Yêu cầu cần đạt

  • Hệ thống hoá được kiến thức về loại, thể loại văn bản đọc; tiếng Việt; kiểu bài viết; kiểu bài nói và nghe đã học trong học kì I.
  • Vận dụng được các kiến thức đã học và kĩ năng được rèn luyện để giải quyết một số bài tập mang tính chất tổng hợp.

A. ôn tập kiến thức

1

Xem lại văn bản đọc chính trong 5 bài học ở học kì I, lập bảng vào vở theo mẫu sau và ghi các thông tin cơ bản:

Văn bản | Tác giả | Loại, thể loại | Nội dung | Đặc điểm hình thức
| | | |
| | | |
| | | |
| | | |

2

Nêu sự khác biệt giữa thể loại truyện truyền kì và truyện thơ Nôm trên một số tiêu chí: chữ viết được sử dụng, các loại nhân vật được miêu tả, đặc điểm ngôn ngữ.

3

Không khí lịch sử, bối cảnh xã hội xuất hiện trong một số truyện truyền kì hoặc truyện thơ Nôm có giúp ích gì cho việc đọc hiểu tác phẩm không? Vì sao?

4

Trong học kì I, em đã được học những kiến thức tiếng Việt mới nào? Nêu những khái niệm cần nắm vững để giải quyết bài tập ở các bài học.

5

Qua việc thực hiện các bài viết trong học kì I, em hãy nêu những điểm khác nhau trong việc sử dụng lí lẽ và bằng chứng ở kiểu bài nghị luận xã hội và kiểu bài nghị luận văn học.

6

Nêu những nét giống nhau và khác nhau giữa kiểu bài trình bày ý kiến về một vấn đề và kiểu bài thảo luận về một vấn đề (lấy ví dụ từ các bài nói và nghe đã thực hiện ở học kì I để minh hoạ).

B. luyện tập tổng hợp

Với các phiếu học tập sau đây, em sẽ có điều kiện vận dụng các kiến thức đã ôn tập ở trên để luyện tập tổng hợp các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe.

Hệ thống hoá được kiến thức về loại, thể loại văn bản đọc; tiếng Việt; kiểu bài viết; kiểu bài nói và nghe đã học trong học kì 1.

Ôn tập kiến thức

1.

Xem lại văn bản đọc chính trong 5 bài học ở học kì I, lập bảng vào vở theo mẫu sau và ghi các thông tin cơ bản:
Văn bản | Tác giả | Loại, thể loại | Nội dung | Đặc điểm hình thức

Hình/bảng: Table with headers: Văn bản, Tác giả, Loại, thể loại, Nội dung, Đặc điểm hình thức

2.

Nêu sự khác biệt giữa thể loại truyện truyền kì và truyện thơ Nôm trên một số tiêu chí: chữ viết được sử dụng, các loại nhân vật được miêu tả, đặc điểm ngôn ngữ.

3.

Không khí lịch sử, bối cảnh xã hội xuất hiện trong một số truyện truyền kì hoặc truyện thơ Nôm có giúp ích gì cho việc đọc hiểu tác phẩm không? Vì sao?

4.

Trong học kì I, em đã được học những kiến thức tiếng Việt mới nào? Nêu những khái niệm cần nắm vững để giải quyết bài tập ở các bài học.

5.

Qua việc thực hiện các bài viết trong học kì I, em hãy nêu những điểm khác nhau trong việc sử dụng lí lẽ và bằng chứng ở kiểu bài nghị luận xã hội và kiểu bài nghị luận văn học.

6.

Nêu những nét giống nhau và khác nhau giữa kiểu bài trình bày ý kiến về một vấn đề và kiểu bài thảo luận về một vấn đề (lấy ví dụ từ các bài nói và nghe đã thực hiện ở học kì I để minh hoạ).

Luyện tập tổng hợp

Phiếu học tập số 1

Đọc

Đọc văn bản

Khóc Dương Khuê
Trích, NGUYỄN KHUYẾN

[...] Bác già, tôi cũng già rồi,
Biết thôi, thôi thế thì thôi mới là!
Muốn đi lại tuổi già thêm nhác,
Trước ba năm gặp bác một lần;
Cầm tay hỏi hết xa gần,
Mừng rằng bác vẫn tinh thần chưa can(2).
Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác,
Tôi lại đau trước bác mấy ngày,
Làm sao bác vội về ngay,
Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời.
Ai chẳng biết chán đời là phải,
Vội vàng sao đã mải lên tiên;
Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua.
Câu thơ nghĩ đắn đo không viết,
Viết đưa ai, ai biết mà đưa:
Giường kia treo cũng hững hờ(3),
Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn(4).
Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở,
Tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương;
Tuổi già hạt lệ như sương,
Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan!

(Thơ văn Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 146-147)

(1)

Dương Khuê (1839-1902) là nhà thơ, bạn của Nguyễn Khuyến, từng làm quan dưới triều Nguyễn.

(2)

Chưa can: chưa có chuyện gì đáng lo.

(3)

Giường kia treo cũng hững hờ dùng điển tích Trần Phồn thời Hậu Hán (Trung Quốc) sắm chiếc giường dành riêng cho người bạn thân là Tư Trĩ, mỗi lần bạn đến chơi thì đem giường xuống cho bạn nằm, khi bạn về thì treo giường lên.

(4)

Đàn kia gầy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn: lấy điển tích tinh bạn tri âm giữa Bà Nha và Chung Tử Kỳ (Bá Nha là người giỏi chơi đàn, Chung Tử Kỳ là người thấu hiểu tâm tư mà Bả Nha gửi vào tiếng đàn; khi Chung Tử Kỳ mất, Bá Nha đập đàn không chơi nữa vì cho rằng trên đời không còn ai hiểu được nỗi niềm của mình qua tiếng đàn).

Thực hiện các yêu cầu

Chọn phương án đúng (làm vào vở)

Câu 1.

Những dấu hiệu nào cho thấy đoạn trích mang đặc điểm của thể thơ song thất lục bát?
A. Ngôn ngữ được tác giả sử dụng trong đoạn trích
B. Số tiếng trong các câu thơ và cách hiệp vẫn giữa các câu thơ liền nhau
C. Các biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong đoạn trích
D. Những cung bậc cảm xúc được nhà thơ thể hiện trong đoạn trích

Câu 2.

Cách hiệp vẫn nào được sử dụng trong đoạn trích trên?
A. Tất cả các câu liền nhau đều hiệp vẫn với nhau
B. Chỉ có một số câu liền nhau hiệp vẫn với nhau
C. Chỉ có các cặp lục bát hiệp vẫn với nhau
D. Chỉ có các cặp câu bảy tiếng hiệp vẫn với nhau

Câu 3.

Trạng thái cảm xúc gì của nhà thơ được thể hiện trong hai câu thơ: Làm sao bác vội về ngay, Chợt nghe tôi bỗng chân tay rụng rời
A. Bình tĩnh, thản nhiên
B. Thảng thốt, hụt hẫng
C. Tuyệt vọng, sợ hãi
D. Cô đơn, thương mình

Câu 4.

Trong hai câu tho: Ai chẳng biết chán đời là phải/ Vội vàng sao đã mải lên tiên, biện pháp tu từ nào đã được sử dụng?
A. So sánh
B. Nói quá
C. Nhân hoá
D. Nói giảm nói tránh

Câu 5.

Nhận định nào nêu đúng nội dung chính của đoạn trích?
A. Đoạn trích nói về những kỉ niệm thời trẻ của tác giả với bạn.
B. Đoạn trích thể hiện sự bi quan của tác giả trước một sự việc đau thương.
C. Đoạn trích là tiếng lòng bi thiết của tác giả khi nghe tin bạn quý vừa mất.
D. Đoạn trích cho thấy nhận thức của tác giả về quy luật tất yếu của đời người.

Trả lời câu hỏi

Câu 1.

Tâm trạng của tác giả được thể hiện như thế nào trong đoạn trích?

Câu 2.

Những biểu hiện nào cho thấy tình cảm sâu nặng giữa tác giả và người bạn của mình?

Câu 3.

Chỉ ra các từ láy được sử dụng trong đoạn trích và phân tích hiệu quả nghệ thuật ở từng trường hợp.

Câu 4.

Em cần làm gì để biết ý nghĩa của các điển tích được tác giả sử dụng trong đoạn trích? Phân tích tác dụng của các điển tích đó.

Câu 5.

Ở những câu thơ sau, biện pháp tu từ điệp ngữ có tác dụng như thế nào trong việc diễn tả các cung bậc cảm xúc của nhà thơ?
Rượu ngon không có bạn hiến,
Không mua không phải không tiền không mua.
Câu thơ nghĩ đắn đo không viết,
Viết đưa ai, ai biết mà đưa:
Giường kia treo cũng hững hờ,
Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn.

Viết

Viết bài văn phân tích trích đoạn bài thơ Khóc Dương Khuê ở phần Đọc.

Nói và nghe

Thảo luận về vai trò của tình bạn trong cuộc sống.

Phiếu học tập số 2

Đọc văn bản

Một nét nổi bật
trong sáng tác của Nam Cao
Trích, NGUYỄN VĂN HẠNH

Đọc những tác phẩm của Nam Cao(3) viết cách đây đã trên dưới nửa thế kỉ(4), nhất là những truyện như Chí Phèo, Lão Hạc, Sống mòn, thấy Nam Cao không chỉ mới mẻ trong thời đại của mình, mà vẫn rất gần gũi với chúng ta hôm nay. Nam Cao và Vũ Trọng Phụng(5), mỗi người một vẻ, chắc chắn là hai nhà văn xuất sắc nhất trong nền văn học hiện đại của ta ở nửa đầu thế kỉ XX.
Nam Cao có sở trường trong xây dựng nhân vật, thể hiện ở nghệ thuật miêu tả ngoại hình, khắc hoạ tính cách, phân tích nội tâm. Một số nhà nghiên cứu nhấn mạnh hai loại nhân vật chủ yếu trong tác phẩm của Nam Cao: nông dân và trí thức tiểu tư sản. Trên thực tế, Nam Cao miêu tả nhiều loại người, nhưng ông tập trung sự chú ý vào tầng lớp lao động nghèo, những người có số phận hẩm hiu, không tìm được chỗ đứng của mình trong xã hội, bị vứt ra bên lề cuộc sống. Họ thuộc thế giới những người cùng khổ, ở “dưới đáy” của

(1)

Tên văn bản do người biên soạn đặt.

(2)

Nguyễn Văn Hạnh sinh năm 1931, quê ở tỉnh Quảng Nam, là nhà giáo, nhà nghiên cứu văn học. Các tác phẩm chính: Cơ sở lí luận văn học (viết chung, 1971), Chuyện văn chuyện đời (2004)....

(3)

Nam Cao (1917–1951) là nhà văn xuất sắc trong nền văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945; sau 1945, ông tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp, hoạt động trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, hỉ sinh trong một chuyến công tác.

(4)

Tính đến thời điểm bài viết này được công bố (năm 1992).

(5)

Vũ Trọng Phụng (1912–1939) là nhà văn hiện thực trào phúng nổi tiếng, cùng thời với Nam Cao.

xã hội, những con người bị tha hoá, bị què quặt, cả về thể xác và tinh thần vì bị áp bức, hành hạ, vì tăm tối mặt mũi lo chạy ăn từng bữa, vì sự bế tắc mục ruỗng của xã hội, vì sự hèn nhát, sợ hãi của chính mỗi người. Nam Cao thật ra không miêu tả các thành phần xã hội, mà đi sâu vào các số phận, các kiếp người như chính nhà văn thường nói.
Nhiều nhân vật của Nam Cao là những con người hiền lành, chất phác, nhưng đời sống quá vất vả, cơ cực. Đó là những người già cả không nơi nương tựa, những em bé mồ côi không ai chăm sóc, những người đàn bà không biết đến hạnh phúc lứa đôi, gia đình, vì nghèo, vì tàn tật, xấu xí, vì tệ nạn xã hội (Nghèo, Dì Hảo, Lão Hạc, Một bữa no, Từ ngày mẹ chết, Ở hiền,...). Một loại nhân vật khác là những tay trộm cướp, lưu manh, du thủ du thực. Dưới con mắt của Nam Cao, những con người phá phách này cùng với những người điên, những người câm, những người kì quặc đủ loại càng tô đậm thêm bộ mặt cùng quẫn, mất nhân tính của xã hội. Bên cạnh đó, ta còn gặp những con người trên ở chỗ có trình độ học vấn, có ý thức hơn về thân phận, có nhiều băn khoăn về ý nghĩa của cuộc sống, về giá trị làm người (Trăng sáng, Đời thừa, Truyện người hàng xóm, Sống mòn,...). Chính qua những nhân vật như Điền, Hộ, Lộc, Thứ,... nhà văn đã trực tiếp gửi gắm những suy nghĩ của mình về cuộc sống, về nghệ thuật.
Thông thường, ở một tài năng tiểu thuyết thì sức mạnh tư duy tập trung ở hình tượng nhân vật. Đọc Nam Cao, người ta có ấn tượng rõ rệt về các nhân vật có tính cách nổi bật, đồng thời lại cảm nhận sâu sắc cách nhìn của tác giả đối với cuộc sống, tấm lòng của tác giả đối với con người. Ở Nam Cao, có sự kết hợp giữa năng lực quan sát, miêu tả, nắm bắt rất tài tình những chi tiết của cuộc sống, xây dựng những hình tượng, những bức tranh xã hội sinh động với một giọng trữ tình kín đáo, thiết tha, vừa xót thương cho những người bất hạnh, vừa chua chát trước những điều nhố nhăng, vô nghĩa, luôn luôn khát khao sự thay đổi hướng về cái nhân bản, tốt đẹp.
Tác phẩm của Nam Cao không nhiều, phần lớn lại là truyện ngắn. Nhưng có thể nói Nam Cao là một trong số ít nhà văn của chúng ta đã để lại cho văn học nhiều nhân vật không thể nào quên được, buộc người đọc phải nghĩ về họ, thông qua họ mà nghĩ về cuộc sống. Chí Phèo, Thị Nở, lão Hạc, Thứ, Hoàng là những nhân vật như thế. Nếu các nhân vật mang vào tác phẩm của nhà văn chất đời thường, sự sinh động, thì giọng trữ tình lại mang đến sự ấm áp rất tiêu biểu cho chiều sâu tâm hồn và bản sắc tài năng của Nam Cao. Ông trân trọng mọi biểu hiện của sự sống, trăn trở, đau buồn nhưng không bao giờ mất hi vọng. Đọc Nam Cao, con người muốn sống chu đáo hơn, nhân ái hơn. [...]
(Theo Nguyễn Văn Hạnh, Nam Cao và khát vọng về một cuộc sống lương thiện, xứng đáng, in trong Nam Cao - Về tác gia và tác phẩm, Bích Thu biên soạn và tuyển chọn, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr. 179-180)

Thực hiện các yêu cầu

Chọn phương án đúng (làm vào vở)

Câu 1.

Người viết đánh giá cao sở trường nào của Nam Cao trong sáng tạo văn học?
A. Xây dựng cốt truyện hấp dẫn
B. Kể chuyện sinh động, lôi cuốn
C. Khắc hoạ tính cách nhân vật sắc nét
D. Tả cảnh thiên nhiên tinh tế, gợi cảm

Câu 2.

"Nhiều nhân vật của Nam Cao là những con người hiền lành, chất phác, nhưng đời sống quá vất vả, cơ cực.” – sau câu văn này, tác giả triển khai đoạn văn theo hướng nào?
A. Phản bác ý của câu vừa nêu, sau đó đưa ra ý được cho là đúng
B. Chứng minh cho ý của câu vừa nêu, sau đó khái quát lại
C. Nhận xét câu vừa nêu, bổ sung cho ý đầy đủ hơn
D. Giải thích câu vừa nêu, bổ sung cho ý đầy đủ hơn

Câu 3.

Tên một số tác phẩm của Nam Cao được nhắc đến ở bài viết nhằm mục đích gì?
A. Minh hoạ cho ý kiến được tác giả nêu trước đó
B. Cho thấy sự phong phú trong sáng tác của Nam Cao
C. Cho thấy tác giả am hiểu về các sáng tác của Nam Cao
D. Nêu bật những đóng góp của Nam Cao đối với nền văn học

Câu 4.

Dòng nào sau đây nêu đúng những nét chung giữa các nhân vật trong truyện của Nam Cao?
A. Đó là những người cùng chung nghề nghiệp
B. Đó là những người cùng thành phần xã hội
C. Đó là những người cùng hoàn cảnh sống
D. Đó là những kiếp người đau khổ, bất hạnh

Câu 5.

Theo nội dung đoạn trích, điều gì không có tác dụng tạo nên sức hấp dẫn của truyện Nam Cao?
A. Ngoại hình khác thường, thậm chí dị dạng của một số nhân vật
B. Sự đồ sộ về số lượng tác phẩm và sự kết tinh cao độ các giá trị nghệ thuật
C. Cách nhìn của tác giả về cuộc sống, tấm lòng của tác giả đối với con người
D. Giọng trữ tình ấm áp, thể hiện niềm trân trọng mọi biểu hiện của sự sống

Trả lời câu hỏi

Câu 1.

Có thể xem văn bản Một nét nổi bật trong sáng tác của Nam Cao thuộc loại văn bản nghị luận văn học được không? Vì sao?

Câu 2.

Chỉ ra và phân tích một số lí lẽ và bằng chứng được tác giả sử dụng trong văn bản.

Câu 3.

Tác giả đã lí giải như thế nào về sự thành công của Nam Cao trong sáng tác văn học?

Câu 4.

Những nội dung nào đã triển khai trong bài viết cho phép tác giả đi đến kết luận: "Đọc Nam Cao, con người muốn sống chu đáo hơn, nhân ái hơn”?

Câu 5.

Văn bản trên giúp em hiểu được những gì về nhà văn Nam Cao?

Việt

Viết bài văn nghị luận phân tích một truyện ngắn được sáng tác trong những năm gần đây.

Chọn một vấn đề đáng quan tâm trong đời sống của lứa tuổi học sinh, lập dàn ý cho bài nói và tập trình bày.

1. Đọc

Khóc Dương Khuê

Trích, NGUYỄN KHUYẾN

[...] Bác già, tôi cũng già rồi,
Biết thôi, thôi thế thì thôi mới là!
Muốn đi lại tuổi già thêm nhác,
Trước ba năm gặp bác một lần;
Cầm tay hỏi hết xa gần,
Mừng rằng bác vẫn tinh thần chưa can(2).
Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác,
Tôi lại đau trước bác mấy ngày,
Làm sao bác vội về ngay,
Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời.
Ai chẳng biết chán đời là phải,
Vội vàng sao đã mải lên tiên;
Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua không phải không tiền không mua.
Câu thơ nghĩ đắn đo không viết,
Viết đưa ai, ai biết mà đưa:
Giường kia treo cũng hững hờ(3),
Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn(4).
Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở,
Tôi tuy thương, lấy nhớ làm thương;
Tuổi già hạt lệ như sương,
Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan!
(Thơ văn Nguyễn Khuyến, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 146-147)

(1) Dương Khuê (1839-1902) là nhà thơ, bạn của Nguyễn Khuyến, từng làm quan dưới triều Nguyễn.

(2) Chưa can: chưa có chuyện gì đáng lo.

(3) Giường kia treo cũng hững hờ dùng điển tích Trần Phồn thời Hậu Hán (Trung Quốc) sắm chiếc giường dành riêng cho người bạn thân là Tư Trĩ, mỗi lần bạn đến chơi thì đem giường xuống cho bạn nằm, khi bạn về thì treo giường lên.

(4) Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn: lấy điển tích tình bạn tri âm giữa Bá Nha và Chung Tử Kỳ (Bá Nha là người giỏi chơi đàn, Chung Tử Kỳ là người thấu hiểu tâm tư mà Bá Nha gửi vào tiếng đàn; khi Chung Tử Kỳ mất, Bá Nha đập đàn không chơi nữa vì cho rằng trên đời không còn ai hiểu được nỗi niềm của mình qua tiếng đàn).

Xem bản PDF nguyên trang sách: Ngữ văn 9 tập 1 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 143–148).