉ cương không rồi.
Ba là, nén kẻ quyền thần, để ngăn ngừa chính sự mọt nát.
Bốn là, thải bớt kẻ những lạm(6) để trừ tệ khoét đục của dân.
Năm là, xin cổ động Nho phong(7), khiến cho đuốc lửa cùng ánh mặt trời soi sáng.
Sáu là, mở đường cho người nói thẳng, để cho cánh cửa của lòng thành cùng với đường can gián đều mở toang.
Bảy là, cách kén quân, nên chú trọng vào dũng lực hơn là cao lớn.
Tám là, chọn tướng nên cầu người thao lược mà không căn cứ vào thế gia(8).
Chín là, khí giới quý hồ bến sắc, không chuộng văn hoa.
Mười là, trận pháp(9) cốt cho tề chỉnh, cần chỉ điệu múa.
Mười điều kể trên rất là thiết thực, phơi bày tấm lòng trung, mong được bề trên soi xét. Hay tất làm, đỏ tất bỏ, vua nghĩ đến chăng! Nước được trị, dân được yên, thiếp mong lắm vậy!”

Tờ sớ dâng lên, vua vui thích quá, vỗ vào cây đàn mà reo lên:

  • Không ngờ một nữ tử lại thông tuệ dường này! Thật là một Từ phi(10) ở trong cung của trẫm vậy.

Tuy nhiên nhà vua vẫn còn do dự, chưa đem thi hành [...].

(1) Kê mình thập sách: mười kế sách (khuyên vua) trong buổi dậy sớm để coi việc triều chính. Kê mình (gà gáy) là tên bài thơ trong Kinh thi (Trung Quốc), thuật lời một phi tần khuyên vua dậy sớm để chăm lo việc nước.
(2) Dời củi khỏi bếp tranh, dùng dâu ràng của tổ: dẫn điển trong Hán thư (Trung Quốc), ý nói phòng ngừa từ trước để tránh những hậu hoạ.
(3) Bồng môn: cửa liếp lều tranh, chỉ sự nghèo hèn; đối với "tiêu thất” ở sau: buồng lụa, phòng son, chỉ sự quyền quý, cao sang.
(4) Hà bạo: hà khắc, bạo ngược.
(5) Những lạm: nhũng nhiều, lạm quyền.
(6) Nho phong: phong cách, trào lưu Nho học.
(7) Thế gia: ở đây có nghĩa là gia thế lớn, dòng dõi xuất thân cao quý.
(8) Trận pháp: phép tắc bài binh bố trận.
(9) Từ phi: Từ Huệ phi của Đường Thái Tông (Trung Quốc), là một cung phi hiền đức, từng can gián vua không nên xa xỉ và ham việc động binh.

Hải khẩu linh từ

(Đền thiêng cửa bể)

(Trích)

Đoàn Thị Điểm

(0) Cung phi: chỉ chung các phi tần, cung nữ trong hoàng cung.

(2) Tiểu tự: tên chữ (tự), một trong số những danh xưng của các nhân vật thời xưa (huý, tự, hiệu, thuỵ,...).

(3) Duệ Tông: tức Trần Duệ Tông (1337-1377), vua thứ mười triều Trần, là người phế truất Dương Nhật Lễ (tức Hôn Đức công, kẻ tiếm ngôi Trần Dụ Tông).

(4) Gác tía trời thu treo đèn bạc, quế đô ở trong trăng.

(5) Ứng khẩu: ứng đối trực tiếp.

(6) Đài trang xuân sắc mở gương trong, phù dung nơi đáy nước. (Phù dung: hoa phù dung, tượng trưng cho vẻ đẹp kiêu sa.)

(7) Ngọc long kim nhĩ: vòng đeo tai bằng vàng, nạm ngọc hình rồng.

(1) Kê minh thập sách: mười kế sách (khuyên vua) trong buồi dậy sớm để coi việc triều chính. Kê minh (gà gáy) là tên bài thơ trong Kinh thi (Trung Quốc), thuật lời một phi tần khuyên vua dậy sớm để chăm lo việc nước.

(2) Dời củi khỏi bếp tranh, dùng dâu ràng cửa tố: dẫn điền trong Hán thư (Trung Quốc), ý nói phòng ngừa từ trước để tránh những hậu hoạ.

(4) Bồng môn: cửa liếp lều tranh, chỉ sự nghèo hèn; đối với "tiêu thất" ở sau: buồng lụa, phòng son, chỉ sự quyền quý, cao sang.

(5) Hà bạo: hà khắc, bạo ngược.

(6) Những lạm: nhũng nhiều, lạm quyền.

(7) Nho phong: phong cách, trào lưu Nho học.

(8) Thế gia: ở đây có nghĩa là gia thế lớn, dòng dõi xuất thân cao quý.

(9) Trận pháp: phép tắc bài binh bố trận.

(10) Từ phi: Từ Huệ phi của Đường Thái Tông (Trung Quốc), là một cung phi hiến đức, từng can gián vua không nên xa xỉ và ham việc động binh.

(Lược một đoạn: Năm Long Khánh thứ tư - 1376, có bề tôi tâu trình việc quân Chiêm Thành quấy phá bờ cõi, vua muốn đem quân trừ diệt. Quan Ngự sử Lê Tích can gián “vua không nên lấy giận riêng mà khởi binh". Bích Châu biết vua không nghe lời nói thẳng và tỏ rõ ý khinh địch, bèn làm biểu dâng lên, nói rõ lẽ thiệt hơn, trong đó nhấn mạnh: bậc thánh nhân nên rộng lượng, đạo trị nước nên chú ý cái gốc, nên nghỉ việc binh để dân chúng yên vui).

Tờ biểu dâng lên, vua không trả lời, lại hạ lệnh duyệt binh, định đến tháng Chạp kéo quân đi đánh. Nàng thấy lời can không được vua nghe theo, so sức mình, lượng sức giặc, tấm lòng lo nước nhớ vua đăm chiêu ra sắc mặt. Nàng than:
Nghĩa là vua tôi, ơn là chồng vợ, đã không lấy lòng trung can gián nổi để giữ nền bình trị, lại không khéo lấy lời ngay để ngăn lòng hiếu chiến, thật là sống thừa trong cõi đất trời vậy.
Từ đó, nàng không để lòng đến sự trang điểm, ăn ngủ không yên, cố ý nài xin được đi hộ giá. Vua chuẩn y lời tâu ấy. Đúng ngày, nhà vua đem hai mươi vạn quân lên đường. Bóng cờ rợp trời, thuyền bè đầy sông, ba quân thuận dòng mà tiến, thẳng tới địa giới Kỳ Hoa(1). Các phụ lão nghe tin quân nhà vua đến, tranh nhau dâng lụa cùng thức ăn, đứng xếp hàng ở bờ sông chào đón và tâu:

  • Thần miếu ở phía trước rất hiển linh, các tàu thuyền qua lại nếu đến đó lễ bái thì sẽ được thuận buồm xuôi gió, không thì một mái chèo, một mảnh buồm đều bị đắm xuống đáy biển hết!

Vua uý lạo các phụ lão, cho lui về, rồi hạ lệnh tạm đóng quân ở bên bãi vắng. Khi ấy đang cuối mùa đông, mưa tuyết mới tạnh, trăng mờ mờ sáng, tiếng gió tiêu điều, cá bơi lượn đớp bóng cây mai, chim về tổ đan cành cổ thụ. Nàng Bích Châu cuốn rèm gấm lên, ngồi tựa mạn thuyền một mình, nàng rót rượu ngon, đốt hương thơm, bao nhiêu cảnh trời biển thiên nhiên đều thu vào trong tầm mắt. Lúc gần nửa đêm, Bích Châu ngửa mặt lên xem tượng trời, thấy một đám mây đen từ phương đông lại, lấn vào ngôi sao thứ tư bắc cực(3) rất gấp. Nàng sợ hãi chỉ vào sao ấy mà nói:
Ngôi sao kia ứng vào phận phi tần, chả biết yêu khí nơi nào dám đến xâm phạm? Có lẽ sao kia khinh ta không có thanh gươm Bao Công(4) hay sao?

Những chi tiết gợi sự linh thiêng, huyền bí có tác động như thế nào tới cảm xúc của bạn?

(1) Kỳ Hoa: tên vùng đất nay thuộc huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.

(2) Tượng trời: nguyên văn là thiên tượng, chỉ chung các biểu hiện, đặc điểm thiên văn, khí tượng....

(3) Sao thứ tư bắc cực: ở đây chỉ nhóm sao Bắc Đẩu, gồm bảy ngôi sao, ở thiên cầu bắc, mỗi sao có tên gọi riêng. Sao thứ tư có tên Hán Việt là Thiên Quyền.

(4) Thanh gươm Bao Công: ý nói công minh chính trực. Bao Công (Bao Chửng) người đời Tống (Trung Quốc), nổi tiếng là người cương trực, liêm khiết, có tài xử án.

Nói xong, nàng liền đóng cửa số đi nằm, trằn trọc không yên giấc. Chợt nghe tứ bề đã điểm trống canh tư. Nàng ngồi dậy bói một quẻ Kinh dịch(1), trúng vào quẻ “Phục” biến sang quẻ "Di" [...].
[...] Khi mặt trời chiếu vào cửa sổ trong thuyền, thì thuyền quân tiến đến cửa biển. Bỗng một trận gió lốc cuồn cuộn thổi vào thuyền vua, lớp lớp cờ đào bị gió cuốn sang phía tây nam. Nàng nói:

  • Trận gió ấy lạ thay! Tiếng ào ào, sắc ảm đạm, chắc là một thứ gió gian tà!

Vua hỏi:

  • Là nghĩa thế nào?

Nàng tâu:

  • [...] Xin nhà vua cấp tốc chỉnh bị(2) sáu quân(3) để đối phó.

Nàng nói chưa dứt lời, quả nhiên gió bão nổi lên, sóng biển gào thét. Nhà vua hạ lệnh thả neo để lánh trận gió mạnh. Cuối canh ba bỗng có một người nanh to râu xổm, diện mạo hung tợn, đầu đội mũ lưu tinh, mình mặc áo gấm vây, bước dài, cúi đầu, nghiêng mình, lắc lư đi thẳng đến trước mặt vua thi lễ. Vua hỏi:

  • Ngươi là ai? Đêm khuya tới đây chắc có điều gì muốn nói?

Người ấy thưa:
Tôi là đô đốc vùng biển nam(4), làm quan nơi giang hồ, hiện còn thiếu người nội trợ. Nghe nói, bệ hạ cung tần rất nhiều, nay ngẫu nhiên gặp nhau, cho nên nổi cơn sóng mạnh để thay câu thơ Hoa đường(5). Vậy xin nhà vua ban cho nàng Từ Vân, tôi sẽ kết cỏ (6) để báo đáp. Nếu bệ hạ chỉ để làm của riêng thì tôi không thể nào bỏ qua được.
Vua gật đầu, sực tỉnh giấc. Vua liền cho vời phi tần đến, kể lại giấc mộng. Các cung phi đều tái mặt, nhìn nhau im lặng, không ai nói gì cả. Trong lúc đó, nàng Bích Châu chứa chan nước mắt, nghẹn ngào nói chẳng ra lời, quỳ trước mặt vua, tâu:
Ngôi đền thiêng kia, các phụ lão đã trình tâu; cái nguy sóng gió đó, chứng nghiệm đã báo. Nếu không phải là oan khiên ngày trước, cũng tất là nghiệp chướng.

(1) Kinh dịch: một trong ngũ kinh, bộ sách triết học cổ Trung Hoa, luận về quy luật của trời đất và xã hội thông qua các quẻ bói. Quẻ “Phục" và quê “Di" có ý nghĩa trở lại và di dưỡng. Văn bản lược một đoạn, nói việc Bích Châu luận quẻ bói, cho rằng hành quân không có lợi, sau quả đúng như vậy.

(2) Chỉnh bị: chỉnh đốn cho đầy đủ, hoàn bị.

(3) Sáu quân: chỉ quân đội nói chung. Nguyên văn là lục quân: theo Chu lễ (Trung Quốc), quân đội của thiên từ góm sáu quân, mỗi quân có 12 500 người.

(4) Biển nam: biển phương nam; ở đây chỉ vùng biển phía nam nước Đại Việt thời bấy giờ.

(5) Hoa đường: một bài thơ trong Kinh thi (Trung Quốc), nói chuyện con gái vua được gả cho chư hầu.

(6) Kết cỏ: dẫn điền xưa, kể chuyện một ông già, kết có làm vướng chân giặc để trả ơn người cứu con gái mình; ý nói tìm mọi cách để báo ơn.

ngày nay. Thiếp không dám tham luyến phồn hoa, tiếc thân bồ liễu, xin trả cho xong cái nợ trước mắt kia.
Vua buồn rầu nói:

  • Lành dữ có mệnh, phúc hoạ do trời. Thiêng như Kiểm Doanh (1) cũng không tự chủ trương được. Này xem, Diệt Minh(2) là một tráng sĩ đã chém được con thuồng luồng cướp ngọc bích, Kính Chỉ(3) là một văn nhân còn giết được loài trai bể quen thói hiếp đáp, huống chi trẫm là một ông vua vạn thặng lẽ nào không tự chủ được, lại tin lời mê hoặc để nàng mắc luy oan?

Nàng khẩn khoản:
Thiếp tuy là phận gái, vả cũng theo đòi bút nghiên, có tin mê những việc ma quỷ đâu! Nhưng khốn, việc đã đến nơi, thế không thể đừng được. Ví bằng nấn ná e lại xảy ra tai biến to, có khi hải thuyền bị tan vỡ hết. Vả lại, khi hành quân, tướng sĩ là trọng, ân ái là nhẹ; đời xưa có người giết vợ, vứt con, cũng là do sự vạn bất đắc dĩ.
Vua nghe nàng nói, lòng thêm buồn bã, không nỡ rời bỏ nàng. Chính lúc ấy gió gào cuộn đất, sóng vỗ ngút trời, đã mấy phen thuyền rồng chục lật úp. Nàng khóc, tâu:

  • Có duyên may được hầu chăn gối, dám tiếc cái chết để nghĩa phụ phàng; không phải Cai trướng (4) ngậm oan, cũng khác Ngôi đình (5) nuốt giận, chỉ hiểm:

Ra quân chưa thắng thân xuôi trước.
Luống để anh hùng nước mắt tuôn! (6)
Đó là điều di hận của thiếp vậy. Sau khi thiếp chết, xin bệ hạ sửa văn, nghỉ võ, kén dùng người hiền, làm điều nhân nghĩa, dụng chước dài lâu cho nước nhà. Được như thế thì u hồn(7) thiếp có thể ngậm cười nơi chín suối!
Nói xong, nàng nhảy xuống biển. Trong gió gào sóng cuộn, còn nghe văng vẳng tiếng nàng:
Đa tạ quân vương, từ nay xin vĩnh biệt...

Dự đoán về hành động, ứng xử của nhân vật Bích Châu.

(1) Kiếm Doanh: tên một vị thần (theo truyền thuyết Trung Hoa).

(2) Diệt Minh: nhân vật trong truyền thuyết Trung Hoa. Diệt Minh mang ngọc qua sông, bồng sông nổi sóng, có hai con thuồng luống bám vào thuyền, Diệt Minh rút gươm chém chết, sông liên lặng sóng.

(3) Kính Chỉ: tức Hứa Tốn, người đời Tấn (Trung Quốc), học đạo tiên, chu du giang hồ, dùng phép thuật để trừ hại cho dân, từng giết yêu quái là một con trai biến thường hiếp đáp dân lành.

(4) Cai trướng: màn trưởng (doanh trại chỉ huy quân đội) ở Cai Hạ (Trung Quốc). Hạng Vũ bị Hán Cao tố vây ở Cai Hạ, tình thế nguy cấp, Vũ vẫn uống rượu ngâm thơ cùng vợ là Ngu Cơ. Ngu Cơ hoạ lại một bài rồi tự vẫn.

(5) Ngôi đình: đình Mã Ngôi (Trung Quốc). Đời Đường, An Lộc Sơn dấy loạn, đánh phá vào kinh đô. Khi Đường Huyền Tông chạy đến đình Mã Ngôi thuộc đất Thục, tướng sĩ cho rằng tai hoạ loạn lạc là do Dương Quý Phi và Dương Quốc Trung (anh họ Quý Phi), bèn lùng giết cả nhà Quốc Trung và ép vua xử chết Quý Phi.

(6) Dịch hai câu thơ của Đỗ Phù vịnh nhân vật Khổng Minh Gia Cát Lượng thời Tam Quốc (Trung Quốc).

(7) U hồn: linh hồn chịu oan khuất.

Vua và các phi tần kinh hoàng luống cuống, ai cũng thương khóc. Bỗng chốc, gió tan mưa tạnh, biển hết sóng cồn. Vua sai thuỷ quân mò tìm không thấy tung tích nàng đâu cả.
Nhà vua liền đặt lễ tế, đọc bài văn chiêu hồn [...].
Nhà vua tế xong, ba quân văn võ đều khóc sướt mướt. Vua lập tức hạ lệnh lên đường, tiến sâu vào cửa động Ỷ Mang(1), trúng phải quỷ kế của Bà Ma(2), toàn quân và nhà vua bị hãm ở trong động ấy, khiến bụi trần dậy đất, cáo hồ đầy đường.
*
Nhưng rồi vận suy đã hết. Bĩ cực thái lai(3). Lòng trời quyến cố(4) nhà Lê mở ra vận hội lớn. Đến triều Thánh Tông trị vì, khoảng niên hiệu Hồng Đức, ngoài biên thuỳ lại có giặc ngoại xâm. Vua nghe tin, bảo tả hữu:
[...] Ngày nay, hôn chúa Chiêm Thành kiêu căng khinh mạn, đảo ngược luân thường, tàn hại sinh dân, nếu không đem quân đi trị tội, thì làm sao cứu được dân lành?
Rồi hạ chiếu xuất quân, vua thân hành thống suất thuỷ binh tiến phát. Khi ấy gặp mùa xuân khí trời ấm áp, buồm gấm gió đưa, thuyền rồng êm sóng. Hai bên bờ sông chim oanh học nói, ngang mặt nước cò diệc lặn bơi [...].
Chưa đầy một tháng, thuỷ quân đã kéo đến cửa bể Kỳ Hoa. Bỗng nhiên mưa gió mịt mù, sóng biển dâng trào. Vua hạ lệnh cho các chiến thuyền theo thứ tự đóng lại. Trông sang bên kia bờ, cây to rợp đất, khí uất ngang trời, vua bèn cho dời thuyền đến gần xem. Thì ra đó là một toà miếu cổ, hương khói nghi ngút, hoa thơm ngào ngạt, cáo chuột ra vào trong bụi rậm, chim sẻ ríu rít nơi lau lách, hành khách treo tiền giấy trên cành cây, người làng gác thuyền bên cạnh đền. Vua hỏi dân sở tại, biết rõ đầu đuôi chuyện trước, liền chỉ vào miếu truyền rằng:

  • Đã lâu nay nghe tiếng nhà ngươi luôn luôn làm nhiều điều ngang ngược. Nay quân của trẫm đi qua đây, còn dám làm điên cuồng như thế, dẫu âm dương cách biệt nhưng phép nước trong tay ta. Nhà ngươi há lại không biết việc mộc yêu(5), cổ quái (6) chăng? Nay phải hối lại lỗi xưa, nếu không thì một phiến gạch vụn, một nắm tro tàn cũng bị phá tan thành đất phẳng.

Dự đoán về diễn biến câu chuyện.

(1) Ỷ Mang: một địa danh thuộc đất Chiêm Thành ngày trước.

(2) Bà Ma: tên một vị tướng của Chiêm Thành, lập mưu vây hãm quân nhà Trần, dẫn đến thất bại của nhà Trần trong lần chinh phạt này.

(3) Bĩ cực thái lai: hết vận hạn trắc trở tới thời kì phát triển thuận lợi; Bĩ (khó khăn), Thái (sáng sủa, hanh thông) là tên hai quẻ trong Kinh dịch.

(4) Quyến cố: yêu mến, chiếu cố.

(5) Mộc yêu: yêu quái ẩn trong cây cối.

(6) Cổ quái: yêu ma ẩn trong cái trống.

Nói xong, tiếng sóng càng mạnh, khi ấy mặt trời đã lặn, bóng trăng lên cao, đêm khuya thỉnh thoảng nghe tiếng người thuyền chài hát văng vẳng ở trong cảng nhỏ. Vua băn khoăn không ngủ, ngồi xem sách. Gần lúc gà gáy, vua tựa án rồng chợp mắt thiu thiu, bỗng thấy một người con gái, nhan sắc rất đẹp, từ dưới nước hiện lên, lạy khóc mà nói:

  • Thiếp là cung nhân đời Trần Duệ Tông, không bị chìm đắm ở bến Đố Phụ (1) và cũng không bị nước cuốn ở Tiêm Đài (2), chỉ là hồng nhan bạc mệnh, chiếc bóng một mình, phiêu lưu vào trong tay yêu quái. Từ khi về nơi thuỷ quốc(3), ở lẫn với loài hôi tanh, xấu hổ làm vợ họ Trương(4), bi luỵ làm tù nước Sở (5), ngậm sầu như biển, coi ngày bằng năm, giận thân không thể hoá ra hồn tinh vệ(6), chỉ đau lòng mà thốt ra phú Li tao(7). May sao ngày nay gặp đức Thánh hoàng, dám xin cả gan tâu bày, mong được ra tay tế độ, vớt kẻ trầm luân, để cho tiện thiếp lại được trông thấy ánh sáng mặt trời. Đó là ân lớn của bệ hạ tái tạo vậy.

Vua nghe nói xót thương mà bảo:
Nỗi oan của phu nhân cũng như Liễu Thị(8), có nghĩa hơn Tào Nga(9), ngàn đời về sau cũng lấy làm đau lòng cắn răng! Chỉ hiểm, âm dương cách biệt, thuỷ bộ đôi đường, dẫu có rừng gươm núi giáo cũng chưa rõ làm cách gì để cứu vớt?
Nàng thưa:
Việc này rất dễ. Bệ hạ nhân từ tín nghĩa khắp cả đến mọi loài vật. Tên đô đốc Nam Minh kia, tội ác đầy rẫy, sóng biển không rửa hết. Ngoài biển Nam Minh có Quảng Lợi vương là vị thống trị nó, xin bệ hạ gửi cho Quảng Lợi vương một lá thư

(1) Đố Phụ: bến sông Đồ Phụ ở đất Lâm Thanh (Trung Quốc). Tương truyền, vợ Lưu Bá Ngọc đời Tần tính hay ghen, Bá Ngọc làm thơ khen ngợi nữ thần sông Lạc, bà giận, gieo mình xuống sông chết, hoá làm thuỷ thần bến sông ấy. Phụ nữ qua bến đều phải bỏ trang sức, không được trang điểm, nếu không thuỷ thần sẽ nổi sóng gió cuốn đi.

(2) Tiêm Đài: đài làm trên sông. Sách Liệt nữ truyện (Trung Quốc) chép rằng: Sở Chiêu Vương đi ra ngoài chơi, để phu nhân ở lại Tiêm Đài. Nước sông dâng to, vua sai người về đón nhưng quên không mang vật làm tin nên phu nhân không chịu đi; nước sông lên ngập đài, bà bị chết đuối.

(3) Thuỷ quốc: lãnh vực ở dưới nước, chỉ sông biển.

(4) Làm vợ họ Trương: điển tích này hiện có nhiều thuyết khác nhau. Phỏng đoán là Trương Kỳ, người thời Tam Quốc (Trung Quốc), bị ép uống trong hôn nhân, số phận gặp nhiều ngang trái. Cũng có thể tác giả dẫn điền về "người con gái Nam Xương" có số phận bất hạnh, vợ của nhân vật Trương Sinh trong tác phẩm của Nguyễn Dữ.

(5) Làm tù nước Sở: thời Xuân Thu (Trung Quốc), Chung Nghi theo tướng nước Sở đi đánh nước Tấn, bị quân Tấn bắt giam.

(6) Tinh vệ: tên một loài chim ở bãi biển. Truyền thuyết Trung Hoa chép chuyện con gái Viêm đế chết đuối ở biển, hoá làm chim tinh vệ, mỗi ngày đều ngậm đá vụn và cành cây nhỏ để lấp biển.

(7) Li tao: tên tác phẩm của Khuất Nguyên (Trung Quốc). Khuất Nguyên tận trung với nước Sở, vì can gián Sở vương mà bị đuổi, nước Sở bị diệt vong. Khuất Nguyên viết Li tao, thể hiện chí hướng và nỗi u uất của mình.

(8) Liễu Thị: tương truyền là người đời Đường, xuất thân ca nương, có tài sắc; từng có mối tình duyên với nhà thơ Hàn Hoằng. Về sau, do xã hội biến loạn, nàng phải chịu nhiều nỗi oan khiên, bèn xuống tóc nương nhờ cửa Phật.

(9) Tào Nga: tương truyền vào đời Đông Hán (Trung Quốc), khi Tào Nga mười bốn tuổi, cha bị chết đuối, nàng khóc thương thảm thiết rồi gieo mình xuống sông; ít ngày sau, người ta thấy thì thế nàng ôm xác cha nổi lên.

trách rằng, thiếu sự ngăn phòng kẻ dưới, tự khắc Quảng Lợi vương phải trị tội tên hung thần kia.
Rồi nàng liền dâng ngọc minh châu mà bảo:

  • Ngọc châu này gọi tên là triệt hải(1), soi thấy cả nơi âm u, kính dâng lên để thay thông thiên tê(2) ở Ngưu Chử(3).

Chú ý nội dung đối thoại qua thư trao đổi giữa Quảng Lợi vương và Lê Thánh Tông.

Nói xong nàng biến mất. Vua duỗi tay ra nhặt lấy ngọc châu, chợt tỉnh giấc thì tiếng chuông đã báo sáng. Nhà vua sai thị thần là Nguyễn Trọng Ý viết một phong thư, bắn ra ngoài biển, treo ngọc minh châu nhìn ra, quả nhiên thấy lầu son gác tía, thành đồng ao nóng, con cháu ngư long cưỡi ngựa đi kiệu, qua lại dưới thành, không lúc nào ngớt bóng. Khi ấy có Kình hiệu uý(4) đi tuần tiễu về, nhặt được bức thư mà nhà vua đã niêm phong cẩn thận, vội vàng đem vào tâu.
Chính lúc ấy Quảng Lợi vương ngồi ở điện Linh Đức, sai Long thượng thư(5) mở ra đọc. Thư rằng:
“Thường nghe: ban phúc người thiện, ra tai kẻ dâm, đạo trời nhanh như tiếng dùi với trống; ban thưởng người tốt, phạt tội kẻ xấu, vương chính(6) vững như chất đá cùng vàng, trên dưới như nhau, xưa nay một lẽ. Nay trầm nối ngôi chính truyền của tổ tiên, đem quân đánh Chiêm Thành là do tội ác của chúng, trời đất thần người đều không tha thứ. Quân thuyền trăm vạn tiến phát, ba nghìn thuỷ lộ mở đường. Hoàng việt(7) vẫy thì cá tôm chìm lặn, loài vật cũng biết sợ hãi; bạch mao(8) trỏ thì gió mây biến sắc, ai là không sợ giản thư(9)? Ấy thế mà bầy tôi diều hâu độc dữ của ông còn dám chống lại đội quân chim cắt tung cánh(10) của trẫm, y làm yêu làm quái, hiếp oan cung nữ vua Trần, tham sắc tham tài, lại nhiễu hại tính mệnh dân lành. Kẻ kia tất hung hăng quá lắm, sao ngài cứ lặng ngắt ngồi yên? Phải sáng suốt soi gian, đừng để kẻ tiểu nhân lẫn với người quân tử, nên quyết đoán việc làm, nghiêm dùng quốc pháp, giết bọn gian tà. Xin gửi phong thư, chờ mong phục bút!".

(1) Triệt hải: nước biển (hải) trong thấu suốt (triệt); ở đây ví viên ngọc châu như chiếc gương thần, có thể soi thấu tất cả.

(2) Thông thiên tê: chiếc gương trong suốt như băng, có thể soi thấu mọi chỗ trong trời đất. Xem thêm cước chú 3 (Ngưu Chử).

(3) Ngưu Chử: một bến sông trên dòng Trường Giang, thuộc tỉnh An Huy (Trung Quốc). Truyền rằng, Ôn Kiệu người đời Tấn, qua bến sông này, dùng gương thần soi thấy ở đó có nhiều loài thuỷ tộc rất kì quái.

(4) Kình hiệu uý: tướng cá kình.

(5) Long thượng thư: thượng thư rồng.

(6) Vương chính: nền chính trị tốt đẹp; nói tắt của nhân chính (nên chính trị theo đường lối nhân nghĩa) và vương đạo (đạo đức tốt đẹp của bậc quân vương), theo tư tưởng Nho học của Mạnh Tử.

(7) Hoàng việt: cái búa vàng.

(8) Bạch mao: cờ có gắn lông trắng. Chu Vũ Vương (Trung Quốc) khi đánh nhà Trụ từng dùng hoàng việt và bạch mao để chỉ huy quân sĩ.

(9) Giản thư: tờ lệnh của vua.

(10) Chim cắt tung cánh: ý nói đội quân có sức mạnh như chim cắt tung cánh.

Quảng Lợi vương nghe đọc xong, mặt rồng nổi giận, nói:
Người nào cai quản địa phương ấy?
Ngao ngự sử(1) ở trong triều ban nhảy ra tâu:

  • Đó là hải khẩu Giao đô đốc vậy. Y là cành vàng lá ngọc, chịu trách nhiệm trông coi một phương trời, chuyên quyền phóng túng, tham sắc đẹp, ăn hối lộ.

Quảng Lợi vương đập gươm xuống bàn nói:
Quả nhân ít đức, dùng người không xứng đáng; lũ các ngươi a dua để cho y làm rối loạn kỉ cương, mang tiếng với trần gian; tội ác của y không khác gì tứ hung (2) và ngũ cẩu(3), thực đáng sợ vậy! Nay phải phanh thây để làm răn cho hạng người tham bạo”.
Khi ấy Côn thừa tướng (4) đứng lên tâu:

  • Đức xấu của Giao đô đốc tung khắp cả trên trần gian và dưới âm ti, nếu chỉ dùng hình pháp(5) trị y, chưa đủ làm cho mọi người hả dạ. Nay không gì hơn là, viết thư trả lời, rồi sai tướng đi bắt để làm tội một cách công khai, cho tỏ rõ hiến chương (6) của chúng ta rất nghiêm ngặt.

Quảng Lợi vương cho là phải, liền hạ lệnh cho Ngạc tổng bình(7), Miết tòng sự (8) đem vài nghìn lính mặc áo giáp, đội mũ trụ đi tróc nã Giao đô đốc. Lại sai Lí hàn lâm(9) thảo thư, Long các thần (10) sửa lại, Quy đốc bưu(11) sung chức giang sứ (12) mang thư ra đầu bãi biển. Vua sai học sĩ Lương Thế Vinh nhặt lấy xem. Đó là một lá thư viết vào lụa, mở ra đọc, thấy thư viết:
“Thường nghe: khí mùa xuân ấm áp, hang tối chưa kịp thấm nhuần; ánh mặt trời soi chung, chậu úp không thể thấu đến. Vì trời đất còn có chỗ thiếu sót mà tạo hoá cũng phần nhiều không đều. Tôi đây thẹn rằng, tài hèn lạm giữ chức cao, hết lòng cầu tìm người hiền tài, mong có sự phò giúp của lương tá. Vốn đã biết, vương đạo phải công bằng rất mực, nhưng khốn nỗi gian tà còn che lấp thông minh. Cho nên phiên trấn xa xôi, còn có cường thần làm bậy... Dẫu là hai nơi âm dương cách biệt, nhưng ba thước gươm sáng chẳng dung gian tà.
Kính cẩn trả lời, dám mong xét đến”.

(1) Ngao ngự sử: ngự sử cá ngao.

(2) Tứ hung: bốn kẻ hung bạo thời vua Thuấn trong truyền thuyết Trung Hoa, sau đều bị Thuấn trị tội.

(3) Ngũ cẩu: năm con chó; chỉ năm kẻ gian tà đời Đường (Trung Quốc), hùa theo bè đàng của Vũ Tam Tư làm loạn.

(4) Côn thừa tướng: thừa tướng cá côn.

(5) Hình pháp: chỉ chung pháp luật và hình phạt theo quy định.

(6) Hiến chương: chỉ luật lệ, phép tắc của quốc gia.

(7) Ngạc tổng bình: tống bình cá sấu.

(8) Miết tòng sự: tòng sự ba ba.

(9) Lí hàn lâm: hàn lâm cá chép.

(10) Long các thần: các thần giao long.

(11) Quy đốc bưu: đốc bưu rùa.

(12) Giang sứ: người sử đi tuần vùng sông bể.

Đọc xong thư ấy, vua trao lại cho quần thần cùng xem. Khi mọi người để mắt trông ra ngoài biển đều thấy: đi trước là Ngạc tổng binh, theo sau có các loại cá lớn, các loài rùa, ba ba,... như sấm như sét tiến thẳng vào hải phận của Giao thần (1). Miết tòng sự dõng dạc tuyên chỉ:

Chú ý những chi tiết miêu tả việc thực thi luật pháp ở thuỷ cung.

  • Tên Giao thần kia, nhỏ mọn tài hèn, hùng phiên trọng nhậm(2); không giữ lòng chính trực, lại quen thói tà dâm, dấn thân nơi nguồn lợi tham ô, chìm đắm vào ba đào sắc dục. Thật là đáng đem ra chém giết, dùng chính trăm hình(3); nhưng nghĩ đến đánh dẹp có công hãy khoan bát nghị (4) đày lên lục địa, cho được toàn sinh. Khâm thử(5)!

[...] Giao thần cụp đuôi biến mất.
Bỗng chốc, sóng biếc lặng im, non xanh phơi bóng, “hòn ngọc Minh Châu(6” lúc trước không biết hiện thân vào nơi nào, chỉ thấy pha lê nhấp nhánh, hương hài nổi lên, vẻ đẹp vẫn y nguyên, nhan sắc bình sinh không thay đổi. Vua cho lấy lễ hoàng hậu mai táng, làm văn tế, dâng lên lễ điện(7) rồi để lên tường bên trái miếu ấy bài thơ:
Một vị hiền phi của vua Trần,
Hi sinh vì nước quản chi thân.
Đào hoa chìm nổi cơn giông tố,
Đỗ Nhược (8) mơ màng giấc mộng xuân.
Dòng nước vô tình chôn Sở phụ(9),
Hương hồn nào chỗ viếng Tương quân (10).
Than ôi! Trăm vạn quân hùng mạnh,
Lại kém thư sinh một hịch văn!
Để thơ xong, nhà vua chỉnh đốn quân lữ lên đường. Quân đi đến đâu như gió mùa thu bẻ cành khô, núi Thái Sơn đè quả trứng, bắt sống tù trưởng, hát khúc khải hoàn. Khi vua kéo quân về, gặp lúc mặt trời xế chiều, thuyền quân lại đi qua nơi cũ, nhân tiện đóng quân ở dưới đền.
Đêm ấy trăng sáng sao thưa, nước trời hoà sắc, vua hồi tưởng lại việc thần thuồng luồng nổi sóng, bà Duệ phi quyên sinh, ngậm ngùi than thở:

(1) Giao thần: thần thuồng luồng.

(2) Hùng phiên trọng nhậm: (được giao) trọng trách lớn ở nơi phiên dậu trọng yếu.

(3) Dùng chính trăm hình: ở đây có nghĩa đáng bị trừng trị cả trăm lần theo luật pháp.

(4) Bát nghị: sách Chu lễ (Trung Quốc) ghi chép về "bát nghị" – tám phép để xét khoan giảm trong xử án.

(5) Khâm thử: từ có tính khuôn mẫu, kết thúc các sắc lệnh của vua, hàm ý mọi người phải tôn trọng chấp hành.

(6) Ngọc Minh Châu: ở đây chỉ nàng Bích Châu.

(7) Lễ điện: bày rượu và tế phẩm dâng cúng thần linh.

(8) Đỗ Nhược: tên một bến sông, dẫn điền xưa, nói ý niệm về cuộc đời tựa như giác mộng.

(9) Sở phụ: phu nhân nước Sở, xem cước chú 2 ở tr. 100.

(10) Tương quân: bà phi sông Tương. Theo truyền thuyết Trung Hoa, vua Thuấn đi tuần phương nam, chết ở núi Thương Ngô; hai bà phi của vua đi tìm, trông về Thương Ngô mà khóc rồi trắm mình xuống sông, hoá làm thần sông ấy.

Quốc gia hưng vượng tất có điềm lành, quốc gia suy đồi tất có điềm dữ, điểm lành hay điểm dữ thật có liên quan đến đức của ông vua tốt hay xấu.
Nói xong, trong lòng nhà vua bồi hồi không ngớt. Ngọn đèn lờ mờ, đồng hồ nhỏ giọt, chợt nhà vua thấy một mĩ nhân vẻ mặt đoan trang, mặc áo trắng, đến trước vái chào mà thưa:
Nhờ ơn Thánh hoàng tế độ u hồn, nay thiếp đã lên tiên, tiêu diêu nơi mây trắng. Thượng đế thương lòng trung thành của thiếp, sai giáng linh xuống trần, được trông coi hoạ phúc một phương. Thiếp đã mở xem tiên tích, biết bệ hạ là Tiêu Điện tiên đồng, ngày sau được gặp, sẽ ngậm vành đáp tạ để trả ơn to như núi cao biển rộng của người. Duy có một điều thắc mắc về câu kết bài thơ ngự để vàng ngọc ở trên tường, làm cho thiếp không được yên lòng về chỗ vua tôi, chồng vợ.
Vua gật đầu nói:
Phu nhân lúc nào trong lòng cũng nhớ đến vua, thực là một người anh kiệt trong đám nữ lưu. Trầm sẽ vì phu nhân mà đổi lại câu ấy.
Nói rồi vua cầm bút định viết, liền sực tỉnh dậy, hoá ra một giấc chiêm bao. Sáng hôm sau, vua cho quét vôi câu cũ mà viết lại rằng:
Muôn thuở cương thường không hổ thẹn,
Thư cưu(1) vòn sóng dưới chân đến.
Sau khi về đến kinh đô, nhà vua hạ chiếu cho lập đền thờ phu nhân, cấp ruộng tế và cắt người coi đền, lại sắc phong thần, trong đó có hai chữ “Chế Thắng”(2). Mãi đến đời nay khói hương vẫn còn nghi ngút, rất là linh ứng.
Ngô Lập Chi dịch
(Chinh lí theo: Nguyễn Đăng Na, Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập một, Truyện ngắn, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1999, tr. 329-343)

Chú ý sự lặp lại của yếu tố "giấc mộng" trong diễn biến của câu chuyện.

Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748) biệt hiệu Hồng Hà nữ sĩ, người huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, sinh ra trong một gia đình có truyền thống khoa bảng. Cha và anh đều đỗ đạt và làm nghề dạy học; bản thân bà cũng từng mở trường và có công dạy học cho cung nữ trong phủ chúa Trịnh. Đoàn Thị Điểm là người tài sắc, biết nghề làm thuốc, văn chương nổi tiếng đương thời. Tác phẩm còn lại của bà gồm có Truyền kì tân phả và bản dịch (diễn âm) Chinh phụ ngâm khúc (nguyên tác Hán văn của Đặng Trần Côn).
Truyền kì tân phả (Cuốn phả mới về truyện “Truyền kì) còn có tên khác là Tục Truyền kì lục (Ghi chép nối tiếp sách "Truyền kì”). Tên truyện cho thấy rõ ý của tác giả

Trang bìa sách Truyền kì tân phả, bản AB. 48

(1) Thư cưu: loài chim nước, sống thành đôi, không rời nhau. Bài Quan thư trong Kinh thi (Trung Quốc) có câu thơ nói về loài chim này, thể hiện sự hoà hợp lứa đôi.

(2) Chế Thắng: vua Lê Thánh Tông ban sắc phong nàng Bích Châu là Chế Thắng phu nhân; theo nghĩa chữ Hán, chế thắng có ý nghĩa văn chương là tạo ra khuôn phép đẹp đẽ.

là muốn tiếp nối Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ. Bản gốc Truyền kì tân phả đã thất lạc, hiện còn biết được một số dị bản. Bản lưu truyền hiện nay do nhà sách Lạc Thiện xuất bản (đầu thế kỉ XIX).
Hải khẩu lĩnh từ (Đến thiêng cửa bê) là một truyện trong Truyền kì tân phả, kể về nhân vật chính là nàng Bích Châu, một cung phi đời Trần, là người tài sắc đức độ, luôn quan tâm chính sự. Truyện được viết dựa trên một số sự kiện lịch sử có thật với những tên người, tên đất xác thực nhưng phần hư cấu nghệ thuật vẫn hết sức đậm nét. Ở đây, tác giả đã đưa vào nhiều yếu tố kì ảo để chuyển đổi hình thức các sự kiện nhằm thể hiện tư tưởng và quan niệm thẩm mĩ riêng của mình.
Riêng về nhân vật lịch sử Bích Châu, do các tài liệu ghi chép quá ít nên còn có những nghi vấn nhất định. Các thông tin về bà chủ yếu dưới dạng truyền tụng. Theo đó, bà sống trong khoảng đời vua Trần Dụ Tông (1336-1369), quê ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; là con gái của một vị tướng họ Nguyễn (Nguyễn Tướng công). Bích Châu còn có tên tự là Bích Lưu (theo chữ Hán, bích – châu – lưu đều có nghĩa là các loại ngọc quý), dung mạo xinh đẹp, giỏi văn chương. Sau khi được tuyển vào cung, Bích Châu thường được vua Dụ Tông gọi là Nguyễn Cơ (cơ có nghĩa là người con gái quý phái). Đời Lê, vua Lê Thánh Tông có làm thơ viếng cảnh ngôi đền thờ bà. Việc bà được các triều đại phong kiến cấp sắc phong và cho thờ phụng ở vị trí thượng đẳng thần là một trong những cơ sở cho phép đoán định chuyện về Bích Châu là câu chuyện người thật, việc thật. Đền Hải Khẩu (nhân dân thường gọi là đền Bà Hải) thờ Chế Thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu nay ở thôn Hải Khẩu, thuộc huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Đến có từ trước đời Lê (có tài liệu cho rằng đến do Lê Thánh Tông cho lập), được trùng tu nhiều lần, đến nay vẫn được nhân dân hương khói thờ phụng với lòng thành kính. Hiện chưa xác định rõ tên thôn "Hải Khẩu" có từ bao giờ nên các bản dịch tác phẩm đều dịch nhan đề theo nghĩa chữ Hán là "cửa bể".

1

Lập bảng thống kê các sự kiện, nhân vật, chi tiết,... có tính chất linh thiêng, kì ảo xuất hiện trong văn bản.

2

Thông qua lời can gián, suy nghĩ và hành động của nàng Bích Châu, bạn có nhận xét gì về phẩm chất, đức tính của mẫu hình người phụ nữ mà tác giả đã xây dựng trong truyện?

3

Sự đan xen giữa yếu tố lịch sử và yếu tố kì ảo trong câu chuyện đã đóng vai trò như thế nào trong việc thể hiện thông điệp của tác phẩm?

4

Trong số các chi tiết, sự việc kì ảo trong Đến thiêng cửa bể, theo bạn, chi tiết hoặc sự việc nào hấp dẫn hơn cả? Vì sao?

5

Nêu suy nghĩ của bạn về quan điểm hiện thực của tác giả thể hiện qua:
a. Việc miêu tả “bộ máy nhà nước" của Quảng Lợi vương.
b. Nội dung hai bức thư trao đổi của vua Lê Thánh Tông và Quảng Lợi vương.

6

Trình bày nhận xét về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ đối thoại trong văn bản.

7

Bình luận về chi tiết nàng Bích Châu hiển linh giúp vua thắng trận và việc nàng được lập đền thờ.

Kết nối đọc – viết

Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) nêu cảm nhận của bạn về hình tượng nhân vật Bích Châu trong tác phẩm.

Văn bản 2

Muối của rừng

(Trích)

Nguyễn Huy Thiệp

Nêu một số tác phẩm văn học hiện đại có yếu tố kì ảo mà bạn biết.
Hãy chia sẻ cảm nghĩ của bạn về yếu tố kì ảo ở một tác phẩm trong số đó.

Theo bạn, con người cần phải ứng xử với thiên nhiên như thế nào?

(Lược một đoạn: Rừng mùa xuân xanh ngắt và trong lành. Được con trai tặng khẩu súng săn ưng ý, ông Diểu mặc quần áo ấm, đội mũ lông, đi giày cao cổ, mang theo nắm xôi nếp, đi vào rừng. Bỏ qua những con chim xanh, gà rừng gặp bên lối mòn, ông Diều đi sâu vào rừng tìm bắn con thú xứng tầm).

[...] Ông Diểu ngồi im dễ đến nửa giờ. Mưa xuân mỏng và mịn. Thời tiết ấm. Dễ đến rất lâu ông Diều mới lại có dịp ngồi yên thế này, không nghĩ gì, không buồn không vui, không lo lắng, cũng không tính toán. Sự tĩnh lặng bình thản của rừng xuyên suốt qua ông.
Ào một cái, từ trong rừng dâu da bỗng như có tiếng quẫy động của một con vật khổng lồ. Ông Diểu biết là con đầu đàn đã đến. Con khỉ này cũng gớm lắm đây. Nó xuất hiện với một nghi lễ vương chủ. Tự tin đến thô bạo. Ông Diểu mỉm cười và chăm chú nhìn.
Sau tiếng động vài phút thì con đầu đàn đến thật. Nó văng mình rất nhanh đến nỗi gần như không có phút nghỉ ở mỗi chặng dừng. Ông Diểu thán phục vì sự nhanh nhẹn dẻo dai của nó. Thoắt một cái, nó biến mất. Một nỗi xót xa khiến ông nhói lòng: số phận của bậc đế vương không trùng với số phận ông. Niềm vui nhen lên từ khi ở nhà ra đi trong ông vơi đi một nửa.
Khi con khỉ đầu đàn biến mất thì ào ra một đàn khỉ đến hai chục con từ rất nhiều hướng. Con vắt vẻo trên cao, con đánh đu ngang cành. Có con lại nhảy xuống đất. Ông Diểu thấy ba con khỉ cứ quấn lấy nhau: con khỉ đực, con khỉ cái và đứa con nó.

Chi tiết nói về sự chuyển đổi tâm trạng đột ngột của nhân vật có thể báo hiệu điều gì?

Ý nghĩ con khỉ đực sẽ là con mồi bám lấy ông Diểu tức thì. Cái thằng bố ô trọc ấy! Đồ phong tình phóng đãng(1)! Vị gia trưởng cộc cần! Nhà lập pháp (2) bẩn thỉu! Tên bạo chúa khốn nạn!
Ông Diểu thấy nóng bừng người. Ông bỏ mũ và áo bông ra đặt dưới lùm cây. Ông để cả nắm cơm xuống đất. Ông từ từ dịch chuyển sang chỗ đất trũng thấp hơn. Ông nhìn kĩ và thấy con khỉ canh gác là con khỉ cái. Thế là thuận lợi rồi. Bởi giống cái bao giờ cũng dễ phân tâm. Đấy, thấy chưa? Đang canh gác mà đi bắt rận ở người thì còn gì nữa? Với giống cái thì thân thể mình là quan trọng nhất. Điều ấy thật giản dị và đẹp. Nhưng điều ấy lại đầy xót xa...
Ông Diểu tính toán rồi luồn theo hướng ngược gió với con khỉ cái canh gác. Phải tiếp cận đàn khỉ đến hai chục mét thì mới bắn được. Ông bò nhanh và rất khéo léo. Xác định được con mồi rồi là ông chắc chắn thành công. Thiên nhiên đã dành cho ông chứ không ai khác chính con khỉ ấy.
Thậm chí ông biết dù ông có đi mạnh chân một chút, gây nên một sự bất cẩn nhố nhăng nào đó cũng chẳng hề gì. Điều ấy tưởng như phi lí mà thật bình thường.
Tuy nghĩ vậy nhưng mà ông Diều vẫn cứ tiếp cận đàn khỉ một cách thận trọng. Ông biết thiên nhiên đầy rẫy bất ngờ. Thận trọng chẳng bao giờ thừa.
Ông Diều tì súng vào một chạc cây. Cái bộ ba trong gia đình khỉ không hề biết rằng tai hoạ đến gần. Con khỉ bố vắt vẻo trên cây bứt quả ném xuống dưới đất cho hai mẹ con. Trước khi ném, bao giờ nó cũng chọn quả ngon chén trước. Hành động ấy thật là đê tiện. Ông Diểu bóp cò. Tiếng súng dữ dội đến nỗi đàn khỉ lặng đi dễ đến một phút. Con khỉ đực buông tay ngã nhào xuống đất nặng nề.
Sự hỗn loạn của cả đàn khỉ khiến cho ông Diểu sợ hãi run lên. Ông vừa làm điều ác. Chân tay ông rủn ra, giống cảm giác như người vừa mới làm xong việc nặng. Đàn khỉ thoắt biến vào rừng. Con khỉ mẹ và con khỉ con cũng chạy theo đàn. Được một đoạn, con khỉ mẹ bỗng quay trở lại. Con khỉ đực bị đạn vào vai, nó gượng dậy, nhưng lại vật xuống.

Theo dõi sự tương phản giữa suy nghĩ của nhân vật và đời sống của đàn khỉ trong rừng.

(1) Phóng đãng: buông thả, không có ý thức kiếm chế mình trong các sinh hoạt.

(2) Nhà lập pháp: định ra luật pháp, đây chỉ người có quyền định ra mọi phép tắc, quy định.

Con khỉ cái tiến đến gần con khỉ đực một cách thận trọng, nó nhìn ngó xung quanh. Sự im lặng này thật đáng ngờ. Nhưng rồi con khỉ đực cất tiếng gọi nó, tiếng gọi buồn thảm đau đớn. Nó dừng lại lắng nghe với vẻ khiếp sợ hoảng loạn.
Chạy đi!
Ông Diểu rên lên khe khẽ. Nhưng con khỉ cái tuồng như muốn liều thí mạng, nó đến gần nâng con khỉ đực nhỏm lên.

Chú ý sự mâu thuẫn trong các hành động của nhân vật.

Ông Diểu tức giận giương súng. Hành động hi sinh thân mình của con khỉ cái làm ông căm ghét. Đồ gian dối, mày chứng minh tấm lòng cao thượng hệt như một bà trưởng giả! Sự tan rã đạo đức bắt đầu từ những tấn kịch thế này, lừa ông sao được?
Khi ông Diểu chuẩn bị bóp cò thì con khỉ cái quay lại nhìn ông. Đôi mắt nó sợ hãi kinh hoàng. Nó vứt phịch con khỉ đực xuống đất rồi chạy biến đi. Ông Diểu thở phào rồi khẽ bật cười. Ông nhô hẳn người ra khỏi chỗ nấp.

  • Sai lầm rồi!

Ông Diểu rủa thầẩm vì ông vừa bước ra thì con khỉ cái quay lại tức thì. “Nó biết mình là người thì thôi hỏng việc!”. Y như rằng, con khỉ cái vừa lén nhìn ông vừa lao đến chỗ con khỉ đực. Nó ghì lấy con khỉ đực vào lòng rất nhanh và khéo. Cả hai lăn tròn trên đất. Bây giờ thì con khỉ cái chắc chắn sẽ điên cuồng như một mụ ngốc. Nó sẽ cuồng nhiệt hi sinh bởi lòng cao thượng của nó sẽ được thiên nhiên tính điểm. Ông đã lộ mặt là tên ám sát! Dù chết nó vẫn nhe răng để cười. Bất luận thế nào ông cũng sẽ đau đớn, sẽ thao thức, thậm chí ông sẽ chết sớm hai năm nếu ông bắn nó lúc này. Tất cả chỉ vì ra khỏi chỗ nấp sớm mất hai phút.
Một lát, con khỉ rúc hẳn vào hai lòng tay ông Diều. Miệng nó phát ra âm thanh lắp bắp nghe như tiếng của trẻ con. Ông biết nó đang van xin và tìm một sự giúp rập. Ông rất khó chịu.

  • “Thà mày chống cự thì tốt cho tao" - Ông Diễu nhìn vào cái đầu ngoan ngoãn của con khỉ nhỏ cau mày. – “Mình đâm già rồi... Nó biết người già thì dễ mủi lòng. Bây giờ tao biết lấy gì băng bó cho mày hở khỉ?”.

Chú ý sự thay đổi điềm nhìn và cách đánh giá về ông Diều.

Ông Diều đã chứng kiến những "sự lạ" nào? Dự đoán những hoạt đông tiếp theo của nhân vật.

Ông Diểu suy nghĩ. Ông đành cởi chiếc quần lót đang mặc. Ông dùng chiếc quần lót ấy để băng vết thương cho nó. Vết thương cầm máu, con khỉ không còn rên nữa.

Theo dõi sự tự khám phá của ông Diều về chính mình.

Nhặt đất đá ném theo lũ khỉ, ông Diểu vừa đuổi vừa la. Lũ khỉ hết sức kinh hoàng, hai con chạy về phía núi, còn con khỉ nhỏ chạy về phía vực. “Mất súng thì hỏng!". Ông Diểu nghĩ thế và đuổi theo con khỉ nhỏ. Khoảng cách rút ngắn đến mức nếu không vì mắc nền đá lởm chởm, ông lao nhoài ra là tóm ngay được khẩu súng.
Việc ông Diểu dồn con khỉ nhỏ đến bờ miệng vực đưa đến hậu quả khôn lường. Giữ chặt dây súng, nó lăn xuống miệng vực không chút chần chừ. Vì ít kinh nghiệm, nó không tìm ra giải pháp nào khác trong trường hợp ấy.

Hình dung cảnh tượng được miêu tả ở đoạn này.

Ông Diều tái mặt, mồ hôi toát ra như tắm. Ông đứng trên miệng vực nhìn xuống rùng mình. Từ dưới sâu hun hút vang lên tiếng rú thê thảm của con khỉ nhỏ. Trong kí ức của ông chưa hề có tiếng rú nào tương tự thế này. Ông Diều lùi lại kinh hoàng. Từ dưới miệng vực, sương mù dâng lên cuồn cuộn, trông vừa kinh dị, vừa đầy tử khí. Sương mù len vào từng chân bụi cây và xoá rất nhanh cảnh vật. Ông Diều chạy lùi trở lại. Phải lâu lắm, có lẽ từ thời thơ ấu, ông Diều mới lại có lần chạy như ma đuổi thế này.
Đến chân núi đá, ông Diều kiệt sức. Ông ngồi phệt xuống nhìn về phía vực. Bây giờ sương mù đã trùm kín nó. Ông sực nhớ ra đây là khu vực đáng sợ nhất trong thung lũng, khu vực mà cánh thợ săn đặt tên cho là Hõm Chết. Ở hõm sâu này, gần như đều đặn, năm nào cũng có người bị sương mù giăng bẫy làm cho toi mạng.
"Hay là ma?" - Ông Diều nghĩ. “Cô hồn của những bà cô ông mãnh thường biến thành hình khỉ trắng?".
Con khỉ này màu trắng. Nó đoạt súng của ông bất thường đến nỗi ông cũng ngờ vực là sao sự thực có thể giản đơn như vậy?

Vì sao khi đối mặt với Hõm Chết, nhân vật lại nghĩ đến "ma"? Theo dõi tâm trạng của ông Diều trước những "sự lạ" tiếp theo.

  • “Ta có mê không?" - Ông Diểu nhìn quanh. – “Tất cả như trong mộng mị?” – Ông đứng dậy nhìn lên vách núi bàng hoàng. Phía núi đá ngược chiều Hõm Chết, bầu trời quang đãng không hề vướng gợn sương mù, tất cả cảnh vật lộ rõ từng đường nét.

Có tiếng kêu thảng thốt. Ông Diều trông lên thì bỗng thấy con khỉ đực bị thương nằm vắt ở trên mỏm đá. Không thấy con khỉ cái. Ông mừng quá tìm hướng leo lên.
Núi đá dốc và trơn. Leo lên nguy hiểm và vất vả lắm. Ông Diều lượng sức: “Nhưng dù thế nào thì ta cũng phải tóm được chú mày!". Ông Diểu bình tĩnh bám vào các khe đá nứt leo lên.

Được khoảng chục mét, ông Diểu thấy nóng bừng người. Lựa chỗ đứng thuận tiện, ông cởi bỏ giày và quần áo ngoài để lên một chạc cây duối. Trên mình mỗi chiếc quần lót, ông thấy thoải mái. Ông leo thoăn thoắt và càng không ngờ sức mình có thể nhanh nhẹn dẻo dai đến thế.
Con khỉ đực bị thương nằm trên ngọn đá phẳng lì và khá chông chênh. Dưới phiến đá, một khe nứt rộng đến gang tay tách nó ra khỏi vách núi. Ông Diểu rùng mình, cảm tưởng như bất cứ lúc nào tảng đá cũng có thể lăn nhào khỏi vị trí ấy làm ông kinh hãi. Thiên nhiên oái oăm lại muốn thử thách thêm lòng dũng cảm của ông sao đó.

Điều gì khiến ông Diều chưa chịu bỏ cuộc?

Ông Diểu lấy hai cùi tay làm tựa để co người lên. Con khỉ tuyệt đẹp, lông mịn và vàng. Nó nằm sấp mình, hai tay cào trên phiến đá như muốn tìm cách nhích lên. Máu đỏ bết bên vai nó.
Ông Diểu đặt tay lên mình con khỉ và thấy nó nóng hầm hập. “Dễ đến hơn yến...". Ông Diểu luồn tay xuống dưới ngực con khỉ nâng lên ước lượng. Từ trong ngực nó phát ra tiếng “hùm” nho nhỏ nghe rất đáng sợ, tựa như thần Chết bực mình cáu kỉnh vì sự can thiệp của ông với nó. Ông Diểu rút phắt tay lại. Con khỉ run bắn, nó đưa đôi mắt đờ dại nhìn ông cầu khẩn. Ông Diểu bỗng thấy thương hại. Viên đạn phá vỡ bả vai của nó, làm trồi ra hẳn đoạn xương dài đến bốn phân. Mỗi khi đoạn xương va chạm, con khỉ quằn quại trông rất đau lòng.

  • “Để thế không ổn!" - Ông Diều vơ lấy một nắm cỏ Lào vò nát. Ông cho vào miệng nhai kĩ. Ông đắp nắm lá vào miệng vết thương con khỉ. Nắm lá sẽ có tác dụng cầm máu cho nó. Con khỉ co rúm người lại và nghiêng đôi mắt ươn ướt nhìn ông. Ông Diểu tránh nhìn vào đôi mắt nó.

Một lát, con khỉ rúc hẳn vào hai lòng tay ông Diều. Miệng nó phát ra âm thanh lắp bắp nghe như tiếng của trẻ con. Ông biết nó đang van xin và tìm một sự giúp rập. Ông rất khó chịu.

  • “Thà mày chống cự thì tốt cho tao" - Ông Diễu nhìn vào cái đầu ngoan ngoãn của con khỉ nhỏ cau mày. – “Mình đâm già rồi... Nó biết người già thì dễ mủi lòng. Bây giờ tao biết lấy gì băng bó cho mày hở khỉ?”.

Ông Diểu suy nghĩ. Ông đành cởi chiếc quần lót đang mặc. Ông dùng chiếc quần lót ấy để băng vết thương cho nó. Vết thương cầm máu, con khỉ không còn rên nữa.

Việc ông Diểu dồn con khỉ nhỏ đến bờ miệng vực đưa đến hậu quả khôn lường. Giữ chặt dây súng, nó lăn xuống miệng vực không chút chần chừ. Vì ít kinh nghiệm, nó không tìm ra giải pháp nào khác trong trường hợp ấy.

Đến chân núi đá, ông Diều kiệt sức. Ông ngồi phệt xuống nhìn về phía vực. Bây giờ sương mù đã trùm kín nó. Ông sực nhớ ra đây là khu vực đáng sợ nhất trong thung lũng, khu vực mà cánh thợ săn đặt tên cho là Hôm Chết. Ở hõm sâu này, gần như đều đặn, năm nào cũng có người bị sương mù giăng bẫy làm cho toi mạng.

"Hay là ma?" - Ông Diều nghĩ. “Cô hồn của những bà cô ông mãnh thường biến thành hình khi trắng?".

Vì sao khi đối mặt với Hồm Chết, nhân vật lại nghĩ đến "ma"? Theo dõi tâm trạng của ông Diều trước những "sự lạ" tiếp theo.

Con khỉ này màu trắng. Nó đoạt súng của ông bất thường đến nỗi ông cũng ngờ vực là sao sự thực có thể giản đơn như vậy?

  • “Ta có mê không?" - Ông Diều nhìn quanh. – “Tất cả như trong mộng mị?" - Ông đứng dậy nhìn lên vách núi bàng hoàng. Phía núi đá ngược chiều Hôm Chết, bầu trời quang đãng không hề vướng gợn sương mù, tất cả cảnh vật lộ rõ từng đường nét.

Có tiếng kêu thảng thốt. Ông Diều trông lên thì bỗng thấy con khỉ đực bị thương nằm vắt ở trên mỏm đá. Không thấy con khỉ cái. Ông mừng quá tìm hướng leo lên.

Núi đá dốc và trơn. Leo lên nguy hiểm và vất vả lắm. Ông Diều lượng sức: “Nhưng dù thế nào thì ta cũng phải tóm được chú mày!”. Ông Diều bình tĩnh bám vào các khe đá nứt leo lên.

Con khỉ đực bị thương nằm trên ngọn đá phẳng lì và khá chông chênh. Dưới phiến đá, một khe nứt rộng đến gang tay tách nó ra khỏi vách núi. Ông Diểu rùng mình, cảm tưởng như bất cứ lúc nào tảng đá cũng có thể lăn nhào khỏi vị trí ấy làm ông kinh hãi. Thiên nhiên oái oăm lại muốn thử thách thêm lòng dũng cảm của ông sao đó.

Điều gì khiến ông Diều chưa chịu bỏ cuộc?

Ông Diều đặt tay lên mình con khỉ và thấy nó nóng hầm hập. “Dễ đến hơn yến...". Ông Diều luồn tay xuống dưới ngực con khỉ nâng lên ước lượng. Từ trong ngực nó phát ra tiếng “hùm” nho nhỏ nghe rất đáng sợ, tựa như thần Chết bực mình cáu kỉnh vì sự can thiệp của ông với nó. Ông Diều rút phắt tay lại. Con khỉ run bắn, nó đưa đôi mắt đờ dại nhìn ông cầu khẩn. Ông Diểu bỗng thấy thương hại. Viên đạn phá vỡ bả vai của nó, làm trồi ra hẳn đoạn xương dài đến bốn phân. Mỗi khi đoạn xương va chạm, con khỉ quần quại trông rất đau lòng.

  • “Để thế không ổn!" - Ông Diễu vơ lấy một nắm cỏ Lào vò nát. Ông cho vào miệng nhai kĩ. Ông đắp nắm lá vào miệng vết thương con khỉ. Nắm lá sẽ có tác dụng cầm máu cho nó. Con khỉ co rúm người lại và nghiêng đôi mắt ươn ướt nhìn ông. Ông Diểu tránh nhìn vào đôi mắt nó.

Một lát, con khỉ rúc hẳn vào hai lòng tay ông Diểu. Miệng nó phát ra âm thanh lắp bắp nghe như tiếng của trẻ con. Ông biết nó đang van xin và tìm một sự giúp rập. Ông rất khó chịu.

  • “Thà mày chống cự thì tốt cho tao" - Ông Diễu nhìn vào cái đầu ngoan ngoãn của con khỉ nhỏ cau mày. - “Mình đâm già rồi... Nó biết người già thì dễ mủi lòng. Bây giờ tao biết lấy gì băng bó cho mày hở khỉ?".

Ông Diều đã chứng kiến những "sự lạ" nào? Dự đoán những hoạt đông tiếp theo của nhân vật.

Ông Diều suy nghĩ. Ông đành cởi chiếc quần lót đang mặc. Ông dùng chiếc quần lót ấy để băng vết thương cho nó. Vết thương cầm máu, con khỉ không còn rên nữa.

Cứ thế trần truồng, ông Diểu vừa bế vừa đỡ con khỉ tìm đường tụt xuống chân núi. Thoắt nhiên, đất đá từ lưng chừng núi sụt xuống rào rào như có sức mạnh nào đấy xô đẩy.

Núi lở!

Ông Diểu thót mình và bám thật chặt vào tảng đá, kinh hãi. Đoạn đường mà ông leo lên lúc nãy loáng cái chỉ còn một vết chém thẳng phẳng lì. Ông Diểu không còn thấy cây duối để quần áo và giày đâu nữa. Đi xuống đường ấy bây giờ thật nguy hiểm. Đành phải vòng ra sau núi. Xa hơn nhưng lại an toàn.

Ông Diểu lần mò đến hơn hai tiếng đồng hồ mới xuống được đến chân núi. Thật chưa bao giờ ông lại vất vả và mệt đến thế. Người ông đầy vết sây sát. Con khỉ sống không ra sống, chết không ra chết. Kéo nó trên đất thì quá đau lòng, mà bế ẵm nó trên tay thì không đủ sức.

Đến chỗ lùm cây dây leo nấp chờ ban sáng, ông Diều dừng lại để tìm mũ áo và nắm xôi nếp. Ở đấy đùn lên một đống mối to gần bằng cây rạ. Đống mối nhớp nháp một thứ đất mới đỏ au, trên đấy đầy những cánh mối ướt rụi. Khốn nạn, dây vào tổ mối thì những đồ vật của ông thành cám! Thở dài thất vọng, ông Diều quay lại bế con khỉ lên.

Ông Diều đang đối diện với tình thế gì?

“Chẳng lẽ lại cứ nồng nỗng thế này về nhà thì thật khả ổ – Ông Diểu bực mình. - Mình sẽ thành một trò cười cho thiên hạ mất...".

Ông Diều cứ vừa đi vừa nghĩ và đâm loanh quanh một lúc mới nhận ra con đường.

  • “Thì đã sao nào” – Ông bỗng bật cười. – “Hỏi ai bắn được con khỉ thế này? Phải yến rưỡi thịt... Lông vàng như nhuộm... Bắn được con vật như thế này thì dẫu mảnh giáp không còn cũng đáng!”.

Có tiếng động khẽ đằng sau. Ông Diểu giật mình quay lại và nhận ra con khỉ cái. Thấy ông, nó thoắt biến vào bụi rậm. Hoá ra con khỉ cái theo ông từ khi ông ở trên núi mà ông không biết. Ông thấy là lạ. Đi được một quãng, ông Diều quay lại thì vẫn thấy nó lẽo đẽo đằng sau. Thật khốn nạn quá! Ông Diều đặt con khỉ đực xuống đất rồi nhặt đất đá đuổi con khỉ cái. Nó kêu the thé rồi chạy biến đi. Chỉ được một lúc, ông Diều ngó lại thì vẫn thấy nó lăng nhăng bám theo.

Theo bạn, tình huống này có thường xảy ra không?

Cái bộ ba ấy cứ thế lầm lũi xuyên rừng. Con khỉ cái cũng thật kiên trì. Ông Diểu bỗng thấy bị xúc phạm ghê gớm. Tựa như ông bị theo dõi, bị đòi ăn vạ.

Bây giờ, cả con khỉ đực cũng đã nhận ra tín hiệu vẫy gọi của đồng loại nó. Nó cứ giãy giụa, nó làm cho ông khổ vô cùng. Ông Diểu mệt lả, ông không còn sức giữ con khỉ nữa. Hai tay con khỉ cào trên ngực ông toé máu. Cuối cùng, không thể chịu nổi, ông đành tức giận ném nó xuống đất.

Con khỉ đực nằm dài trên vạt cỏ ướt. Ông Diều buồn bã ngồi nhìn. Cách đó không xa, con khỉ cái cũng thập thò sau một gốc cây theo dõi.

Ông Diểu thấy buồn tê tái đến tận đáy lòng. Ông nhìn cả hai con khỉ và thấy cay cay nơi sống mũi. Hoá ra ở đời, trách nhiệm đè lên lưng mỗi sinh vật quả thật nặng nề.

  • “Thôi tao phóng sinh cho mày!” – Ông Diểu ngồi yên một lát rồi bỗng đứng dậy nhổ bãi nước bọt xuống dưới chân mình. Lưỡng lự giây phút rồi ông vội vã bỏ đi. Hình như chỉ chờ có thế, con khỉ cái vọt ngay ra khỏi chỗ nấp, chạy vội đến chỗ con khỉ đực nằm.

Ông Diễu rẽ sang một lối đi khác. Ông muốn tránh sẽ gặp người. Lối này đẩy những bụi gai ngáng đường nhưng hoa tử huyền nhiều không kể xiết. Ông Diểu dừng lại sững sờ. Loài hoa tử huyền cứ ba chục năm mới nở một lần. Người nào gặp hoa tử huyền sẽ gặp may mắn.

Chú ý chi tiết hoa tử huyễn.

Hoa này màu trắng, vị mặn, bé bằng đầu tăm, người ta vẫn gọi hoa này là muối của rừng. Khi rừng kết muối, đấy là điềm báo đất nước thanh bình, mùa màng phong túc),

Ra khỏi thung lũng, ông Diều đi xuống cánh đồng. Mưa xuân dịu dàng nhưng rất mau hạt. Ông cứ trần truồng như thế, cô đơn như thế mà đi.

Chỉ một lát sau, bóng ông nhoà vào màn mưa.

Chỉ ít ngày nữa sang tiết Lập hạ. Trời sẽ ấm dần.

1986

(Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, NXB Văn học – Công tí cổ phần Văn hoá Đông A, Hà Nội, 2020, tr. 109-114)

) Phong tức: giàu có, đầy đủ.

Nguyễn Huy Thiệp (1950 – 2021) quê ở thành phố Hà Nội, tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1972, từng dạy học mười năm ở miền núi Tây Bắc. Xuất hiện trên văn đàn với những truyện ngắn in trên báo Văn nghệ thời kì Đổi mới, ngay lập tức, ông trở thành một hiện tượng gây tranh luận sôi nổi. Đến nay, ông đã được nhìn nhận là một cây bút xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại.

Nguyễn Huy Thiệp sáng tác cả kịch, tiểu thuyết, thơ và viết tiểu luận nhưng truyện ngắn mới là thành tựu đặc sắc nhất của ông. Nổi bật ở truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là cái nhìn sắc lạnh về hiện thực và lịch sử; bút pháp cô đọng, dồn nén và ngôn ngữ giàu tính đối thoại, thể hiện được sự phồn tạp, bí ẩn của đời sống.

Các tác phẩm tiêu biểu: Tưởng về hưu (tập truyện ngắn, 1987), Những ngọn gió Hua Tát (tập truyện ngắn, 1989), Như những ngọn gió (tuyển tập truyện ngắn và kịch, 1995), Tuổi hai mươi yêu dấu (tiểu thuyết, 2003), Giăng lưới bắt chim (tập tiểu luận, 2006),...

Nguyễn Huy Thiệp Ảnh: Nguyễn Đình Toán

Muối của rừng được in lần đầu trên báo Văn nghệ năm 1987, thể hiện quan niệm của Nguyễn Huy Thiệp về mối quan hệ giữa con người với đời sống tự nhiên. Đây cũng là một chủ đề nổi bật mà Nguyễn Huy Thiệp quan tâm thể hiện trong nhiều sáng tác khác, trên cơ sở quan sát sự trượt dài của con người trong đời sống khi đánh mất bản tính tự nhiên tốt đẹp. Xét về mặt nghệ thuật, cách kế chuyện từ nhiều điểm nhìn và sử dụng một số chi tiết kì ảo có thể được xem là nét đặc sắc đáng chú ý của truyện ngắn này.

1

Giữa nhan đề Muối của rừng và nội dung câu chuyện có liên hệ với nhau như thế nào?

2

Hành trình đi săn của ông Diều cũng là hành trình trải nghiệm và nhận thức. Bạn hãy kể tóm tắt hành trình đó bằng sơ đồ.

3

Ông Diều đã có những ý nghĩ gì khi chứng kiến đời sống của đàn khỉ trong khu rừng mùa xuân? Bạn có đồng tình với những nghĩ đó không? Vì sao?

4

Từ lúc đến Hôm Chết, những sự việc kì lạ đã làm cho ông Diều thay đổi cảm xúc và suy nghĩ như thế nào?

5

Bạn nghĩ gì về chi tiết "hoa tử huyền" xuất hiện ở cuối truyện?

6

Phân tích sự tương phản về diện mạo và tình thế của ông Diều được kể ở đầu truyện và cuối truyện, từ đó, làm rõ thông điệp của tác phẩm.

7

Những chi tiết kì ảo trong Muối của rừng có điểm gì khác với chi tiết kì ảo trong Đến thiêng cửa bể?

Kết nối đọc – viết

Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ của bạn về vai trò của yếu tố kì ảo trong truyện ngắn Muối của rừng.

Thực hành tiếng Việt

Nghệ thuật sử dụng điển cố trong tác phẩm văn học

1

Dựa vào việc tìm hiểu các cước chú trong văn bản Đền thiêng cửa bể, hãy xác định các điển cố trong đoạn trích sau:

Trộm nghĩ đời củi khỏi bếp tranh, để phòng cháy trước khi chưa cháy, dùng dâu ràng cửa tổ để ngừa mưa trước lúc chưa mưa. Dân tình dễ chìm đắm vào sự yên vui, còn thế vận khó lòng giữ được luôn bình trị [...]. Thần là kẻ thiếp hèn mọn, tên tự Bích Châu, lúc nhỏ sinh ở bồng môn, khi lớn được hầu nơi tiêu thất [...].
Xin bày tỏ mười điều băn khoăn tác dạ:
Một là, năng giữ cỗi gốc của nước, trừ hà bạo thì lòng người yên vui.
Hai là, giữ phép xưa bỏ phiền nhiều thì kỉ cương không rối.
Ba là, nén kẻ quyền thần, để ngăn ngừa chính sự mọt nát.
Bốn là, thải bớt kẻ những lạm để trừ tệ khoét đục của dân.
Năm là, xin cổ động Nho phong, khiến cho đuốc lửa cùng ánh mặt trời soi sáng.
Sáu là, mở đường cho người nói thẳng, để cho cánh cửa của lòng thành cùng với đường can gián đều mở toang.
Bảy là, cách kén quân, nên chú trọng vào dũng lực hơn là cao lớn.
Tám là, chọn tướng nên cầu người thao lược mà không căn cứ vào thế gia.
Chín là, khí giới quý hồ bến sắc, không chuộng văn hoa.
Mười là, trận pháp cốt cho tê chỉnh, cần chỉ điệu múa.
Mười điều kể trên rất là thiết thực, phơi bày tấm lòng trung, mong được bề trên soi xét. Hay tất làm, dỡ tất bỏ, vua nghĩ đến chăng! Nước được trị, dân được yên, thiếp mong lắm vậy!

Gợi ý: Tìm đoạn trích ở tr. 95; theo dõi những cước chú có liên quan để nhận diện được các điển cố. (Điển cố có thể được tác giả sử dụng dưới hình thức nhân danh, địa danh.)

2

Nhận xét về tác dụng của việc dùng điển cố trong đoạn văn sau:

Thiếp là cung nhân đời Trần Duệ Tông, không bị chìm đắm ở bến Đồ Phụ và cũng không bị nước cuốn ở Tiêm Đài, chỉ là hồng nhan bạc phận, chiếc bóng một mình, phiêu lưu vào trong tay yêu quái. Từ khi về nơi thuỷ quốc, ở lẫn với loài hôi tanh, xấu hổ làm vợ họ Trương, bi luỵ làm tù nước Sở, ngậm sâu như biển, coi ngày bằng năm, giận thân không thể hoá ra hồn tỉnh vệ, chỉ đau lòng mà thốt ra phú Li tao. May sao ngày nay gặp đức Thánh hoàng, dám xin cả gan tâu bày, mong được ra tay tế độ, vớt kẻ trầm luân, để cho tiện thiếp lại được trông thấy ánh sáng mặt trời. Đó là ân lớn của bệ hạ tái tạo vậy.

(Đoàn Thị Điểm, Đến thiêng cửa bể, Ngô Lập Chi dịch)

Gợi ý: Tương tự như bài tập 1, trước hết, cần nhận diện được các điển cố xuất hiện trong đoạn văn. Thử diễn đạt lại nội dung đoạn văn theo cách không dùng các điển cố. Cần so sánh đoạn văn vừa viết với đoạn văn “gốc” để rút ra những nhận xét cần thiết theo yêu cầu của bài tập.

3

"Hoa Quả Sơn" và "Thuỷ Liêm Động" trong những câu sau có phải là điển cố không? Nêu tác dụng của việc sử dụng hai "địa danh đó.

Cân nhắc kĩ, ông tính đi men chân núi đá vôi sang rừng dâu da săn khỉ. Chắc ăn hơn mà đỡ tốn sức. Đây là Hoa Quả Sơn, Thuỷ Liêm Động của thung lũng này. Ở rừng dâu da, khỉ có hàng bẩy.

(Nguyễn Huy Thiệp, Muối của rừng)

Gợi ý: "Hoa Quả Sơn" và "Thuỷ Liêm Động là những địa danh xuất hiện trong tác phẩm Tây du kí (Trung Quốc); kết nối với nội dung của Tây du kí để hình dung về khung cảnh của Hoa Quả Sơn và Thuỷ Liêm Động. Diễn đạt lại ý của câu thứ ba mà không dùng các địa danh này.

Viết

Viết bài văn nghị luận về việc vay mượn – cải biến sáng tạo trong một tác phẩm văn học

Theo dõi lịch sử văn học, chúng ta thường gặp hiện tượng: người sáng tác vay mượn một số yếu tố của những tác phẩm ra đời trước đó (cùng nên văn học hay khác nên văn học) để sáng tạo nên tác phẩm mới. Trong đó, rất phổ biến là việc vay mượn nhiều yếu tố của văn học dân gian – loại hình sáng tác thường được xem là cội nguồn của văn học viết. Vay mượn không đồng nghĩa với việc "bê nguyên xĩ" những gì đã có mà luôn đi kèm với sự cải biến (hay biến đổi, cách tân), sáng tạo để chất liệu cũ có thể giúp người viết thể hiện được cảm quan nghệ thuật mới, ý tưởng sáng tác mới của mình. Đây là một đối tượng khám phá thú vị. Theo yêu cầu viết của bài này, khi bàn về giá trị một tác phẩm, cần tập trung phân tích hiện tượng vay mượn – cải biến – sáng tạo. Định hướng này sẽ giúp bạn có cái nhìn rộng mở hơn về tác phẩm với tư cách là sản phẩm của việc kế thừa, giao thoa, tương tác, sáng tạo diễn ra không ngừng trong đời sống văn học.

Yêu cầu

  • Giới thiệu chung về tác phẩm được lựa chọn; mối quan hệ giữa tác phẩm đó với tác phẩm mà nó đã chịu ảnh hưởng.
  • Chỉ ra và phân tích được các phương diện, khía cạnh chủ yếu của sự tiếp nhận, chịu ảnh hưởng,... trong tác phẩm.
  • Chỉ ra và phân tích được những điểm cách tân, sáng tạo của tác giả khi tiếp nhận ảnh hưởng từ tác phẩm khác.
  • Đánh giá giá trị của tác phẩm xét trên phương diện tiếp nhận và sáng tạo dựa vào các dẫn chứng cụ thể.

Bài viết tham khảo

Mẫu gốc Sơn Tinh, Thuỷ Tinh và sáng tạo của Hoà Vang trong truyện ngắn Sự tích những ngày đẹp trời (Trích)

Nguyễn Thị Nương

Sơn Tinh, Thuỷ Tinh là một thần thoại đã được truyền thuyết hoá, nằm trong chuỗi truyền thuyết về thời Hùng Vương. Tình huống hấp dẫn, hình tượng độc đáo khiến Sơn Tinh, Thuỷ Tinh trở thành một trong những mẫu gốc có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống của nhân dân và trong văn học viết [...]. Trong số đó, sự hồi sinh độc đáo và thú vị nhất của mẫu gốc Sơn Tinh, Thuỷ Tinh được thể hiện ở truyện ngắn Sự tích những ngày đẹp trời của Hoà Vang. Người cầm bút “mang hồn cổ tích này thực sự đã tạo nên một sinh mệnh mới cho câu chuyện xưa.

Giới thiệu tác phẩm, mối quan hệ giữa hai tác phẩm thuộc hai kiểu loại văn bản.

Biến đổi chủ đề và cốt truyện

[...] Viết Sự tích những ngày đẹp trời, Hoà Vang vẫn dựa trên nền cơ bản của cốt truyện cũ, không thay đổi những chi tiết, sự kiện đã hằn sâu trong tâm thức của bao nhiêu thế hệ, nhưng đã chuyển hướng tác phẩm của mình sang một chủ đề hoàn toàn mới: khám phá vẻ đẹp bí ẩn, kì diệu của tình yêu; sự phong phú, phức tạp của tâm hồn con người. Xuất phát từ cảm hứng này, Hoà Vang đã tạo dựng một cốt truyện với hàng loạt xung đột mới: xung đột giữa Thuỷ Tinh và vua Hùng, xung đột giữa Thuỷ Tinh và đám thuỷ thần thuộc hạ, xung đột giữa bổn phận và khát vọng tình yêu trong tâm hồn Mị Nương ... Đặc biệt, mâu thuẫn Sơn Tinh và Thuỷ Tinh đã hoàn toàn bị lược bỏ [...].

Chủ đề và cốt truyện của hai tác phẩm: sự biến đổi, tính hợp lí của sự biến đổi.

Trong mẫu gốc, yếu tố đóng vai trò quyết định sự thành, bại của hai vị thần trong chuyện hôn nhân là thời gian sính lễ được mang tới sớm hay muộn. Tác giả dân gian đã miêu tả về các món lễ vật rất cụ thể, song nhiều tác giả đời sau đã không chú ý đến chi tiết đặc sắc này. Tiếp nối mạch chủ đề của mẫu gốc, hầu hết các tác phẩm đều tập trung phát triển các chi tiết miêu tả cuộc chiến giữa hai vị thần.

Lựa chọn chủ để ca ngợi tình yêu, Hoà Vang đã không đi theo hướng đó mà chú trọng khám phá nguyên nhân làm nảy sinh bi kịch tình yêu Thuỷ Tình – Mị Nương. Vì vậy, chi tiết vua Hùng thách cưới được nhà văn lựa chọn làm đầu mối của

Mẫu gốc: nguyên mẫu, nguồn trực tiếp mà các sáng tạo về sau khai thác với những biến đối và sáng tạo riêng.

hệ thống xung đột mới. Tác giả đặc biệt chú ý cách ứng xử “thiếu công bằng của nhà vua đối với Thuỷ Tinh khi yêu cầu sính lễ toàn là các sản vật của Đất, của Núi. Tính chất thiên vị của các lễ vật vốn ẩn chứa thái độ của nhân dân với Thuỷ Tinh, kẻ đại diện cho sức mạnh đáng sợ và đáng ghét của thiên tai, lũ lụt. Giờ đây, sự thiên vị này đã được chuyển hẳn sang vua Hùng, người đứng đầu trăm họ. Điều thú vị là thái độ đó lại được Hoà Vang lí giải theo một hướng mới, độc đáo và cũng rất logic. Căn nguyên chính là “sai lầm” của Thuỷ Tinh: chàng trai đã vội vã bày tỏ với vua Hùng những cảm xúc nồng cháy của trái tim đang yêu [...]. Trọng trách với trăm họ khiến nhà vua khó có thể lắng nghe và trân quý tiếng nói bộc bạch tình yêu của Thuỷ Tinh hơn tiếng nói hứa hẹn bổn phận của Sơn Tinh. Và lễ vật thách cưới đã được đưa ra, rành mạch, dứt khoát, hàm chứa sự ưng thuận với lời cầu hôn của Thần Núi và cả lời chối từ dành cho Thần Nước. Xung đột đầu tiên giữa vị vua “trọng việc hơn trọng tình với chàng trai “luy tình đã làm tan vỡ giấc mơ hạnh phúc của Thuỷ Thần và cũng mở ra các tuyến xung đột khác.

Nương theo dòng chính của cốt truyện xưa, Hoà Vang đã sáng tạo thêm nhiều tình tiết mới. Thế giới đơn giản, sáng rõ của thần thoại, truyền thuyết được thay thế bằng thế giới phức tạp, đa chiều của cuộc sống hiện đại [...]. Sáng tạo những xung đột mới, những tình tiết mới, Hoà Vang đã mang lại khả năng phản ánh hiện thực phong phú và gia tăng sức cuốn hút cho cốt truyện.

Biến đổi nhân vật

Do biến đổi chủ đề nên vị trí trong cốt truyện và tính cách của các nhân vật trong Sự tích những ngày đẹp trời đều có sự thay đổi. Hình tượng trung tâm giờ đây không còn là người anh hùng trị thuỷ Sơn Tinh mà là cặp đôi Thuỷ Tinh - Mị Nương. Diện mạo tính cách của từng nhân vật cũng được nhà văn khắc hoạ phong phú hơn, con người hơn.

Nhân vật Thuỷ Tinh

Truyền thuyết Sơn Tinh, Thuỷ Tinh dựng nên hình tượng Thuỷ Tinh như một ẩn dụ cho sức mạnh hung bạo của tự nhiên, sức tàn phá khủng khiếp của lũ lụt. Các tác phẩm sau này cũng thường giữ nguyên hình ảnh một Thuỷ Tinh dữ tợn, hung ác, thù dai. Nó phản ánh thái độ của người xưa đối với nạn lụt lội từng đem đến bao thảm hoạ. [...]

Phải đến Sự tích những ngày đẹp trời của Hoà Vang, nhân vật Thuỷ Tinh mới hoàn toàn “thoát xác khỏi hình vóc cũ để hiện lên với vẻ đẹp hoàn hảo của một người tình lí tưởng. Dáng vẻ bên ngoài đẹp và buồn, cường tráng mà hào hoa; tâm hồn sôi nổi, nồng nhiệt mà vẫn dịu dàng, điềm đạm trước người yêu. Điều kì lạ là sự thay đổi này trái ngược hẳn với cách hình dung truyền thống mà vẫn tự nhiên và đầy sức thuyết phục. Có lẽ vì nhân vật đã được tắm trong thứ ánh sáng huyền diệu của tình yêu; được đặt vào một “lĩnh vực mà sự phức tạp, bí ẩn, bất ngờ,... mặc nhiên tồn tại!

Hình tượng Thần Biển của Hoà Vang gắn liền với cả một thế giới cảm xúc yêu đương nồng nàn, mê đắm. Từ những rung động đầu tiên nơi nguồn suối, những nhớ nhung cồn cào ngoài biển cả, niềm hân hoan lúc lên đường đến Phong Châu, nỗi bồn chồn, khắc khoải đợi phút giây gặp mặt... cho đến cảm giác bàng hoàng và nỗi đau đớn âm thầm, dữ dội khi để mất người yêu. Trái tim chàng cháy rực ngọn lửa tình yêu có thể làm sôi sục ba tầng nước của Thuỷ Tình cung.

Bị nỗi đau khổ, nhớ thương giày vò, hành hạ, nếu có một phút giây chàng không kiềm chế được nỗi đau và “điên cuồng triển hết sức mình động biển , thì cơn hồng thuỷ ấy sẽ tức khắc biến núi Tản, Phong Châu,... thành “nghìn trùng sóng vỗ mãi mãi”. Nhưng chưa bao giờ Thuỷ Tinh có mặt trong những cuộc báo thù của muôn loài thuỷ tộc vì nỗi sợ này: “Tôi sẽ mất em, nỗi nhớ em, lòng mong muốn hướng về em, mất hết, mất vĩnh viễn...”. Chỉ cần được nhớ thương, thậm chí đau khổ vì nỗi thương nhớ ấy, đối với chàng, cũng đã là hạnh phúc. Ngay trong cuộc trùng phùng mà Thuỷ Tinh ngày đêm mong ước, thậm chí coi đó là niềm hi vọng để sống, chàng vẫn một niềm gìn giữ, trân trọng hạnh phúc của người con gái mình yêu thương. Vì sự thanh thản của tâm hồn nàng, chàng có thể hi sinh mọi khát khao của riêng mình. Theo lời Mị Nương, chàng quay về biển cả, để nuôi giữ ngọn Hoả Tâm nồng ấm cho đại dương mãi “trong sạch, phóng khoáng, quyến rũ, tràn đầy tình yêu”. Ngòi bút Hoà Vang đã “khai sinh một Thuỷ Thần hoàn toàn mới – biểu tượng của người tình lí tưởng.

Nhân vật Thuỷ Tinh và những biến đổi so với mẫu gốc.

Nhân vật Mị Nương

Trong mẫu gốc, Mị Nương chỉ được giới thiệu như một “nguyên cớ đẹp" dẫn đến cuộc giao tranh của hai vị thần hùng mạnh. Các tác giả trung đại cũng không chú ý miêu tả nhân vật này... Vì thế, đối với Hoà Vang, Mị Nương như khối ngọc còn ẩn mình trong đá. Và tay thợ tài hoa ấy đã dồn cả tài năng, tâm huyết để tạc nên một hình tượng Mị Nương của riêng mình. Nàng đích thực là người con gái của nước Việt xưa: nết na, hiền thục, vâng theo khuôn phép, một niềm trong bổn phận làm con, làm vợ. Mị Nương trọng chồng, tin chồng, nhất nhất chiều theo mọi sự sắp đặt của chồng. Nhưng tâm hồn nàng đã không hoàn toàn “yên ngủ” trong cuộc sống “tuyệt vời hạnh phúc, mẫu mực". Mị Nương vẫn ấp ủ trong lòng những “chút riêng nhỏ âm thầm mà ngay cả vị Thần Núi khôn ngoan, đầy thiên lương cũng không thấu hết. Nàng nhớ tuổi hoa niên, thèm sống lại những khoảnh khắc trong ngần, phóng khoáng giữa thiên nhiên, sống thực với mình, không bị kiểm toả bởi lễ nghi, địa vị. Nhà văn đã mượn nỗi nhớ thương muôn thuở trong lòng những người con gái lấy chồng xa để mở ra thế giới tâm hồn phong phú, tinh tế của nhân vật này. Đó cũng là cách Hoà Vang tiếp nối dòng cảm hứng ngợi ca sức sống của nhân tính và sức hút mãnh liệt của nhân thế. Cùng với nỗi nhớ nhà, còn có sự

thức dậy của những khao khát vô hình mà chính Mị Nương cũng khó lòng nhận diện. Nó tồn tại trong vô thức, tự thuở nàng còn hồn nhiên trong niềm vui trẻ thơ, cất lên tiếng hát giữa lòng con suối đầu nguồn.

[...] Dù đã bao năm tận mắt chứng kiến cuộc báo thù hung bạo của Thuỷ Thần, nhìn thấy người đời vẽ “tên chúa trùm nạn lụt với bộ mặt xanh lét, đôi mắt ti hí gian xảo, đầu úp một con ốc vặn xoắn hèn mọn..., nàng vẫn nhận ra con người thực của Thuỷ Tinh “chàng trai tuyệt vời đẹp và buồn”. Tiếng gọi thốt lên từ đáy lòng sau bấy nhiêu thời gian xa cách đã để lộ tình yêu mà nàng từng giấu kín với cả bản thân mình!

Sáng tạo mới về nhân vật của Hoà Vang so với truyền thuyết.

Trong tình yêu Thuỷ Tinh, Mị Nương đã tìm lại trọn vẹn bản thân mình nhưng nàng chưa từng có ý nghĩ vượt qua một ranh giới nào của khuôn phép. Nàng ngỡ mình sẽ chẳng bao giờ phải sống trong cảm giác có lỗi với người chồng mẫu mực. Thuỷ Tinh cũng không hề muốn làm xáo trộn cuộc sống êm đềm, hạnh phúc của nàng. Nàng không thể có được sự bình yên như cũ nhưng cuộc sống của nàng phong phú hơn, đẹp hơn, giàu ý nghĩa hơn. Nàng đón đợi những hạt mưa Thuỷ Tinh trong vắt bên khuôn cửa sổ. Và ngay trong những vách gỗ của lâu đài Thần Núi, nàng âm thầm lắng nghe tiếng vọng rì rầm của muôn ngàn con sóng “nghe, mà cổn cào tưởng đến biển, mà khát khao được thấy biển một lần”. Để rồi cuối cùng, tâm hồn Mị Nương thăng hoa trong khát vọng tình yêu thuần khiết, tìm về với Biển. Phải nói, đây là một trong những trang viết đậm chất cổ tích nhất, mà cũng hiện đại nhất của Hoà Vang [...].

[...] Trong Sự tích những ngày đẹp trời, Hoà Vang mang lại ánh sáng lung linh cho câu chuyện bằng lời kể giàu chất thơ, giàu cảm hứng lãng mạn. Ông không ngại ngắn dùng lối nói du dương, những câu văn nhiều vẫn điệu có khả năng hồi sinh tư duy hồn nhiên, lãng mạn của người đọc, đưa họ về với tuổi hoa niên, yêu và xúc động trước “những lời có cánh như mạch nước trong ngần, mát lành, róc rách,... Nhiều câu văn, đoạn văn cứ ngân nga mãi trong lòng người. Giọng kể trong Sự tích những ngày đẹp trời cũng vang lên với nhiều cung bậc, nhiều âm sắc. Có chất giọng khi thì sôi nổi, nồng nàn; khi trầm buồn, khi thiết tha của người tình Thuỷ Tinh. Có giọng điệu trầm tĩnh, ấm áp của một Sơn Tinh trí tuệ và bao dung; có giọng điệu vừa trẻ trung, thơ ngây, nũng nịu vừa đằm thắm của nàng công chúa nề nếp, đoan trang - biết mình yêu và được yêu. Nhưng ấn tượng sâu đậm nhất vẫn là giọng của người kể chuyện với tấm lòng trẻ thơ đã làm sống dậy những cảm xúc trong sáng, mơ mộng và tạo nên một thế giới cổ tích hoàn hảo. [...]

Dùng luận điểm bàn về ngôn ngữ nghệ thuật để kết luận.

(Nguyễn Thị Nương, http://nguvan.hnue.edu.vn, ngày 11/10/2020)

1

Theo tác giả bài viết, trong truyện ngắn Sự tích những ngày đẹp trời, Hoà Vang đã kế thừa và làm biến đổi những phương diện cơ bản nào của "mẫu gốc"?

2

Khi bàn về sự “biến đổi" của nhân vật ở truyện ngắn so với nhân vật ở "mẫu gốc", theo bạn, tác giả bài viết đã có những phát hiện mới mẻ nào?

3

Nêu nhận xét ngắn gọn về cách đánh giá của tác giả bài viết đối với những điểm sáng tạo của Hoà Vang trong việc biến đổi các yếu tố kì ảo.

4

Qua việc tìm hiểu bài viết tham khảo, hãy chia sẻ thu hoạch của bạn trong việc rèn kĩ năng viết bài nghị luận về vấn đề tiếp thu, cải biến, sáng tạo trong một tác phẩm văn học.

Thực hành viết

Chuẩn bị viết

Chọn một tác phẩm (thơ, truyện ngắn, truyện thơ, tiểu thuyết,...) có biểu hiện tương đối rõ sự vay mượn – biến đổi (hay tiếp nhận – sáng tạo),... so với tác phẩm có trước.

Chú ý chỉ ra được những phương diện vay mượn – biến đổi trong tác phẩm. Sắp xếp các dẫn chứng thông qua lập biểu khảo sát.

Xác định phạm vi nội dung và trọng tâm bài viết (vấn đề nghị luận); đặt nhan đề cho bài viết của mình.

Một số gợi ý:

  • Trong số các tác phẩm văn học viết mà bạn đã biết, có thể có những tác phẩm vay mượn cốt truyện, nhân vật, sự kiện, hình tượng,... từ một tác phẩm văn học dân gian. Hãy nêu một vài ví dụ tiêu biểu.
  • Nhiều tác phẩm văn học Việt Nam đã vay mượn cốt truyện, chịu ảnh hưởng ở các mức độ và phương diện khác nhau của tác phẩm văn học nước ngoài. Lựa chọn để trình bày về một trường hợp như vậy.
  • Sử dụng điển cố là một trong những biểu hiện của hiện tượng vay mượn và cải biến trong tác phẩm văn học. Hãy trình bày về một trường hợp sử dụng điển cố mà bạn cho là độc đáo.

Tìm ý, lập dàn ý

Tìm ý

Có thể tự đặt ra các câu hỏi xếp theo nhóm như sau để tìm ý:

Có những thông tin nổi bật gì cần giới thiệu liên quan đến nhan đề, thể loại, tác giả, ý nghĩa của tác phẩm "nguồn” và tác phẩm chịu ảnh hưởng?

Sự tiếp nhận có ý thức được thể hiện rõ trên những phương diện nào (thể loại, cốt truyện, điển cố,... hay cảm hứng, quan điểm, phong cách,...)? Trong đó, phương diện nào cần được đặc biệt nhấn mạnh?

Bạn nhận diện sự tiếp nhận (chịu ảnh hưởng, vay mượn) dựa trên những yếu tố hoặc cơ sở nào?

Tác dụng, ý nghĩa của sự cải biến, cách tân là gì?

Nên đánh giá về mức độ, phạm vi, tính chất,... của sự vay mượn và biến đổi như thế nào cho thoả đáng?

Lập dàn ý

Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn các thông tin về tác giả, tác phẩm, trọng tâm vấn đề (khía cạnh nào của sự vay mượn – biến đổi) mà bài viết bàn luận.

Thân bài: Cần triển khai các ý chính sau đây:

+ Nhận diện về phạm vi, tính chất của việc tiếp nhận, chịu ảnh hưởng.

+ Phân tích, đánh giá sự vay mượn, tiếp nhận, chịu ảnh hưởng trên các phương diện cụ thể.

+ Phân tích, đánh giá những điểm biến đổi, sáng tạo của tác giả trong quá trình vay mượn.

Lưu ý: Việc sắp xếp hệ thống ý chính cần linh hoạt, phụ thuộc vào ý tưởng triển khai mạch nghị luận. Ví dụ, có thể sắp xếp theo cấu trúc: các phương diện chỉ vay mượn mà không biến đổi, vay mượn nhưng biến đổi một phần, vay mượn về mặt hình thức nhưng biến đổi hoàn toàn về nội dung,...

Kết bài: Ý nghĩa của việc tìm hiểu về sự vay mượn và biến đổi trong tác phẩm. Nêu đánh giá chung và hướng khám phá, tìm tòi tiếp theo.

Viết

Triển khai các ý thành một hoặc một vài đoạn văn. Chú ý sự phù hợp về dung lượng (độ dài) của ý chính (vay mượn – biến đổi) và các ý phụ.

Hệ thống các dẫn chứng (trích dẫn, số liệu thống kê,...) gắn với từng luận điểm cần rõ ràng, xác đáng. Biết trích dẫn ý kiến từ các tài liệu tham khảo một cách hợp lí, trình bày theo đúng quy định.

Tổ chức liên kết hệ thống ý một cách chặt chẽ.

Lựa chọn từ ngữ thích hợp, nhất là hệ thống các từ ngữ thể hiện sự so sánh, đánh giá.

Chỉnh sửa, hoàn thiện

Đọc lại và kiểm tra bài viết cẩn thận, từ chỉnh thể văn bản đến chi tiết là câu văn; chú ý các yêu cầu cụ thể của kiểu bài.

Kiểm tra tính logic của mạch ý đã triển khai; tính hợp lí của dẫn chứng; sự khách quan trong bàn luận, so sánh, đánh giá,... về mức độ vay mượn, tiếp thu, sáng tạo của tác giả.

Rà soát, chỉnh sửa các lỗi về chính tả, từ ngữ, ngữ pháp; kiểm tra sự liên kết giữa các câu trong đoạn và giữa các đoạn trong bài viết.

Nói và nghe

Trình bày về việc vay mượn – cải biến – sáng tạo trong một tác phẩm văn học

Yêu cầu

  • Giới thiệu ngắn gọn những thông tin chính về vấn đề được chọn: tác phẩm, tác giả; nội dung đặt ra liên quan đến chủ đề bài nói.
  • Lựa chọn được một hoặc một vài phương diện nổi bật của sự vay mượn trong tác phẩm (như cốt truyện, nhân vật, tình tiết,...) để phân tích, qua đó, nêu những phát hiện về sự vay mượn – cải biến – sáng tạo của tác giả so với "nguyên mẫu".
  • Đánh giá chung về ý nghĩa của vấn đề đặt ra trong bài nói.

Chuẩn bị nói

Lựa chọn đề tài

Đề tài của bài trình bày có thể là đề tài mà bạn đã thực hiện ở phần Viết. Nên lựa chọn đề tài phù hợp với điều kiện đọc và tra cứu tài liệu tham khảo của bạn.

Tìm ý và sắp xếp ý

Một số câu hỏi tìm ý:

  • Nội dung chính của bài nói là gì? Tác giả, tác phẩm nào sẽ được tập trung phân tích?
  • Tác phẩm được chọn chịu ảnh hưởng từ tác phẩm nào có trước? Căn cứ xác định có quan hệ vay mượn – cải biến ở đây là gì?
  • Đâu là phương diện cho thấy rõ nhất sự tiếp nhận ảnh hưởng từ "nguyên mẫu"? Bài nói sẽ nhấn mạnh điểm gì khi đề cập vấn đề này?
  • Các biểu hiện chính của việc vay mượn là gì? Nên đánh giá thế nào về mức độ, tính chất của mối quan hệ vay mượn – cải biến ở trường hợp này?
  • Tác giả có những sáng tạo nổi bật gì khi tiếp nhận ảnh hưởng và vay mượn chất liệu cho sáng tác của mình?

Việc vay mượn – cải biến – sáng tạo của tác giả nói lên được điều gì về bối cảnh văn học lúc tác phẩm ra đời?

Nếu bài nói được xây dựng dựa trên bài viết đã thực hiện, cần lựa chọn từ bài viết những ý (luận điểm) quan trọng nhất, thể hiện được những tìm tòi, khám phá riêng của mình; đồng thời sắp xếp các ý đã chọn theo một trình tự logic, phù hợp với tính chất của bài nói.

Thực hành nói

Mở đầu: Giới thiệu vấn đề trình bày, đối tượng và phạm vi nội dung sẽ được đề cập.

Triển khai: Lần lượt trình bày các luận điểm chính, phối hợp nhịp nhàng giữa lời nói và nội dung của các slide trình chiếu (nếu có).

Kết luận: Tóm lược vấn đề đã trình bày; nêu nhận định, đánh giá khái quát về sự vay mượn - cải biến – sáng tạo của tác giả; ý nghĩa, giá trị thực tế của việc vay mượn – cải biến – sáng tạo được thể hiện trong tác phẩm.

Trao đổi, đánh giá

Người nghe

Người nói

Đánh giá về tính hệ thống, hợp lí của vấn đề mà bài trình bày đề cập; sự hấp dẫn của vấn đề vay mượn – cải biến sáng tạo được bài trình bày lựa chọn.

  • Trao đổi về các góp ý, đề nghị,... của người nghe theo đúng trọng tâm. Có thể xem đây là cơ hội để giải thích thêm các ý tưởng mà bài trình bày của mình chưa thể hiện hết.

Trao đổi về nội dung, mức độ thuyết phục của bài trình bày, những điểm cần làm rõ, những điểm cần rút kinh nghiệm,...

Có thể đặt ra các câu hỏi với người đối thoại, nhằm mục đích hướng tới nhận thức hợp lí nhất về những vấn đề, phương diện cùng quan tâm.

Nhận xét về sự chuẩn bị, cách trình bày của người nói.

Với những vấn đề, phương diện còn có cách hiểu, cách lí giải khác nhau, cần ghi nhớ để xin ý kiến gợi ý, giải đáp từ chuyên gia.

Củng cố, mở rộng

1

Bài học đã đưa lại cho bạn những hiểu biết gì về đặc điểm nổi bật của truyện truyền kì thời trung đại?

2

Yếu tố kì ảo trong truyện truyền kì và yếu tố kì ảo trong một số thể loại văn học khác (truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngắn hiện đại,...) có những điểm giống, khác nhau như thế nào?

3

Tìm đọc một tác phẩm văn học hiện đại có yếu tố kì ảo, viết bài giới thiệu ngắn gọn về tác phẩm đó.

Thực hành đọc

Một số điều cần lưu ý khi đọc văn bản:

  • Ý nghĩa biểu tượng của "bến trần gian".
  • Suy tư của tác giả về đời sống tâm linh của con người từng trải qua nhiều mất mát vì chiến tranh.
  • Yếu tố kì ảo trong truyện ngắn và tác dụng của việc sử dụng yếu tố này.

Bến trần gian

Lưu Sơn Minh(1)

Anh đã đi mấy chục năm, vượt qua bao nhiêu khuôn mặt chỉ để đêm nay tới đây và gọi “Đò ơi!”.

Dòng sông không hiểu đang chảy hay đã ngừng chảy từ lâu. Chỉ có ánh trăng rụt rè sáng một nửa sông phía bên kia không bị bóng cây si che lấp [...]. Hồi còn bé, bà thường kể cho anh nghe ngoài sông đêm có tiếng ma gọi đò, tiếng gọi như một lời khẩn cầu có sức hút huyền bí đến lạ lùng. Bao nhiêu cô gái đã chạy ra bến và chèo một mạch qua sông rồi lại chèo về, cứ thế cho đến sáng. Sau đó, chẳng còn ai dám lấy họ nữa.

Bóng anh trôi nhè nhẹ ven sông, đổ lên những thân cây đẫm sương. Mấy chục năm, cây cỏ vẫn thế. Anh cứ trôi, trôi mãi... và cất tiếng gọi: “Đò... ơi, đò..."

Bà cụ Lăng lọm khọm đi ra sau vườn. Đêm nay trăng sáng quá, bà không sao ngủ được. Bà nhớ lại đêm trước ngày thằng Lăng đi bộ đội. Sau khi dự hội diễn ở ngoài đình trở về, nó lặng lẽ ngồi đầu hè thổi sáo. Bà thì ngồi trong nhà ngắm nhìn đứa con trai duy nhất. Bóng nó đổ xuống sân lừng lững. Bà thấy mắt mình nhoà đi, hình như bà khóc... Cái bóng cứ tự nhiên mờ dần dưới chân Lăng. “Chết... mất bóng thì mày thành ma hở Lăng?"... Bà vội giụi mắt, không, cái bóng Lăng vẫn còn nguyên ở dưới sân. Đúng, bà nhớ lắm, nó quay lại cười với bà: “U đi ngủ đi, con ngồi thêm chút nữa rồi con cũng đi ngủ. Đêm nay trăng sáng quá ... "

Lưu Sơn Minh sinh năm 1974 tại thành phố Hà Nội, thành công nổi bật với những truyện viết về đề tài lịch sử. Các tác phẩm chính: Mưa sâm cầm (tập truyện ngắn, 1999), Trần Khánh Dư (tiểu thuyết, 2016), Trần Quốc Toàn (tiểu thuyết, 2017).

Ngoài vườn, cây nhài lặng lẽ thơm. Hồi thằng Lăng đi rồi, con Thuỳ mang cây nhài ra trồng ở vườn. Nó bảo bà: “Con chờ anh Lăng suốt đời”. Chiều chiều, nó sang nhà nấu cơm quét tước giúp bà. Thế mà bây giờ con bé đã một nách năm đứa con [...]. Bà biết con bé vẫn thỉnh thoảng lẻn ra ngoài bờ sông khóc. Bà lập cập mở cánh cổng ra ngoài bờ sông, trăng đã lên cao tít trên kia.

Anh đã đi mấy chục năm mà vẫn luẩn quẩn trong rừng. Cho tới một hôm, trong cuộc viễn du vô định, anh gặp một ông già râu tóc bạc phơ. Ông bảo: “Lại đây con, ta biết con lang thang đã lâu lắm rồi. Ta cho con cái lá này, con hãy gài vào vành tai. Cái lá sẽ giữ cho linh hồn con không tan ra khi quay về chốn cũ. Từ giờ con sẽ bay được. Lên đường đi con. Hãy tìm về nơi con đã ra đi...”

Và suốt chục ngày trời, anh trôi nhẹ nhàng qua những làng mạc, những cánh đồng khô cần và phì nhiêu, những con sông và núi đồi. Anh trôi qua tất cả, vậy mà đến con sông này thì anh không thể vượt qua được nữa. Phải có một con đò đón anh qua sông. Và thế là anh gọi “Đò... ơi, đò .

Thuỳ ngồi trên bến sông khóc. Đã lâu chị mới lại được ngồi một mình ở đây. Chị mong đêm nay bà cụ Lăng ngủ yên. Mọi khi đêm nào chị khóc ngoài này bà cũng ra an ủi. [...]

Thuỳ đứng phắt dậy, chị cần phải qua sông, chị cần phải rời bỏ cuộc sống này đi tìm Lăng của chị. Không cần suy nghĩ gì nữa, chị với lấy chèo và chèo cắm cúi. Gió thổi nhẹ vào tóc chị, vào gáy chị. Thuỳ như thấy đang quay về thời con gái...

Đúng rồi... có một con thuyền nhỏ. Thế là công anh gọi đò không uổng phí. Nhanh lên cô lái ơi!

Anh không nhìn xuống dòng sông nữa, anh nhìn sang bên kia sông, nơi anh trở về, u, u ơi... Mấy chục năm rồi, nhanh lên, tôi không thể đứng đây được nữa tôi phải về với u tôi. Tự nhiên anh liếc vội vào gốc si. Chẳng hiểu có ma không nhưng anh cứ thấy rờn rợn, nhanh lên cô lái ơi...

Thuỳ thoáng giật mình. “Bây giờ mà có ai nhìn thấy mình thì mang tiếng quá". Chị tháo chiếc khăn vuông trên vai che kín khuôn mặt và chèo tiếp. Giờ thì chị lại chèo quá chậm. Có lẽ đúng ra là chị không chèo mà để mặc cho con thuyền trôi từ từ.

Cứ như thế, gió sẽ đưa chị đến một bến bờ, không thời gian, không còn những ràng buộc. Lăng sẽ đón chị ở đó. Mà... cũng có thể anh không còn ở nơi ấy nữa, nhưng chị cứ đi, con thuyền sẽ trôi theo những xoáy nước của định mệnh. Gió đêm nay thổi mạnh và con thuyền trôi từ bờ này sang bờ kia thẳng băng như theo một con đường định sẵn. Đuôi thuyền dần dần khuất hẳn trong bóng tối của cây si cổ thụ... Bến nào đấy ơi!...

Anh lượn đi lượn lại trên bờ một cách sốt ruột: "Sao cô ta lại chèo chậm như thế?”. Mà hình như cô ta không chèo nhưng con thuyền vẫn từ từ trôi về phía anh [...]. Lá si rụng nhè nhẹ và đôi lúc có một quả si rụng xuống cái miếu thờ phía bên kia đánh bộp.

Con thuyền cứ chầm chậm trôi.

Và cuối cùng thì nó cũng chạm vào bờ đất. Anh hấp tấp nhảy xuống đò. Trời ơi, cô lái bịt kín mặt bằng một cái khăn vuông. Đôi mắt quen lắm, hay là... anh không dám nghĩ nữa. Có cái gì giống ánh nhìn vô cảm của cô gái chết đuối ngày xưa. Thôi chết, khéo đây đúng là con đò ma rồi. Anh ngồi rúm lại phía cuối thuyền, giọng nghèn nghẹt “Cô cho tôi qua”. Dường như không nghe thấy, cô lái đò quay mũi thuyền và lại chậm chạp chèo về. Anh miên man nhìn lên những rặng cây quen thuộc.

Thuỳ vừa thấy mũi thuyền chạm vào bến thì nghe tiếng gọi “Thuỳ ơi, về đi con . Lại bà cụ Lăng rồi. U không cho con đi đi tìm anh Lăng ư, bao giờ cũng thế, khi nào con muốn về với Lăng thì u lại níu con lại với xóm làng. "U ơi"... Thuỳ bật khóc, chị quay mũi thuyền và chèo về. Chị biết rằng thế này có nghĩa là lại sống như những ngày vừa rồi. Thuỳ quờ tay lên mũi thuyền rút mấy que hương. Chị vừa châm hương vừa lầm rầm khấn. “Lăng ơi, em không thể đi với anh được, em còn phải trông nom u, với cả... còn anh ấy và các con em...".

Anh vẫn ngồi núp phía cuối thuyền. Cô lái đò hình như đang lẩm bẩm gì đó. Anh chỉ có thể nhìn thấy những chấm đỏ ẩn hiện ở phía trước. Anh muốn nhảy xuống sông để chạy trốn. Đúng cô ta là ma rồi, chỉ có ma mới khóc không ra tiếng và nói không ra tiếng. Nhưng dường như chân anh cứng lại, dính chặt vào thuyền. Mùi khói hương thơm nhè nhẹ đưa về phía anh. Bất giác anh sờ lên vành tai, chiếc lá vẫn còn. Sắp hết khoảng tối của bóng cây, anh khẽ xoay người cho đỡ mỏi nhưng không được. Chẳng biết rồi con thuyền ma này sẽ đưa anh về đâu. Anh hét lên:

Ngoài vườn, cây nhài lặng lẽ thơm. Hồi thằng Lăng đi rồi, con Thuỳ mang cây nhài ra trồng ở vườn. Nó bảo bà: “Con chờ anh Lăng suốt đời". Chiều chiều, nó sang nhà nấu cơm quét tước giúp bà. Thế mà bây giờ con bé đã một nách năm đứa con [...]. Bà biết con bé vẫn thỉnh thoảng lẻn ra ngoài bờ sông khóc. Bà lập cập mở cánh cổng ra ngoài bờ sông, trăng đã lên cao tít trên kia.

*

Anh đã đi mấy chục năm mà vẫn luẩn quẩn trong rừng. Cho tới một hôm, trong cuộc viễn du vô định, anh gặp một ông già râu tóc bạc phơ. Ông bảo: “Lại đây con, ta biết con lang thang đã lâu lắm rồi. Ta cho con cái lá này, con hãy gài vào vành tai. Cái lá sẽ giữ cho linh hồn con không tan ra khi quay về chốn cũ. Từ giờ con sẽ bay được. Lên đường đi con. Hãy tìm về nơi con đã ra đi...”.

Và suốt chục ngày trời, anh trôi nhẹ nhàng qua những làng mạc, những cánh đồng khô cằn và phì nhiêu, những con sông và núi đồi. Anh trôi qua tất cả, vậy mà đến con sông này thì anh không thể vượt qua được nữa. Phải có một con đò đón anh qua sông. Và thế là anh gọi “Đò... ơi, đò”.

Thuỳ ngồi trên bến sông khóc. Đã lâu chị mới lại được ngồi một mình ở đây. Chị mong đêm nay bà cụ Lăng ngủ yên. Mọi khi đêm nào chị khóc ngoài này bà cũng ra an ủi. [...]

Thuỳ đứng phắt dậy, chị cần phải qua sông, chị cần phải rời bỏ cuộc sống này đi tìm Lăng của chị. Không cần suy nghĩ gì nữa, chị với lấy chèo và chèo cắm cúi. Gió thổi nhẹ vào tóc chị, vào gáy chị. Thuỳ như thấy đang quay về thời con gái...

Đúng rồi... có một con thuyền nhỏ. Thế là công anh gọi đò không uổng phí. Nhanh lên cô lái ơi!

Anh không nhìn xuống dòng sông nữa, anh nhìn sang bên kia sông, nơi anh trở về, u, u ơi... Mấy chục năm rồi, nhanh lên, tôi không thể đứng đây được nữa tôi phải về với u tôi. Tự nhiên anh liếc vội vào gốc si. Chẳng hiểu có ma không nhưng anh cứ thấy rờn rợn, nhanh lên cô lái ơi...

Thuỳ thoáng giật mình. “Bây giờ mà có ai nhìn thấy mình thì mang tiếng quá". Chị tháo chiếc khăn vuông trên vai che kín khuôn mặt và chèo tiếp. Giờ thì chị lại chèo quá chậm. Có lẽ đúng ra là chị không chèo mà để mặc cho con thuyền trôi từ từ.

Cứ như thế, gió sẽ đưa chị đến một bến bờ, không thời gian, không còn những ràng buộc. Lăng sẽ đón chị ở đó. Mà... cũng có thể anh không còn ở nơi ấy nữa, nhưng chị cứ đi, con thuyền sẽ trôi theo những xoáy nước của định mệnh. Gió đêm nay thổi mạnh và con thuyền trôi từ bờ này sang bờ kia thẳng băng như theo một con đường định sẵn. Đuôi thuyển dần dần khuất hẳn trong bóng tối của cây si cổ thụ... Bến nào đấy ơi!...

*

Anh lượn đi lượn lại trên bờ một cách sốt ruột: “Sao cô ta lại chèo chậm như thế?”. Mà hình như cô ta không chèo nhưng con thuyền vẫn từ từ trôi về phía anh [...]. Lá si rụng nhè nhẹ và đôi lúc có một quả si rụng xuống cái miếu thờ phía bên kia đánh bộp.

Con thuyền cứ chầm chậm trôi.

Và cuối cùng thì nó cũng chạm vào bờ đất. Anh hấp tấp nhảy xuống đò. Trời ơi, cô lái bịt kín mặt bằng một cái khăn vuông. Đôi mắt quen lắm, hay là... anh không dám nghĩ nữa. Có cái gì giống ánh nhìn vô cảm của cô gái chết đuối ngày xưa. Thôi chết, khéo đây đúng là con đò ma rồi. Anh ngồi rúm lại phía cuối thuyền, giọng nghèn nghẹt “Cô cho tôi qua”. Dường như không nghe thấy, cô lái đò quay mũi thuyền và lại chậm chạp chèo về. Anh miên man nhìn lên những rặng cây quen thuộc.

Thuỳ vừa thấy mũi thuyền chạm vào bến thì nghe tiếng gọi “Thuỳ ơi, về đi con”. Lại bà cụ Lăng rồi. U không cho con đi tìm anh Lăng ư, bao giờ cũng thế, khi nào con muốn về với Lăng thì u lại níu con lại với xóm làng. “U ơi”... Thuỳ bật khóc, chị quay mũi thuyền và chèo về. Chị biết rằng thế này có nghĩa là lại sống như những ngày vừa rồi. Thuỳ quờ tay lên mũi thuyền rút mấy que hương. Chị vừa châm hương vừa lầm rầm khấn. “Lăng ơi, em không thể đi với anh được, em còn phải trông nom u, với cả... còn anh ấy và các con em...”.

*

Anh vẫn ngồi núp phía cuối thuyền. Cô lái đò hình như đang lẩm bẩm gì đó. Anh chỉ có thể nhìn thấy những chấm đỏ ẩn hiện ở phía trước. Anh muốn nhảy xuống sông để chạy trốn. Đúng cô ta là ma rồi, chỉ có ma mới khóc không ra tiếng và nói không ra tiếng. Nhưng dường như chân anh cứng lại, dính chặt vào thuyền. Mùi khói hương thơm nhè nhẹ đưa về phía anh. Bất giác anh sờ lên vành tai, chiếc lá vẫn còn. Sắp hết khoảng tối của bóng cây, anh khẽ xoay người cho đỡ mỏi nhưng không được. Chẳng biết rồi con thuyền ma này sẽ đưa anh về đâu. Anh hét lên:

“Hãy buông tha tôi ra, xin đừng đưa tôi về xứ của ma, tôi còn phải về thăm u, mấy chục năm rồi...”.

Nhưng không có tiếng động nào phát ra nổi, ngay cả lưỡi anh cũng như hoá đá. Anh cuống cuồng nhìn qua hai bên, nhất định chỉ vì khói hương của loài ma mị này mà anh bị dính chặt ở đây...

*

Thuỳ cập con thuyền vào bờ. Bà cụ Lăng thì thào: “Mẹ cha mày, mày định bỏ mà đi hả con? Làm thân con gái thì phải chịu, mày trốn sao nổi...".

Thuỳ sà vào lòng bà và khóc. Bà cụ lập cập quờ tìm tay Thuỳ: “Thôi con, về nhà đi. Bọn trẻ nó dậy mà không thấy mày lại khóc hết nước mắt. U hiểu mày, thằng Lăng nó biết thế này cũng mát ruột con ạ. Về đi...".

Thuỳ neo thuyền vào cái cây ven sông và lầm lũi biến dẫn vào bóng đêm.

Còn lại một mình, bà cụ Lăng thở dài chậm chạp trở về nhà, vừa đi vừa đấm lưng “Rõ khổ con bé, thằng chồng phải cái nóng tính. Đẻ lắm thì nuôi nhiều, khổ sở quá rồi hay cáu, mai lại phải sang bảo nó một nhời”...

Con đò vừa cập bến, anh ngạc nhiên thấy cô lái nhảy lên bờ và khóc trong lòng một bà cụ rất lâu. Thế rồi cô ấy biến mất vào những rặng cây ven sông. Còn bà cụ thì lập cập chống gậy quay về. Cái dáng đi quen thuộc của những người quanh năm còng lưng vì hạt lúa. Bao nhiêu mùa lúa còng xuống vì thóc thì cái dáng người cũng còng xuống bấy nhiêu. O, nhưng mà... ai trông như là u ấy nhỉ? Thôi khéo đúng là u rồi. U vẫn cầm cái gậy đánh chó ngày xưa, cái gậy con chặt ở bụi trúc sau nhà. Đúng rồi, u ơi, con bị trói ngoài này... Anh không hề cảm thấy rằng mấy nén hương đầu thuyền đã lụi...

Hình như có tiếng ai gọi dưới sông, mà giọng người làng này. Lạ nhỉ, đã về đến đây, không lên bờ còn ngồi dưới ấy mà gọi. Bà cụ Lăng lại quay ra bến sông “Ai đó... σ... ới?".

  • Con đây mà u.

Ở kìa, đúng thằng Lăng ngồi ở trên thuyền... Bà đánh rơi cái gậy khỏi tay và lật bật chạy xuống bến...

  • Sao mày ngồi đấy hả Lăng, lên với u đi.

Lăng ngẩng đầu lên:

  • Con bị ngửi hương ma nên hoá đá ở đây rồi.
  • Đâu, làm gì có ma?
  • Cô lái đò lúc nãy là ma đấy u ơi!

Mày khéo mơ ngủ rồi con ạ, nó là cái Thuỳ đấy mà?

Thuỳ hả u? – Anh cuống cuồng vùng dậy – U, bây giờ cô ấy đâu rồi, u kéo con lên với!

Bà cụ đưa tay ra. Lăng cầm vào tay mẹ. Chợt bà cụ thoảng thốt kêu lên:

  • Sao tay mày lạnh thế, Lăng?

Lăng vụt lên bờ, anh chơi vơi trên những đám cỏ đầm đìa ánh trăng.

  • Thôi rồi, mày là ma hả Lăng?

Và Lăng đột nhiên thấy lờ mờ trong trí nhớ rằng anh đã chết. Anh đã trúng đạn từ lâu rồi, mấy chục năm trước hồn anh cứ luẩn quẩn trong rừng cho đến ngày gặp ông già tóc bạc. Anh kêu lên:

  • U ơi, thế người chết là ma hả u?
  • Ừ, chết rồi phải thành ma chứ còn gì nữa! Thế ai rắc vàng cho mày mà mày biết nẻo về đây?

Và Lăng kể cho mẹ nghe những tháng ngày, những năm, mấy chục năm phiêu bạt, chuyện ông già và chiếc lá.

Bà cụ lặng người đi. Đâu đây có tiếng chó nhà ai sủa nhau nhảu nghe là lạ...

  • Người chết thì phải đi thôi con ạ, đừng luẩn quẩn trần gian làm gì nữa. Bây giờ mày chỉ làm người ta sợ thôi!
  • U ơi, u để cho con tới thăm Thuỳ đã!

Bà cụ kéo vội dải yếm lên chùi mắt.

  • Không được, mày mà đến thì nó cũng sợ mày. Với cả còn chồng con nó nữa. Lăng, quay về xứ ma đi, mày không được ở lại để làm hại người sống [...].

Lăng dật dờ mấy vòng, chẳng rõ anh có khóc không bởi đêm nay sương rơi nhiều quá. Bãi cỏ ven sông ướt đẫm.

  • U, u có nhớ con không?

Bà cụ Lăng quay mặt đi.

  • Không, đi nhanh lên con, mặt trời sắp lên rồi. Cái lá ấy sẽ làm mày trở thành kẻ bị mọi người thù ghét. Bao giờ giỗ thì u lại khấn mày về với u, thế rồi Tết nhất lại về. Con xuống dưới ấy cũng có anh có em, cả thày mày nữa...

Lăng từ từ gỡ chiếc lá ra khỏi vành tai.

  • U ơi, u cố ăn uống cho khoẻ, u nhớ...

Cả một đoạn sông tối hẳn lại, hình như có những đám mây vừa kéo ngang bầu trời. Bà cụ Lăng sụm xuống...

*

Buổi sáng ngày mười sáu là một buổi sáng đẹp trời. Thuỳ chạy sang nhà bà cụ Lăng từ sớm. Lúc chị thắp mấy nén hương lên bàn thờ thì thấy trong khung ảnh Lăng có một chiếc lá màu xám, kiểu màu của lá rụng đã lâu. Thuỳ vội vào nhà trong tìm bà cụ.

U ơi, u khóc hở u?

Đâu, tao có khóc đâu - Bà cụ chối đây đẩy.

Đúng u khóc, u lại nhớ anh Lăng hở u?

Mẹ cha mày - Bà cụ giụi mắt – Tao đang lo vợ chồng mày cãi nhau, chốc tao định sang bảo nó một nhời.

Sáng nay anh ấy xin lỗi con rồi, u ạ.

Rõ khéo trẻ con, có với nhau năm mặt con rồi mà cứ như là...

Thuỳ khẽ kêu lên “U...” rồi giấu mặt vào lòng bà “Thế mà lại sắp giỗ anh Lăng rồi u nhỉ...”

Bà cụ Lăng không nói gì, bà mải nhìn ra vườn. Ngoài ấy cây ổi thằng Lăng trồng đang xào xạc. Chốc bà phải ra vườn hái mấy quả vào thắp hương cho nó. “Tội nghiệp thằng bé, u nhớ mày lắm, Lăng ơi”. Hai giọt nước mắt chậm chạp lăn trên gò má răn reo rồi rơi xuống tóc Thuỳ.

Hình như ngoài sông người ta bảo đêm qua có ai lôi thuyền nhà chị Thuỳ ra ngoài này rồi lại thắp hương trên mũi thuyền mà chị ấy không biết... Nắng lên...

Tháng Tư năm Quý Dậu

(Lưu Sơn Minh, Mưa sâm cẩm, NXB Văn học, Hà Nội, 2002, tr. 57-67)

ÔNG ĐẠI CÁT Lộ gì? Hở mà kín, kín mà hở, không ai ngờ được!
BÀ ĐẠI CÁT – Thì cứ cất trong két ở ngay đầu giường mình có hơn không!
ÔNG ĐẠI CÁT - Để trong két, con Trinh nó mở ra luôn, có bao nhiêu nó biết cả...
Đến lúc phải khai vốn, nó lại khai ra hết thì hỏng bét! Yên lặng một giây.
O hay... làm sao mọ lại run cầm cập thế?
BÀ ĐẠI CÁT Tôi... run đâu! Hai chân vẫn run.
Cậu thử nghĩ xem còn giấu ở đâu kín hơn nữa không?
ÔNG ĐẠI CÁT – Không đâu hơn cả! Giấu đâu cũng không lọt được với cụ cố nhà này. Bà cụ lục lọi cả ngày...
BÀ ĐẠI CÁT – Cậu này... hay là treo nó lên buồng ngủ?
ÔNG ĐẠI CÁT - Treo ai lên buồng ngủ?
BÀ ĐẠI CÁT Treo cậu và tôi...
ÔNG ĐẠI CÁT Sao lại treo mợ và tôi lên buồng ngủ?
BÀ ĐẠI CÁT – Là tôi bảo treo hai cái ảnh ấy chứ!
ÔNG ĐẠI CÁT - À... Không được TRỊ THỨC
Ảnh đang treo ở dưới này lại vác lên đấy, có khác gì lạy ông tôi ở đây không? Cứ để ngay trước mắt thiên hạ... thế mới cao tay. Họ không công tư hợp doanh(1) ảnh của mình đâu!
BÀ ĐẠI CÁT Hay là đem chôn?
ÔNG ĐẠI CÁT - Chôn? Chôn mợ và tôi ấy à?
BÀ ĐẠI CÁT – Khéo khỉ! Là chôn... cái khoản kia ấy chứ!
ÔNG ĐẠI CÁT Không được! Chôn xuống đào lên lỉnh kỉnh, nhỡ con U Trinh nó biết...
BÀ ĐẠI CÁT – Lưỡng lự một giây. Cậu này... Thế còn vòng xuyến tư trang có đúng là...

Chú ý thủ pháp gây cười được vận dụng trong đoạn đối thoại.

(1) Công tư hợp doanh: nhà nước và tư nhân cùng góp vốn kinh doanh.

ÔNG ĐẠI CÁT - Đúng rồi... Tư trang không phải là vốn kinh doanh, không sợ!
Luồng ánh sáng đèn chạy vút qua hai tấm ảnh.
BÀ ĐẠI CÁT – Thế cậu cho nốt chỗ này vào... Dúi vào tay chồng một gói nhỏ.
ÔNG ĐẠI CÁT - Đưa đây. Câm gói. Mợ khiêng với tôi cái kỉ, để tôi trèo...
Hai người khiêng lúng túng, khiến ông Đại Cát đánh rơi đèn. Căn phòng tối mù.
BÀ ĐẠI CÁT – Buột miệng kêu to. Ối trời ơi... Làm sao thế này?
ÔNG ĐẠI CÁT – Suỵt! Im... khẽ chứ. Mợ định đánh thức cả nhà dậy đấy à?
BÀ ĐẠI CÁT Nhưng tối quá cậu ơi... Đèn đâu... bấm lên.
ÔNG ĐẠI CÁT - Đang mò đây. Đâu mất rồi không biết?
BÀ ĐẠI CÁT – Mất gì? Mất à?
Hai người cùng mò, đâm phải nhau.
ÔNG ĐẠI CÁT Khỉ!
Đứng yên để người ta mò thì không, cũng lại bò ra... để mà tru lên thế...
Bà Đại Cát vẫn quờ quạng, sờ phải mặt chồng.
BÀ ĐẠI CÁT - Lại rú lên. Úi trời!
ÔNG ĐẠI CÁT CŨNG rú lên. Úi trời... Cào cả vào mặt người ta rồi.
Mợ ngồi im đấy, để tôi bật đèn lên vậy.
Dò dẫm ra chỗ bật điện. Đèn ống nhấp nháy, rồi bùng lên. Ánh sáng xanh lè. Bà Đại Cát vẫn còn phủ phục dưới đất. Hai vợ chồng mặc quần áo ngủ, lếch thếch, trông đến thiểu não.
ÔNG ĐẠI CÁT Ô hay, mợ còn phục vị ra đấy làm gì nữa?
BÀ ĐẠI CÁT – Lấy bấy chống gối đứng dậy. Cái gói... đâu?
ÔNG ĐẠI CÁT – Đây! Tôi giữ thì mất làm sao được mà mợ lo! Nhặt đèn bấm.
BÀ ĐẠI CÁT Ngồi phịch xuống sập, cào lại mái tóc, tay còn run.
Ối chao ơi, sung sướng quá! Đang buôn đang bán thì đùng đùng chuyển hướng cơ. Cậu làm khổ lây cả tôi.
ÔNG ĐẠI CÁT - Nheo mắt nhìn vợ. Lại sắp sửa...
BÀ ĐẠI CÁT – Nặng giọng. Sắp sửa làm sao?

Hai nhân vật đã rơi vào tình thế hài hước như thế nào?

ÔNG ĐẠI CÁT - Nói chứ... mợ chẳng khác gì thằng mù sờ voi chỉ thấy cái đuôi.
Tình hình mậu dịch quốc doanh bành trướng như thế, các luồng hàng đều tập trung quản lí như thế, mợ bảo còn tung hoành buôn bán như trước làm sao được nữa mà không chuyển sang sản xuất. Đến sừng sỏ như tay bác Tứ Hải, buôn bán khét tiếng xưa nay, đã từng chọi cả với nhà buôn Pháp mà cũng còn phải chịu phép đóng cửa hiệu, hùn vốn làm nhà máy da... nữa là mình!
BÀ ĐẠI CÁT – Thế bây giờ mới công tư hợp doanh bằng hết.
ÔNG ĐẠI CÁT – Vẻ khó chịu. Ô là là... mợ chẳng hiểu gì cả!
BÀ ĐẠI CÁT Dằn dỗi. Phải, tôi không hiểu. Cứ như vợ chồng Đại Hưng thế mà khôn. Buôn bán cầm chừng rồi rút dần vốn về, găm chặt vào lưng, thế mà lại hay.
ÔNG ĐẠI CÁT – Hay à? Cái trò tháu cáy không bịt mắt được ai đâu. [...]
Vừa lúc ấy có tiếng động lạch cạch bên trong cửa. Bà Đại Cát nắm lấy tay chồng.
BÀ ĐẠI CÁT – Cái gì... thế? Im lặng, lại lịch kịch.
Khéo không con U Trinh... nó rình... đấy.
Ông Đại Cát xua tay, gật gật, rón rén đi tới của ngang, khe khẽ nắm quả đấm, mở ào một cái bất ngờ. Không có ai, bên trong tối om. Bà Đại Cát trừng trừng theo dõi. Ông Đại Cát trù trừ đứng nhìn vào trong tối một giây, rồi cương quyết bật đèn bước vào. Bỗng ông giật thót người, nhảy lùi lại. Bà Đại Cát đứng bật lên.
BÀ ĐẠI CÁT – Cái gì... thế... cậu?
ÔNG ĐẠI CÁT - Cười gượng. Hế, hế... con chuột to quá.
Đúng lúc đó, chiếc đồng hồ treo rung nhè nhẹ và dõng dạc reo bốn tiếng. Hai vợ chồng Đại Cát đứng lặng nghe đến tiếng ngân cuối của đồng hồ.
ÔNG ĐẠI CÁT Bàng hoàng. Sắp sáng rồi... Tự thấy sự thất thần của mình, vội lấy lại vẻ cứng cỏi. Ô hay, sao mình lại hốt hoảng thế nhỉ? Phải giấu nốt chỗ này đi chứ.
Giơ gói cấm ở tay.
Mợ ra đứng canh con U Trinh ở cửa ngang để tôi làm...
BÀ ĐẠI CÁT Chưa định thần. Cậu ạ... hay là để... mai xem sao...
ÔNG ĐẠI CÁT – Còn xem gì nữa. Mai con Trinh nó về rồi đấy.

Trạng thái tâm lí luôn thay đổi của hai nhân vật cho thấy điều gì đang ám ảnh họ?

Không, không nhanh tay lên, nhỡ đợt thí điểm này mà xong, các ông ấy tấn công ào ạt cho một trận, thì lại trở tay không kịp... Thôi, mợ cứ ra canh đi...
BÀ ĐẠI CÁT – Nhưng tôi đứng một mình ngoài ấy, tôi sợ lắm!
ÔNG ĐẠI CÁT – Sợ gì? Ô hay...
BÀ ĐẠI CÁT – Hay tôi đóng cửa lại, tôi đứng canh ở bên trong?
ÔNG ĐẠI CÁT – Bật cười. Khi ơi là khi! Thôi cũng được, mợ ra đóng cửa lại.
Bà Đại Cát rón rén đi ra cửa ngang...
BÀ ĐẠI CÁT – Nửa chừng quay lại. Cậu này...
ÔNG ĐẠI CÁT – Đang định bê cái kỉ đi. Cái gì nữa?
BÀ ĐẠI CÁT – Ảnh tôi và ảnh cậu xếp chật cả rồi, còn nhét vào đâu được nữa?
ÔNG ĐẠI CÁT Ừ nhỉ!
Nhìn lên hai cái ảnh suy nghĩ. Nhìn ra chung quanh. Dừng lại trước tấm ảnh cụ Đại Lợi to tướng, ngồi trên ghế bành lần tràng hạt.
Được rồi, cho vào ảnh mẹ... Rỡn.
Được thêm bà lão làm thần giữ của càng vững! Đấy vợ. Mợ ra đóng cửa lại.
Bà Đại Cát lại rón rén đi ra của ngang, nhè nhẹ đóng cửa lại.
ÔNG ĐẠI CÁT - Ngắm lướt tấm ảnh mẹ treo giữa nhà, trên cái tủ chè, rồi quay lại báo vợ sắc giọng lạc hẳn.
Tắt đèn đi... sáng quá.
Bà Đại Cát như một cái mây, quờ tay tắt đèn, căn phòng trở lại tối um. Hai bóng trắng vợ chồng Đại Cát chập chờn trong đêm dày đặc. Luồng ánh sáng đèn đọi loé lên vàng úa cắm thẳng vào tấm ảnh cụ Đại Lợi. Tấm ảnh chơi vơi giữa khoảng không với đôi má chảy xệ và cặp mắt quầm quặm.
Màn từ từ hạ. Hết cảnh vào trò.

Chú ý các chi tiết về tấm ảnh của cụ Đại Lợi trong cảnh hạ màn.

(Nhiều tác giả, Nhà hoạt động sân khấu Lộng Chương - Sống để cho đi!, NXB Sân khấu, Hà Nội, 2021, tr. 15-21)

Lộng Chương (1918-2003) tên khai sinh là Phạm Văn Hiền, quê ở tỉnh Hải Dương, là đạo diễn sân khấu, nhà văn, nhà viết kịch tiêu biểu thuộc thế hệ văn nghệ sĩ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong khoảng thời gian từ cuối những năm 1940 đến cuối những năm 1990, ông đã sáng tác, viết lại, chỉnh lí hàng trăm vở kịch thuộc nhiều thể loại, nói bật là: A Nàng (kịch thơ, 1960), Đôi ngọc lưu li (chèo, 1962), Tình sử Loa thành (tuồng, 1979),... Ông thành công nhất ở lĩnh vực hài kịch với các vở tiêu biểu như: Mối lo của cụ Cửu (1950), Hỏi vợ (1958), Yểm bùa trừ sâu (1959), Quần (1960), Cửa mở hé (1969),... Lộng Chương đã được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2000.

Lộng Chương Ảnh do gia đình cung cấp

Quẫn là vở hài kịch gồm năm hỏi, được công diễn trong hơn hai mươi năm, với khoảng 2.000 buổi diễn, và trở thành tác phẩm kinh điển của hài kịch hiện đại Việt Nam. Năm 2018, nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Lộng Chương, vở kịch lại được công diễn trên sân khấu Nhà hát Lớn Hà Nội và thu hút được sự quan tâm của cả giới kịch nghệ lẫn công chúng.

Tóm tắt vở kịch: Quẫn

Quần thể hiện một vấn đề mang đậm tính thời sự của xã hội miền Bắc Việt Nam những năm 60 của thế kỉ XX. Trước chủ trương công tư hợp doanh, các thành viên trong gia đình nhà tư sản dân tộc Đại Cát có những suy nghĩ khác nhau. Ông bà Đại Cát tìm mọi cách để che giấu và tẩu tán khối gia sản tích cóp được lâu nay, trước khi chuyển xưởng dệt của gia đình thành xưởng dệt công tư hợp doanh. Hai ông bà một mặt giấu vàng sau mấy bức ảnh trong phòng khách, mặt khác đi sắm sửa của hồi môn cho con gái để tẩu tán tài sản. Mẹ Đại Cát – cụ Đại Lợi và em gái Đại Cát bà Đại Hưng biết tin này, cũng đòi được chia tài sản. Con gái Đại Cát là Thuý Trinh và người yêu cô – Hùng là những thanh niên hăng hái tham gia lao dộng kiến thiết, tin tưởng vào đường lối phát triển kinh tế của nhà nước. U Trinh – người làm công trong gia đình, tình cờ biết được chỗ hai ông bà Đại Cát giấu của, đã mách với Thuý Trinh và Hùng. Cuối cùng, Thuý Trình và người yêu đã thuyết phục được cha mẹ chấp thuận không "giấu của" nữa. Ông bà Đại Cát cũng nhận ra rằng mình đã “quần".
Đến nay, mặc dù đường lối phát triển kinh tế của đất nước đã đối khác và vấn đề xã hội được đặt ra trong Quẫn đã không còn tính thời sự, nhưng giá trị của tác phẩm này ở phương diện nghệ thuật hài kịch vẫn được giới chuyên môn và đông đảo khán giả, độc giả khẳng định.
Giấu của là doạn trích từ Cảnh vào trò của vở hài kịch Quẫn.

1.

Xác định tình huống gây cười trong đoạn trích Giấu của.

2.

Phân tích tính trào phúng trong ngôn ngữ đối thoại của hai nhân vật.

3.

Theo bạn, trạng thái "quẫn" của hai nhân vật ông Đại Cát và bà Đại Cát được thể hiện qua những lời nói, cử chỉ và hành động nào?

4.

Việc lặp đi lặp lại chi tiết về những tấm ảnh trong lời chỉ dẫn sân khấu ở phần đầu và phần cuối đoạn trích gợi cho bạn suy nghĩ gì?

5.

Bạn thấy hai nhân vật "đáng cười" trong đoạn trích này đáng ghét hay đáng thương?
Tại sao?

6.

Hãy chỉ ra xung đột giữa thực tế và lí tưởng được thể hiện trong đoạn trích.

7.

Nếu là đạo diễn dàn dựng đoạn trích này trên sân khấu, bạn sẽ lưu ý diễn viên những điểm gì?

Kết nối đọc - viết

Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích một chi tiết hài hước trong đoạn trích Giấu của.

Viết

Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên, xã hội

Yêu cầu

Ở lớp 10 và lớp 11, bạn đã tập viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên, xã hội theo các đề tài mang tính cụ thể, giới hạn ở một số đối tượng đơn lẻ. Đến với bài học này, cùng hướng về một vấn đề tự nhiên, xã hội, bạn sẽ được hướng dẫn lựa chọn các đề tài mang tính khái quát hơn để viết báo cáo nghiên cứu. Bên cạnh việc vận dụng các kĩ năng và thao tác nghiên cứu cơ bản từng được làm quen, với yêu cầu viết ở đây, bạn sẽ phải xây dựng những luận điểm thể hiện được khả năng làm chủ của mình trước một khối lượng dữ liệu phong phú và phức tạp về đối tượng.

  • Giới thiệu được đề tài nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên, xã hội; nêu được câu hỏi nghiên cứu (vấn đề) chính cần giải quyết.
  • Trình bày được kết quả nghiên cứu thông qua hệ thống luận điểm sáng rõ, phù hợp với các dữ liệu đã thu thập.
  • Thể hiện được cái nhìn toàn cảnh về vấn đề nghiên cứu và quan điểm của người viết.
  • Biết vận dụng các thao tác nghiên cứu cơ bản, khai thác các nguồn tham khảo đáng tin cậy.
  • Sử dụng hiệu quả sơ đồ, bảng biểu; có thuyết minh các hình ảnh minh hoạ; có sử dụng trích dẫn, cước chú và biết trình bày phần tài liệu tham khảo theo đúng quy định.

Bài viết tham khảo

Mĩ thuật Việt Nam thời mở cửa (*) (Trích) Nguyễn Quân (1)

Đặt vấn đề

Giới thiệu vấn đề nghiên cứu.

Trong thập niên 1990 - 2000, một thập niên có thể được định danh bằng cụm khái niệm mở cửa hội nhập hình thành thị trường, hình ảnh văn hoá nghệ thuật Việt Nam đến với thế giới trước tiên là qua mĩ thuật. Mĩ thuật chính là “cửa số đổi mới”, “hình ảnh đổi mới của văn nghệ Việt Nam thời kì này. Chỉ trong vài năm, không gian hoạt động của mĩ thuật Việt Nam đã mở rộng khắp thế giới, tạo ra một khái niệm mĩ thuật Việt Nam hiện đại trong cộng đồng nghệ thuật khu vực và quốc tế. Đây là hiện tượng cần được khái quát, phân tích thấu đáo, có thể bắt đầu từ việc nhận diện các đặc điểm nổi bật trong sự phát triển của mĩ thuật.

Giải quyết vấn đề

Trình bày các kết quả nghiên cứu.

Nêu luận điểm thứ nhất.

Thẩm mĩ dân tộc hiện đại mở cửa là thẩm mĩ chủ đạo của giai đoạn đổi mới. Khuynh hướng mạnh mẽ này được triển khai bởi một lớp nghệ sĩ khá đông đảo. Cửa mở hai chiều là đặc điểm nổi bật.
Ở chiều mở vào, ta thấy các nghệ sĩ tìm về nghệ thuật dân tộc thời tiền thực dân, thời trước khi có Trường Mỹ thuật Đông Dương cũng như trước khi có ảnh hưởng của nghệ thuật hiện thực xã hội chủ nghĩa châu Âu. Các nghệ sĩ tìm cảm hứng ở điêu khắc đình, chùa Việt Nam giàu đời sống tinh thần và sự mô tả đời thường linh hoạt, sắc bén. Họ cũng trở lại với nghệ thuật Chăm, Tây Nguyên, tranh thờ của các dân tộc miền núi,... để nhìn thấy những phong cách tạo hình cổ điển phương Đông, thẩm mĩ sơ khai hồn nhiên cũng như đời sống tâm linh bí ẩn. Họ nghiền ngẫm truyền thống và lịch sử mĩ thuật Việt Nam để làm chỗ dựa vượt qua những giáo điều trường quy và quan phương. Chất liệu giấy dó được đưa lên thành một chất liệu quan trọng như lụa, và trở nên rất phổ biến như một thứ “đặc sản Việt Nam".

(*) Văn bản nguyên là một phần nhỏ của công trình nghiên cứu quy mô về mì thuật Việt Nam thế kỉ XX, được người biên soạn sách giáo khoa bổ sung các đề mục, làm thành nội dung cốt yếu của một báo cáo nghiên cứu độc lập, hoàn chỉnh.

(1) Nguyễn Quân sinh năm 1948, quê ở tỉnh Phú Thọ, là hoạ sĩ, nhà nghiên cứu phê bình mĩ thuật Việt Nam.

Làm rõ các khía cạnh của luận điểm thông qua phân tích, đánh giá những dữ liệu thực tế.

Chiều mở vào thứ hai, quan trọng không kém, là mở vào nội giới cá nhân. Nghệ sĩ coi việc thể hiện nội giới của mình, tìm hiểu nó, làm nó phát lộ trung thực trên tác phẩm quan trọng hơn vấn đề đề tài, hình tượng hay đối tượng mô tả. Sau thời gian ngự trị của chủ nghĩa tập thể, cái tôi trở lại là miền đất màu mỡ cho cảm hứng và trách nhiệm nghệ thuật. Miền quê, tuổi thơ, các mô típ cổ kính, xa vắng, những tiểu cảnh nông thôn, những không gian “không nhìn thấy" bằng mắt thường và sự tự vấn, dằn vặt, ẩn ức,... đi vào tác phẩm nhiều hơn, trong những bố cục mới lạ. Khuynh hướng “nội giới hoá”, “cá nhân hoá này cũng cho phép và đòi hỏi nghệ sĩ tìm nhiều cách thể hiện khác nhau, nhờ vậy bề ngoài thị giác của các tác phẩm trở nên đa dạng hơn nhiều. Đi liền với cái tôi là cái mới – cái khác. Chính sự thôi thúc này đã thúc đẩy mĩ thuật biến đổi. Vì thế, sự đổi mới lần này là cuộc đấu tranh tự thân của nghệ thuật, trong khi cuộc đổi thay lần trước, từ mĩ thuật Đông Dương sang mĩ thuật Kháng chiến – Cách mạng, là hệ quả của cách mạng tư tưởng và xã hội nhiều hơn là từ bản thân nghệ thuật.

Nêu luận điểm thứ hai.

Đưa ra các dữ liệu để làm tăng sức thuyết phục của luận điểm.

Chiều mở ra cũng có hai chiều đan xen nhau. Modernism) thế kỉ XX đến với Việt Nam chậm trễ sáu, bảy mươi năm khi những thành tựu của nó đã trở thành cổ điển. Trong vòng hơn mười năm, các nghệ sĩ Việt Nam đã tìm hiểu và thử nghiệm lại, tiêu hoá những thành tựu một trăm năm của “phần bên kia thế giới với một thái độ vừa vồ vập vừa dè chừng. Chỉ có nghệ thuật trừu tượng được du nhập đầy đủ như một thể loại hơn là một “chủ nghĩa”. Ngoài ra, các trường phái khác từ Tượng trưng, Dã thú, Biểu hiện, Siêu thực, Lập thể tới Trừu tượng - Biểu hiện, Pop-art hay Conceptual Art (nghệ thuật ý niệm),... cùng các bậc thầy của nó không thực sự tạo ra các dòng tương đương mà chỉ vang vọng, để dấu ấn trong từng tác phẩm hay tác giả. Nếu như tới đầu những năm 1980 các bậc đàn anh còn e dè, ngỡ ngàng trước các trường phái, các -isme này thì thế hệ đổi mới đã “thuộc lòng và tìm cách rút tỉa cho mình những gì thích hợp với thể tạng mỗi cá nhân mà không băn khoăn về phong cách hay hệ tư tưởng nữa.
Chiều mở ra thứ hai bắt đầu rầm rộ từ giữa những năm 1990, với sự hội nhập, sống chung, đều bước với những gì đang diễn ra bên ngoài biên giới. Mĩ thuật trở thành môn nghệ thuật cởi mở nhất và cũng hội nhập thực chất nhất với các hoạt động quốc tế và khu vực, đã trở thành bình thường ở Việt Nam cũng như bên ngoài đất nước. Đó là lợi thế to lớn nhưng cũng là áp lực to lớn của lớp nghệ sĩ đổi mới thứ hai và thứ ba.

(1)Modernism: thuật ngữ tiếng Anh, thường được dịch là chủ nghĩa hiện đại, chỉ một trào lưu văn học, nghệ thuật hình thành từ cuối thế kỉ XIX, phát triển mạnh ở các nước phương Tây đầu thế kỉ XX sau đó lan khắp thế giới, chủ trương phản truyền thống", đầy mạnh những cách tân nhằm mở rộng giới hạn biểu đạt của các phương tiện nghệ thuật, thể hiện nhân thức mới về đời sống trong thời đại đấy xáo trộn, đổ vỡ.

Tranh minh hoa được sử dụng để hỗ trợ cho kênh chữ.

Lê Anh Vân, Chiến luỹ, 1984, tranh sơn dầu. Nguồn: Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam

Kết luận

Trình bày kết luận. Nêu đánh giá, mở rộng vấn đề.

Như đã trình bày ở trên, chính khuynh hướng dân tộc - hiện đại mở cửa đã xác định diện mạo mĩ thuật Việt Nam trong giai đoạn đổi mới. Xét xa hơn, cuối những năm 1970, cái cây mĩ thuật Việt Nam bung ra nhiều cành nhánh về mọi phía. Dòng sông từ ngọn nguồn luồn lách qua núi rừng lan toả về đồng bằng với nhiều nhánh rẽ uốn khúc ra biển. Một phần tư cuối thế kỉ là giai đoạn trưởng thành đầy đủ của nền mĩ thuật hiện đại trong sự bừng tỉnh của đất nước tiến vào thời đại mới, vào cuộc mưu sinh nhằm đuổi kịp nhân loại vì phồn vinh và tự do, dân chủ. Tính đa dạng, phức hợp và sự đan xen là đặc điểm phát triển của nó. Sự phong phú là kết quả của quá trình phát triển ấy. Những khuynh hướng thẩm mĩ khác nhau, những thủ pháp nghệ thuật rộng mở làm nên diện mạo mới của nền mì thuật. Và cái tôi độc đáo, sự mở cửa “hai chiều vừa khám phá cái tôi vừa khám phá thế giới, tạo ra nhiều phong cách cá nhân.

(Theo Nguyễn Quân, Mĩ thuật Việt Nam thế kỉ 20, NXB Tri thức, Hà Nội, 2010, tr. 113, 125-127,136)

Tài liệu tham khảo

1.

Nhiều tác giả (2007), Hai mươi năm mĩ thuật Việt Nam thời kì đổi mới 1986 – 2006, NXB Mỹ thuật, Hà Nội.

2.

Viện Mỹ thuật - Đại học Mỹ thuật Hà Nội (2005), Mĩ thuật Việt Nam hiện đại, NXB Mỹ thuật, Hà Nội.

3.

Nguyễn Quân (2004), Con mắt nhìn cái đẹp, NXB Mỹ thuật, Hà Nội.

1.

Nhan đề của bài báo cáo nghiên cứu cho chúng ta biết những thông tin gì về đề tài nghiên cứu, nội dung nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu?

2.

Báo cáo nghiên cứu đã triển khai những luận điểm nào? Tìm câu chủ đề thể hiện nội dung chính của mỗi luận điểm. Các cứ liệu đã được sử dụng như thế nào để làm nổi bật từng luận điểm đó?

3.

Hãy nêu các đặc điểm của ngôn ngữ được sử dụng trong báo cáo nghiên cứu.

4.

Tranh minh hoạ được sử dụng có tác dụng gì?

5.

Bạn có nhận xét gì về tính chất của các tài liệu tham khảo?

Thực hành viết

Chuẩn bị viết

Lựa chọn đề tài

Cụm từ "một vấn đề tự nhiên, xã hội" trong tên kiểu bài có phạm vi chỉ định rất rộng. Mặc dù đi sâu nghiên cứu lĩnh vực mĩ thuật, bài viết tham khảo vẫn thuộc về kiểu bài được nói ở đây, do nó chạm đến những vấn đề xã hội rộng lớn, làm nền cho sự phát triển của mĩ thuật. Theo tinh thần đó, đề tài bạn chọn hoàn toàn có thể hướng về những gì liên quan đến cuộc sống và hoạt động học tập của bản thân, miễn nó thử thách được khả năng thu thập, xử lí dữ liệu từ nhiều nguồn, khả năng nêu những luận điểm thể hiện tầm nhìn bao quát về đối tượng hay vấn đề.

Gợi ý một số đề tài:

  • Hành động của giới trẻ trong phong trào tái chế vật liệu đã qua sử dụng để bảo vệ môi trường.
  • Vai trò của những người có ảnh hưởng rộng trên mạng xã hội đối với cuộc sống của thanh niên hiện nay.
  • Tác động của những khám phá mang tính chất bước ngoặt trong công nghệ đến xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh cuối cấp Trung học phổ thông.
  • Sự lan toả của chủ nghĩa tối giản trong phong cách sống của một số thành phần dân cư.
  • Vai trò của một xu hướng hay trường phái nghệ thuật trong việc làm thay đổi cách sống và thị hiếu của tầng lớp thanh niên.
  • Những xu hướng hay hiện tượng âm nhạc đang được học sinh quan tâm và tán thưởng.

Thu thập, phân tích và đánh giá thông tin

Với định hướng viết báo cáo nghiên cứu ở bài học này, việc thu thập, phân tích, đánh giá nguồn thông tin phong phú về đề tài có tầm quan trọng đặc biệt. Cần rút ra những bài học bổ ích trên phương diện này từ bài viết tham khảo – một báo cáo nghiên cứu được triển khai dựa trên khối lượng dữ liệu lớn, có được nhờ tác giả theo dõi sát sao thực tế và đọc nhiều tài liệu tham khảo liên quan.

Xây dựng đề cương

Bạn đã được học các bước xây dựng đề cương cho báo cáo nghiên cứu ở sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập một, tr. 117-118 và tiếp tục thực hành ở sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập một,

tr. 147-148. Khi xây dựng đề cương cho báo cáo nghiên cứu một vấn đề có tính khái quát, cần lưu ý rằng các luận điểm phải được triển khai một cách rõ ràng, có hệ thống, giúp người đọc dễ nắm bắt. Trong mỗi luận điểm có thể có nhiều ý với các cấp độ lớn nhỏ khác nhau. Bạn cần vạch ra các ý này càng chi tiết càng tốt trong đề cương.

Viết

Trên cơ sở đề cương, cần triển khai luận điểm thành những đoạn văn. Hãy chú ý đến cách trình bày cứ liệu, cách viết câu chủ đề, cách kết nối các đoạn văn với nhau,... Đặc trưng của báo cáo nghiên cứu được thực hành ở đây là người viết cần trình bày được những đặc điểm của vấn đề nghiên cứu và lí giải những đặc điểm đó từ nhiều góc độ. Chẳng hạn, ở bài viết tham khảo, tác giả đã đưa ra hai luận điểm về “chiều mở vào" và "chiều mở ra". Ở mỗi luận điểm, tác giả lại trình bày hai ý chính, với những giải thích cụ thể.

Lưu ý:

Báo cáo nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội có tính tổng hợp, khái quát có thể không nổi bật vì tính mới mẻ, đột phá, nhưng cũng không phải là một sự tổng hợp thông tin đơn giản. Khi trình bày các luận điểm, người viết phải đồng thời cho thấy cách tiếp cận riêng của mình.

Một báo cáo nghiên cứu tốt về một vấn đề có tính khái quát còn đòi hỏi người viết thể hiện được quan điểm của mình đối với vấn đề nghiên cứu. Quan điểm đó có thể thể hiện qua các đánh giá, bình luận trực tiếp, hay qua tính định hướng, gợi mở của bài viết. Chẳng hạn, ở bài viết tham khảo, nhiều luận điểm có thể được coi là những gợi ý để tìm hiểu vấn đề sâu hơn hoặc rộng hơn.

Trong quá trình viết, bạn cần chú ý sắp xếp và trình bày các phương tiện hỗ trợ như sơ đó, bảng biểu, tranh ảnh,... phù hợp với nội dung được thể hiện ở kênh chữ.

Chỉnh sửa, hoàn thiện

Tiến hành rà soát và hoàn thiện bài viết trên hai phương diện:

  • Về nội dung, các tiểu mục của bài viết cần tường minh, đầy đủ, các luận điểm được triển khai rõ ràng.
  • Về hình thức, bài viết được trình bày đúng quy cách của một báo cáo nghiên cứu, đặc biệt là có các tài liệu tham khảo được tách thành phần riêng; các phương tiện phi ngôn ngữ được thể hiện hợp lí chính tả, diễn đạt đảm bảo chuẩn mực.

Nói và nghe

Trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội

Yêu cầu

  • Giới thiệu được vấn đề nghiên cứu và lí do lựa chọn vấn đề đó.
  • Trình bày được kết quả nghiên cứu một cách khái quát và có hệ thống.
  • Kết hợp hiệu quả phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để nội dung trình bày được rõ ràng và hấp dẫn.

Chuẩn bị nói

Người nói cần xác định rõ mục tiêu: đưa đến cho người nghe một cái nhìn khái quát về nghiên cứu của mình và thu thập được những phản hồi, trao đổi của người nghe về nghiên cứu đó.

Quá trình chuẩn bị về nội dung và phương tiện cho bài trình bày đã được hướng dẫn cụ thể trong sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập một, tr. 119 và Ngữ văn 11, tập một, tr. 149-150.

Với bài trình bày kết quả báo cáo nghiên cứu một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội có tính tổng hợp, khái quát, người nói cần chú ý sắp xếp cách trình bày và thời gian trình bày các luận điểm sao cho phù hợp với thời gian thuyết trình, giúp người nghe có một cái nhìn tổng quan về vấn đề. Ngoài ra, do tính chất tổng hợp, khái quát của đề tài, người nói cần chuẩn bị chu đáo các phương tiện phi ngôn ngữ hỗ trợ cho bài nói để tạo điều kiện thuận lợi cho người nghe tiếp nhận thông tin.

Người nghe có thể tìm hiểu sơ lược về vấn đề sẽ được người nói trình bày trước khi nghe và dự kiến nêu một số câu hỏi có liên quan trực tiếp đến vấn đề. Lưu ý: Vấn đề có tính tổng hợp, khái quát, nên các câu hỏi sa đà vào các chi tiết vụn vặt sẽ không phù hợp.

Thực hành nói

  • Mở đầu: Giới thiệu ngắn gọn vấn đề nghiên cứu và lí do chọn vấn đề.
  • Triển khai: Trình bày kết quả nghiên cứu, sử dụng các phương tiện hỗ trợ, chú ý theo dõi sự phản ứng người nghe trong quá trình trình bày và có điều chỉnh nếu cần thiết.
  • Kết luận: Tóm tắt lại kết quả nghiên cứu, đưa ra đánh giá khái quát, mở rộng, liên hệ,...; bày tỏ thái độ sẵn sàng tiếp nhận các trao đổi của người nghe.

Trao đổi, đánh giá

Người nghe
Nhận xét ngắn gọn về bài trình bày về cả nội dung và hình thức.
Nêu kiến trao đổi, đặt câu hỏi xung quanh vấn đề được thuyết trình.
Người nói
Bàn luận về các nhận xét và trả lời câu hỏi của người nghe.
Xác định hướng tiếp tục hoàn thiện bài báo cáo đã thực hiện.

Củng cố, mở rộng

1.

Tổng hợp và đối chiếu các thông tin cơ bản về hai văn bản hài kịch đã được học trong bài theo các gợi ý sau: nhân vật, xung đột, tình huống, hành động, kết cấu, thủ pháp trào phúng, ngôn từ (có thể lập bảng).

2.

Thảo luận về đề tài: Theo bạn, điều gì làm nên sức sống của một vở hài kịch qua các thời đại khác nhau và trong các bối cảnh tiếp nhận khác nhau?

3.

Tìm đọc thêm một số vở hài kịch; nêu nhận xét khái quát về nét đặc sắc nghệ thuật của từng vở hài kịch đã đọc.

4.

Xác định một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội có tính tổng hợp, khái quát; thu thập tài liệu, lập đề cương và trao đổi kết quả chuẩn bị trong nhóm học tập.

Thực hành đọc

Một số điều cần lưu ý khi đọc văn bản:

  • Đặc điểm của nhân vật hài kịch xuất hiện trong đoạn trích.
  • Các thủ pháp trào phúng được tác giả sử dụng.
  • Tình huống gây cười và chi tiết về sự "cẩn thận hào".

Cẩn thận hão(*) (Trích Thợ cạo thành Xê-vin - Séville) Bô-mác-se

Tóm tắt vở kịch Thợ cạo thành Xê-vin:

Ở thành phố Xé-vin thuộc Tây Ban Nha, Rô-din (Rosine), cô gái xinh đẹp dòng dõi quý tộc lâm vào cảnh mồ côi, bị người đỡ đầu là bác sĩ Bác-tô-lô (Bartholo) giam lỏng với âm mưu lấy nàng làm vợ nhằm thừa kế số tài sản lớn. Chàng bá tước An-ma-vi-va (Almaviva) và Rô-din phải lòng nhau khi tình cờ chạm mặt trên đường. Nhờ sự giúp đỡ của người đầy tớ cũ láu lỉnh là Phi-ga-rô (Figaro),

(*) Nhan đề văn bản do người biên soạn sách giáo khoa lấy theo phụ đề của vở kịch.

(1) Bô-mác-se (1732-1799) tên đầy đủ là Pi-e Ô-guýt-xơ-tanh Ca-rông đỡ Bô-mác-se (Pierre-Augustin Caron de Beaumarchais), nhà soạn kịch nổi tiếng người Pháp thời kì cuối của chế độ quân chủ chuyên chế, trước CUỘC Đại cách mạng tư sản năm 1789. Từng kinh qua nhiều nghề nghiệp, nếm trải cuộc sống cả trong cung đình lẫn ngoài xã hội, Bô-mác-se đã đem những điều mình quan sát được vào trong những vở hài kịch với tiếng cười tiễn đưa cái cũ và chào đón cái mới. Hài kịch của Bô-mác-se được xem là đình cao của sân khấu Pháp thế kỉ XVIII. Các tác phẩm tiêu biểu: Thợ cạo thành Xé-vin (1775), Đám cưới Phi-ga-rô (1784).

hiện đang làm thợ cạo kiêm thầy lang và thường xuyên qua lại nhà bác sĩ, chàng bá tước đã có cơ hội tiếp cận Rô-din và chiếm được lòng tin yêu của nàng. Chàng muốn giải cứu Rô-din khỏi tay bác sĩ và cưới nàng làm vợ.
Đoạn trích thuộc phần cuối của vở kịch. Bác-tô-lô và Ba-din (Bazile) – nhạc sĩ và thấy dạy nhạc của Rô-din, đồng thời là một kẻ hám lợi – mưu tính để Bác-tô-lô kết hôn với Rô-din ngày hôm đó. Tuy nhiên, nhờ sự mưu trí của Phi-ga-rô, tình thế được xoay chuyền. Viên chưởng khế và Ba-din đã đến ngôi nhà mà Bác-tô-lô cho Phi-ga-rô thuê, làm phép cưới và làm chứng cho lễ cưới của An-ma-vi-va và Rô-din. Khi Bác-tô-lô nhận ra sự đảo ngược của tình thế ra thì đã quá muộn.

Hồi thứ tư

Lớp VII

(Viên chưởng khế, Đôn (1) Ba-din, các diễn viên trên)

PHI-GA-RÓ - Bẩm ông lớn, đây là viên chưởng khế của chúng ta.
BÁ TƯỚC – Và ông bạn Ba-din cùng đi!
BA-DIN - Ôi! Tôi trông thấy gì thế này!
PHI-GA-RÔ - Do sự tình cờ nào, ông bạn ơi?.
BA-DIN - Do sự biến cố nào, thưa các ngài?...
CHƯỞNG KHẾ - Có phải đây là cô dâu, chú rể
BÁ TƯỚC – Phải, ông ạ. Đáng lẽ ông phải phối hợp cô nương Rô-din với tôi đêm nay, ở nhà ông thợ cạo Phi-ga-rô nhưng chúng tôi ưng chọn mái nhà này vì những lí do mà ông sẽ biết. Ông có đem theo hôn ước của chúng tôi đấy chứ?
CHƯỞNG KHẾ - Vậy ra tôi được vinh dự nói chuyện với ông lớn bá tước An-ma-vi-va!
PHI-GA-RÔ Đúng vậy.
BA-DIN - (Nói riêng) Nếu vì thế mà lão đã đưa cho ta chìa khoá cổng.
CHƯỞNG KHẾ - Là vì tôi có hai khế ước hôn nhân, bẩm ông lớn; ta đừng có lầm lẫn: đây là của ông lớn, còn đây là của ngài Bác-tô-lô, với cô nương... cũng Rô-din? Hai cô, hiển nhiên là hai chị em ruột cùng một tộc danh?
BÁ TƯỚC - Ta cứ kí đi. Đôn Ba-din sẽ vui lòng làm người chứng thứ hai cho chúng ta. (Họ kí).

(1) Đôn (nguyên văn Don) là danh xưng đặt trước tên của các quý tộc Tây Ban Nha, tương đương với "ngài".

BA-DIN Nhưng mà, bẩm ông lớn... tôi không hiểu...
BÁ TƯỚC - Ba-din tiên sinh ơi, chuyện cỏn con cũng làm ngài lúng túng, và tất cả đều làm ngài ngạc nhiên.
BA-DIN – Bẩm ông lớn... nhưng nếu ông bác sĩ...
BÁ TƯỚC (Ném cho y một túi tiền) – Còn làm bộ ngây thơ! Kí mau lên nào!
BA-DIN (Ngạc nhiên) - A!
PHI-GA-RÔ - Kí thì có khó khăn gì nào?
BA-DIN (Cân nhắc túi tiền) - Chả khó khăn gì nữa; là vì tôi, một khi tôi đã hứa lời, thì phải có những lí do nặng đồng cân... (Y kí).

Lớp VIII

(Bác-tô-lô, một thẩm phán, những cảnh binh, những gia nhân cầm đuốc, các diễn viên trên)

BÁC-TÔ-LÔ (Trông thấy bá tước hôn bàn tay Rô-din và Phi-ga-rô ôm hôn Đôn Ba-din một cách kệch cỡm; lão kêu lên và túm lấy cổ viên chưởng khế) – Rô-din với lũ ăn cắp này! Bắt tất cả! Tôi tóm cổ được một đứa đây rồi.
CHƯỞNG KHẾ - Chưởng khế của ngài đây mà.
BA-DIN – Chưởng khế của ngài đây mà. Ngài đùa đấy à?
BÁC-TÔ-LÔ - À! Đôn Ba-din, ô hay, sao mà ông lại có mặt ở đây?
BA-DIN – Đúng ra là: ngài, sao ngài lại không có mặt ở đây?
THẨM PHÁN (Trỏ Phi-ga-rô) - Khoan; tôi quen biết anh này. Anh đến làm cái trò nhà này, vào những giờ bất tiện?
PHI-GA-RÔ - Giờ bất tiện? Ông thấy rõ là bây giờ gần buổi sáng cũng ngang với gần buổi chiều. Vả chăng, tôi thuộc đám tuỳ tùng của ông lớn bá tước An-ma-vi-va tướng công.
BÁC-TÔ-LÔ An-ma-vi-va!
THẨM PHÁN – Vậy ra không phải kẻ trộm?
BÁC-TÔ-LÔ Hãy mặc kệ chuyện đó. Bất cứ nơi nào khác, thưa ngài bá tước, tôi đều là kẻ hầu ông lớn, nhưng ngài thấy rằng ưu thế của tước vị ở đây không có uy lực gì. Xin ngài làm ơn có lòng tốt rút lui đi cho.

BÁ TƯỚC – Phải, đúng lẽ là tước vị ở đây không có uy lực gì, nhưng cuộc sống một cái có rất nhiều uy lực, đó là sự ưu đãi mà cô nương đây vừa mới ban cho tôi hơn ngài, bằng cách tự nguyện trao thân gửi phận cho tôi.
BÁC-TÔ-LÔ - Ông ta nói gì, Rô-din?
RÔ-DIN - Ông ấy nói thực. Vì có gì mà ông ngạc nhiên? Há chẳng phải là, ngay đêm nay, tôi phải được báo thù một kẻ lừa dối? Tôi đã được báo thù.
BA-DIN Tôi đã bảo ngài rằng chính là bá tước đấy mà, ngài bác sĩ ơi!
BÁC-TÔ-LÔ – Tôi cần quái gì? Hôn nhân tức cười! Những người chứng đâu?
CHƯỞNG KHẾ – Không thiếu cái gì cả. Tôi đã được hai ngài này làm chứng tá.
BÁC-TÔ-LÔ – Thế nào, Ba-din!... ông đã kí à?
BA-DIN Ngài bảo làm thế nào? Con người quỷ quái đó lúc nào túi cũng đầy những lí lẽ không cưỡng được.
BÁC-TÔ-LÔ – Tôi cóc cần những lí lẽ của ông ta. Tôi sẽ sử dụng uy quyền của tôi.
BÁ TƯỚC - Ông đã mất uy quyền đó vì đã lạm dụng.
BÁC-TÔ-LÔ - Cô gái còn vị thành niên.
PHI-GA-RÔ - Cô vừa mới tự thoát li rồi.
BÁC-TÔ-LÔ Ai nói với anh, đồ trùm bịp bợm?
BÁ TƯỚC – Cô nương đây dòng dõi quý tộc và nhan sắc xinh đẹp, tôi là người quý hiển, trẻ tuổi và giàu có, cô nương là vợ tôi; với danh nghĩa đó, nó làm cả khi chúng tôi vinh hạnh ngang nhau, người ta định tranh giành với tôi chăng?
BÁC-TÔ-LÔ – Không đời nào người ta cướp được cô ấy khỏi tay tôi.
BÁ TƯỚC - Cô ấy không còn ở dưới quyền lực của ông nữa. Tôi đặt cô dưới quyền của pháp luật; và ngài đây, mà chính ông đã đưa đến, sẽ che chở cô khỏi sự cường bạo mà ông định dùng để đối xử với cô. Những vị thẩm phán chân chính, là những cột trụ nâng đỡ tất cả những kẻ bị áp bức.
THẨM PHÁN – Hẳn thế rồi. Và sự kháng cự vô ích để chống với một cuộc hôn nhân vẻ vang bậc nhất, đủ chứng tỏ lòng lo sợ của ông ta về việc quản lí không tốt những tài sản của cô con đỡ đầu, mà ông ta sẽ phải thanh toán.
BÁ TƯỚC - ! Ông ta chỉ việc đồng ý mọi việc, là tôi sẽ không đòi hỏi ông ta gì cả.
PHI-GA-RÔ - Ngoài cái biên lai nhận một trăm ê-quy của tôi; ta không nên loạn trí.

BÁC-TÔ-LÔ (Cáu) – Tất cả đều chống lại ta... ta đã rúc đầu vào một cái tổ ong!
BA-DIN – Tổ ong nào? Không chiếm được người đàn bà, nhưng bác sĩ ơi, xin hãy tính rằng tiền của hãy còn, phải rồi, hãy còn mà.
BÁC-TÔ-LÔ – ! Để tôi yên nào, Ba-din! Ông chỉ nghĩ đến tiền. Tôi, tôi cần quái gì tiền! Ừ thì, tôi vẫn giữ được tiền: nhưng ông tưởng đó là động cơ quyết định tôi chăng? (Lão kí).
PHI-GA-RÔ (Cười) - A! Ha! Ha! Ông lớn ơi, họ cùng một dòng cả.
CHƯỞNG KHẾ - Nhưng mà, các ngài ơi, tôi chả còn hiểu gì cả. Không phải là hai chị em cùng một tên họ hay sao!
PHI-GA-RÓ - Thưa ngài, không, họ chỉ là một người.
BÁC-TÔ-LÔ (Đau khổ) - Thế mà tôi đã cất thang của họ đi, để cho việc cưới xin được chắc chắn hơn! Chà! Tôi bị nguy hại vì thiếu cẩn mật.
PHI-GA-RÔ - Vì thiếu lương tri. Ta nên chân thực đi bác sĩ ạ: khi tuổi trẻ và tình yêu đồng tình để lừa gạt một ông già, thì tất cả những việc ông ta làm để ngăn ngừa, đều có thể gọi tên rất chí lí là Cẩn thận hão.

(Kiệt tác sân khấu thế giới, Bô-mác-se, Thợ cạo thành Xê-vin, Trọng Đức dịch, NXB Sân khấu, Hà Nội, 2006, tr. 157-163)

Kết nối tri thức với cuộc sống

Xem bản PDF nguyên trang sách: Ngữ văn 12 tập 1 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 60–157).