Yêu cầu cần đạt
- Nhận biết và phân tích được một số yếu tố về thi luật của thơ song thất lục bát như: vần, nhịp, số chữ, số dòng trong một khổ thơ; sự khác biệt so với thơ lục bát.
- Nhận biết và phân tích được tình cảm, cảm xúc, cảm hứng chủ đạo của người viết thể hiện qua văn bản.
- Nhận biết và phân tích được mối quan hệ giữa nội dung và hình thức của văn bản văn học.
- Nhận biết và phân tích được tác dụng của các biện pháp tu từ: chơi chữ, điệp thanh và điệp vẫn.
- Viết được văn bản nghị luận phân tích một tác phẩm văn học: phân tích nội dung chủ đề, những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm và hiệu quả thẩm mĩ của nó.
- Biết thảo luận về một vấn đề đáng quan tâm trong đời sống phù hợp với lứa tuổi.
- Yêu thương, đồng cảm với con người và trân trọng vẻ đẹp của cuộc sống.
Thuật ngữ: Thơ song thất lục bát · Chơi chữ · Điệp thanh · Điệp vần
Nỗi riêng lớp lớp sóng dồi.
Nguyễn Du
Giới thiệu bài học
Con người luôn mang trong mình những nỗi niềm, khát vọng riêng tư. Đó có thể là niềm mong nhớ một người thân yêu ở nơi xa; niềm khao khát hạnh phúc, chờ đợi một điều tốt đẹp sẽ đến; nỗi sầu muộn, xót thương cho số phận mình khi cô quạnh; nỗi trăn trở, đau đáu trước bao thăng trầm của cuộc sống;... Những cung bậc tâm trạng ấy có thể được gửi gắm vào thơ, để lại cho người đọc nhiều xúc cảm và suy ngẫm về ý nghĩa của cuộc sống.
- Các văn bản đọc chính trong bài học này bao chứa nhiều cung bậc xúc cảm khác nhau của con người, được sáng tác bằng thể thơ song thất lục bát, với sự kết hợp những câu thơ có số chữ khác nhau (7 chữ, 6 chữ và 8 chữ), tạo nên những âm hưởng vừa da diết, sâu lắng; vừa thân thương, gần gũi với tâm hồn người Việt Nam. Văn bản kết nối về chủ đề cung cấp thêm kiến thức về thể thơ song thất lục bát, giúp em hiểu rõ hơn về thể thơ này trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam, từ đó thêm trân trọng những sáng tạo của cha ông ta thuở trước.
Tri thức ngữ văn
- Song thất lục bát là thể thơ có nguồn gốc dân tộc, kết hợp đan xen từng cặp câu 7 tiếng (song thất) với từng cặp câu 6 và 8 tiếng (lục bát). Bài thơ song thất lục bát có thể được chia khổ hoặc không, số câu thơ trong mỗi khổ thơ cũng không cố định. Tương tự thể lục bát, song thất lục bát cũng có hiện tượng biến thể: có khi bài thơ mở đầu bằng cặp lục bát chứ không phải cặp song thất; có khi một số cặp lục bát liền nhau sau đó mới có cặp song thất; có khi số chữ của các câu thơ không theo quy định.
- Về vần, thơ song thất lục bát sử dụng cả vần lưng (yêu vần) và vần chân (cước vần). Vần lưng được gieo ở tiếng thứ tư (hoặc thứ sáu) của câu thơ 8 tiếng (hiệp vần với tiếng cuối của câu thơ 6 tiếng ngay trước nó) và tiếng thứ ba (hoặc thứ năm) của câu thơ 7 tiếng (hiệp vần với tiếng cuối của câu thơ 7 tiếng liền trước nó). Vần chân được gieo ở tiếng cuối của tất cả các câu thơ.
- Về thanh điệu, thanh bằng (B) - trắc (T) của các tiếng ở một số vị trí trong câu thơ là cố định, cụ thể như sau:
Vị trí tiếng | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8
Câu thất 1 | | | | | B | | T |
Câu thất 2 | | | B | | T | | B |
Câu lục | | B | | T | | B | |
Câu bát | | B | | T | | B | B
Câu thơ 7 tiếng thường có cách ngắt nhịp lẻ trước chắn sau (3/2/2 hay 3/4). Hai câu 6 và 8 ngắt nhịp theo thể lục bát. Một số câu thơ có thể đọc theo những cách ngắt nhịp khác nhau, mỗi cách ngắt nhịp tạo ra một nghĩa, giúp người đọc có được sự đa dạng trong cảm thụ.
Biện pháp tu từ: chơi chữ, điệp thanh, điệp vần
Chơi chữ là biện pháp tu từ vận dụng các đặc điểm ngữ âm, ngữ nghĩa của từ ngữ một cách khéo léo nhằm đem lại những liên tưởng bất ngờ, thú vị cho người đọc (người nghe).
- Điệp thanh là biện pháp tu từ ngữ âm, tạo nên bằng cách lặp lại thanh điệu cùng loại (thanh bằng hoặc thanh trắc) để làm tăng tính nhạc, nâng cao hiệu quả diễn đạt cho câu thơ.
- Điệp vần là biện pháp tu từ ngữ âm, sử dụng những âm tiết có vần giống nhau nhằm tạo ra sự trùng điệp về âm hưởng, tăng tính nhạc để biểu đạt cảm xúc của người viết (người nói), đồng thời gây ấn tượng thẩm mĩ cho người đọc (người nghe).
Văn bản đọc
Buổi tiễn đưa (trích Chinh phụ ngâm), nguyên tác của Đặng Trần Côn, bản dịch của Đoàn Thị Điểm (?)
Tiếng đàn mưa, Bích Khê
Một thể thơ độc đáo của người Việt, Dương Lâm An
Văn bản 1
Trước khi đọc
1.
Đầu thế kỉ XVIII, nhiều cuộc chiến đã xảy ra trên đất nước ta. Hãy nêu một cuộc chiến mà em biết.
2.
Theo em, những cuộc tiễn đưa trong chiến tranh có gì khác biệt so với tiễn đưa trong hoàn cảnh bình thường của cuộc sống?
Đọc văn bản
Buổi tiễn đưa
Trích Chinh phụ ngâm(2), nguyên tác của ĐẶNG TRẦN CÔN,
bản dịch của ĐOÀN THỊ ĐIỂM (?)
Đường giong ruổi(3) lưng đeo cung tiễn(4),
Buổi tiễn đưa lòng bận(5) thê noa(6).
Bóng cờ tiếng trống xa xa,
Sầu lên ngọn ải(7) oán ra cửa phòng.
Những chi tiết miêu tả người chinh phu lúc chuẩn bị lên đường.
Nhan đề do người biên soạn đặt, dựa theo nội dung đoạn trích và mấy từ đầu tiên trong câu thơ "Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa".
Chinh phụ: người phụ nữ có chồng ra trận. Ngâm: còn gọi là ngâm khúc, một thể loại thường dùng thể thơ song thất lục bát, viết về những nỗi niềm tâm sự, những xúc cảm sầu muộn, ai oán, xót thương. Chinh phụ ngâm (Khúc ngâm của người phụ nữ có chồng ra trận) còn có nhan đề khác là Chinh phụ ngâm khúc, do Đặng Trần Côn sáng tác trong khoảng năm 1740-1742 bằng chữ Hàn, giãi bày tâm sự của một người vợ có chồng ra trận, mong mỏi ngày chồng chiến thắng trở về, được nhà vua ban thưởng và cùng nàng sống hạnh phúc. Tác phẩm đã được nhiều dịch giả dịch ra thơ Nôm, trong đó bản dịch thành công nhất được cho là của Đoàn Thị Điểm. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng bản dịch này của Phan Huy Ích (1750-1822).
Giong ruổi (như rong ruổi): đi liên tục trên chặng đường dài nhằm một mục đích nhất định.
Cung tiễn: cung và tên.
Bận: vướng víu, bịn rịn khó dứt ra.
Thê noa: vợ con.
Ải: chỗ qua lại hiểm trở nơi biên giới, ở đây chỉ nơi người chồng tới để làm nhiệm vụ của một chiến binh.
Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt(1),
Xếp bút nghiên theo việc đao cung.
Thành liền(2) mong tiến bệ rồng(3),
Thước gươm đã quyết chẳng dung giặc trời(4).
Chỉ làm trai dặm nghìn da ngựa(5),
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao(6).
Giã nhà(7) đeo bức chiến bào(8),
Thét roi cầu Vị(9) ào ào gió thu.
Khát vọng của người chinh phu.
Ngòi(10) đầu cầu nước trong như lọc,
Đường bên cầu cỏ mọc còn non.
Đưa chàng lòng dằng dặc buồn,
Bộ khôn(11) bằng ngựa thuỷ khôn bằng thuyền.
Tâm trạng của người chinh phụ.
Nước có chảy mà phiền chẳng rửa,
Cỏ có thơm mà dạ chẳng khuây.
Như(12) rồi nhủ lại cầm tay,
Bước đi một bước dây(13) lại dừng.
Hào kiệt: dòng dõi tài giỏi, hiển hách.
Thành liền: nhiều thành liên tiếp nhau, ý nói lập được công lớn, hạ nhiều thành trì của đối phương.
Bệ rồng: nơi vua ngồi, ý chỉ nhà vua.
Giặc trời: giặc mạnh, ngang ngạnh không sợ uy vua.
Dặm nghìn da ngựa: lấy da ngựa bọc thây khi chết nơi chiến trường ngàn dặm; sách Hậu Hán thư chép lời của Mã Viện: "Đấng nam nhi nên chết ở chiến trường, lấy da ngựa bọc thây", ý nói là nam giới phải tung hoành ngang dọc, không ngại hiểm nguy, sẵn sàng đương đầu với cả cái chết.
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao: coi việc ném bỏ núi Thái Sơn (tên một ngọn núi thuộc tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc) chỉ nhẹ như lông chim hồng; câu thơ lấy ý từ câu trong bức thư Tư Mã Thiên (sử gia nổi tiếng Trung Quốc đầu thời Hán) viết cho một người bạn: "Ai cũng có một lần chết, có cái chết nặng hơn núi Thái Sơn, có cái chết nhẹ hơn lông chim hồng.", ý nói sinh mệnh rất đáng trân quý, còn nặng hơn núi Thái Sơn, nhưng khi đã tìm được điều có ý nghĩa đủ để sẵn sàng dùng tính mạng đánh đổi thì cái chết ấy nhẹ hơn cả lông chim hồng.
Giã nhà: từ biệt gia đình, rời xa gia đình.
Chiến bào: loại áo dài mặc khi ra trận của chiến binh thời xưa.
Thét roi cầu Vị: tiếng roi vun vút (thúc ngựa) ra lối cầu sông Vị; Đường Thái Tông (598 - 649) từng xuất quân qua cầu sông Vị để đánh quân Đột Quyết; Lý Bạch (701 - 762) có câu thơ “Tuấn mã nhược phong phiêu, minh tiên xuất Vị kiểu” (Ngựa giỏi đi nhanh như gió cuốn, thét roi ra lối cầu sông Vị) để tả vẻ kiêu hùng của người ra trận.
Ngòi: lạch nước nhỏ.
Khôn: khó, không thể.
Nhủ: dặn dò, khuyên nhủ.
Dây dây: vương vấn, quyến luyến.
Lòng thiếp tựa(1) bóng trăng theo dõi,
Dạ chàng xa tìm cõi Thiên San(2).
Múa gươm rượu tiễn chưa tàn,
Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo(3).
Săn Lâu Lan rằng theo Giới Tử(4),
Tới Man Khê bàn sự Phục Ba(5).
Áo chàng đỏ tựa ráng pha,
Ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in.
Các chi tiết gợi liên tưởng đến việc bình đao.
Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống,
Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay.
Hà lương(6) chia rẽ đường này,
Bên đường trông bóng cờ bay ngùi ngùi.
Cảnh li biệt của người chinh phu, người chinh phụ.
Quân trước đã gần ngoài doanh Liễu(7),
Kị(8) sau còn khuất nẻo Tràng Dương(9).
Quân đưa chàng ruổi(10) lên đường,
Liễu dương(11) biết thiếp đoạn trường(12) này chăng?
Tựa: giống, giống như.
Thiên San: dãy núi Hằng Ái ở miền trung Mông Cổ ngày nay; câu thơ ý nói tâm trí người chồng mong tìm cơ hội lập công danh hiển hách. (Tân Đường thư ghi lại câu chuyện: Năm 662, Tiết Nhân Quý được phải đi đánh quân Hồi Hột. Quân Hồi Hột rất đông, Tiết Nhân Quý bắn ba mũi tên liền hạ được ba tên địch khiến chúng hoảng sợ mà vỡ trận. Từ đó Tiết Nhân Quý nổi tiếng với giai thoại "Tam tiễn định Thiên San" - bắn ba mũi tên bình định dãy Thiên San.)
Hang beo: hang của beo (một loài thú dữ), ý chỉ hang ổ của giặc, nơi giặc đóng quân.
Sách Hán thư ghi lại sự kiện năm 77 trước Công nguyên, sử thần Trung Quốc là Phó Giới Tử (?-65 trước Công nguyên) giết chết vua nước Lâu Lan (một nước nhỏ nằm trên con đường tơ lụa ở Tây Vực) là An Quy (vì An Quy giết sứ giả nhà Hán).
Man Khê, còn gọi là Ngũ Khê Man, là tên gọi chung các dân tộc thiểu số ở vùng thượng du sông Nguyên của Trung Quốc; sách Thông giám chép sự kiện năm 49, Mã Phục Ba (Mã Viện) đã hơn 60 tuổi vẫn đem quân đánh Man Khê, mắc bệnh chết trong thời gian chinh chiến.
Hà lương: cầu bắc qua sông, chỉ nơi hai vợ chồng chia tay.
Doanh Liễu: doanh trại Tế Liễu, nay thuộc khu vực tây nam thành phố Hàm Dương, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc; theo Sử kí, năm 158 trước Công nguyên, Hán Văn Đế (202 - 157 trước Công nguyên) cử Chu Á Phu (?-143 trước Công nguyên) đóng quân ở Tế Liễu chặn quân Hung Nô xâm phạm vào biên cương.
Kị: kị binh, đội quân cưỡi ngựa.
Tràng Dương: tên một cung điện gần thành Trường An (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc), nơi vua Hán thường tổ chức các cuộc đi săn.
Ruổi: rong ruổi.
Liễu dương: cây dương liễu, thường biểu trưng cho sự chia li, bởi người xưa có tục bẻ cành dương liễu tặng nhau khi tiễn biệt; nhà thơ Trung Quốc Dương Cự Nguyên (755-832?) trong bài thơ Chiết dương liễu (Bẻ nhành dương liễu) cũng dùng hình ảnh cây dương liễu để khắc hoạ cảnh chia tay.
Đoạn trường: đứt ruột, ý chỉ nỗi xót xa, đau đớn vô cùng. (Theo Sưu thần kí, tương truyền, có người bắt được một con vượn con trên núi mang về. Vượn mẹ đi theo đến tận nhà, kêu la thảm thiết, rơi xuống đất chết. Người ấy bèn nhặt xác vượn mẹ về mổ bụng ra, thì thấy ruột của nó đã đứt thành từng khúc.)
Tiếng địch(1) thổi nghe chừng đồng vọng(2),
Hàng cờ bay trông bóng phất phơ.
Dấu(3) chàng theo lớp mây đưa,
Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà.
Cảm xúc của người chinh phu, người chinh phụ sau lúc chia li.
Chàng thì đi cõi xa mưa gió,
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn.
Đoái trông theo đã cách ngăn,
Tuôn màu mây biếc trải ngần(4) núi xanh.
Chốn Hàm Kinh(5) chàng còn ngoảnh lại,
Bến Tiêu Tương(6) thiếp hãy trông sang.
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương,
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
(Những khúc ngâm chọn lọc, tập I,
Lương Văn Đang – Nguyễn Thạch Giang – Nguyễn Lộc giới thiệu, biên khảo, chú giải,
NXB Giáo dục, 1994, tr. 39-42)
Sau khi đọc
- Đặng Trần Côn sống vào khoảng đầu thế kỉ XVIII, quê ở làng Nhân Mục (còn gọi là làng Mọc), nay thuộc Hà Nội. Ông đỗ Hương cống, làm quan tới chức Ngự sử đài chiếu khám. Tác phẩm của ông thường chú trọng thể hiện những tình cảm riêng tư, những nỗi niềm trắc ẩn của con người. Ngoài Chinh phụ ngâm khúc, một số sáng tác khác của ông hiện còn được lưu lại như Tiêu Tương bát cảnh, ba bài phú Trương Hàn tư thuẩn lô, Trương Lương bố ý, Khấu môn thanh,...
Địch: sáo; ở đây, tiếng sáo thổi ý chỉ thời khắc lên đường ra trận; Lý Bạch trong bài thơ Tông quân hành (Bài hành tòng quân) có viết: "Địch tấu Mai hoa khúc, đao khai minh nguyệt hoàn" (Sáo thổi khúc nhạc Hoa mai rụng, vòng chuôi cây đao trong tay sáng như vành trăng).
Đồng vọng: cùng trông nhau, cùng ngóng về nhau; câu thơ ý nói hai vợ chồng cùng ngóng về nhau trong tiếng sáo thổi.
Dấu: dấu tích, ý nói hình bóng.
Ngần: vết ngắn, vết hằn in.
Hàm Kinh: kinh đô Hàm Dương thời nhà Tần, nay thuộc tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc, nơi từng xảy ra nhiều trận chiến ác liệt.
Tiêu Tương: nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. (Tương truyền, hai chị em Nga Hoàng và Nữ Anh cùng làm vợ vua Thuấn. Vua Thuấn đi giúp dân trừ hoạ lâu không về nên hai người vợ đi tìm. Hai người đi đến đất Tiêu Tương thì biết tin chồng đã mất, nên khóc đến chảy máu mắt. Máu dính lên thân trúc làm xuất hiện các đốm sẫm màu, gọi là trúc Tiêu Tương.)
Ngự sử đài chiếu khám: một chức quan văn nhỏ tại Ngự sử đài, cơ quan có nhiệm vụ giám sát và phản biện, nhằm can gián những việc được xem là không đúng hoặc chưa tốt của vua và quan lại.
Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748) hiệu là Hồng Hà nữ sĩ, quê ở tỉnh Hưng Yên. Nữ sĩ sáng tác văn thơ bằng cả chữ Hán và chữ Nôm, hiện còn lưu lại các tác phẩm như Truyền kì tân phả, Nữ trung tùng phận và một số bài thơ. Bản dịch Chinh phụ ngâm nổi tiếng hiện đang lưu hành được nhiều học giả khẳng định là của nữ sĩ.
- Bản dịch Chinh phụ ngâm gồm 408 câu thơ song thất lục bát(1). Đoạn trích Buổi tiễn đưa gồm 52 câu thơ (từ câu 13 đến câu 64) đã thể hiện những tình cảm đầy lưu luyến của người chinh phu và người chinh phụ lúc chia tay.
Trả lời câu hỏi
1.
Chỉ ra những đặc điểm của thể thơ song thất lục bát thể hiện trong đoạn trích Buổi tiễn đưa. Những đặc điểm này cho thấy thể thơ song thất lục bát có gì khác với thể thơ lục bát?
2.
Đề xuất phương án ngắt nhịp bốn câu thơ sau và cho biết tác dụng của cách ngắt nhịp đó:
Ngòi đầu cầu nước trong như lọc,
Đường bên cầu cỏ mọc còn non.
Đưa chàng lòng dằng dặc buồn,
Bộ khôn bằng ngựa thuỷ khôn bằng thuyền.
3.
Chỉ ra và phân tích tác dụng của phép đối được sử dụng ở một số câu thơ trong đoạn trích.
4.
Theo em, người chinh phu có thực sự muốn lên đường ra trận hay không? Những chi tiết nào cho biết điều đó?
5.
Tiễn chồng ra trận, người chinh phụ mong muốn điều gì? Theo em, vì sao "đưa chàng lòng dằng dặc buồn” nhưng người chinh phụ vẫn để chồng lên đường ra trận?
6.
Nêu và phân tích tác dụng của một số biện pháp tu từ được sử dụng trong bốn câu thơ cuối của đoạn trích.
7.
Cảm xúc của người chinh phu và người chinh phụ trong buổi tiễn đưa giúp em hiểu gì về giá trị của cuộc sống?
8.
Em có ấn tượng nhất với hình ảnh nào trong đoạn trích? Vì sao?
Viết kết nối với đọc
Viết đoạn văn (khoảng 7-9 câu) phân tích tâm trạng của người chinh phu khi chia tay vợ để ra trận.
Có dị bản gồm 412 câu thơ song thất lục bát.
Thực hành tiếng Việt
Biện pháp tu từ chơi chữ
1.
Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ chơi chữ trong các trường hợp dưới đây:
a.
Một nghề cho chín còn hơn chín nghề.
(Tục ngữ)
b.
Nấu đậu phụ cho cha ăn
Sắc ích mẫu cho mẹ uống.
(Câu đối)
c.
Giậu rào mắt cáo, mèo chui lọt
Rổ núc(1) lòng tôm, tép nhảy qua.
(Nguyễn Huy Lượng)
d.
Bánh cả thúng sao gọi là bánh ít?
Trầu cả khay sao dám gọi trầu không?
(Ca dao)
e.
Thấy nếp thì lại thèm xôi
Ngồi bên thúng gạo nhớ nổi cơm thơm.
(Ca dao)
g.
Con ngựa đá con ngựa đá, con ngựa đá không đá con ngựa.
(Vế đối cổ)
h.
Anh Hươu đi chợ Đồng Nai
Bước qua Bến Nghé, ngồi nhai thịt bò.
(Ca dao)
i.
Con cá đối bỏ trong cối đá;
Con mèo cái nằm trên mái kèo.
Trách cha mẹ em nghèo, anh nỡ phụ duyên em.
(Ca dao)
Một số cách chơi chữ thường gặp
- Dùng từ đồng âm. Ví dụ:
Trăng bao nhiêu tuổi trăng già
Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non?
(Ca dao)
Tác giả dân gian sử dụng yếu tố non (nghĩa là núi) đồng âm với yếu tố non (nghĩa là mới mọc, mới sinh, ít tuổi, trái nghĩa với già) để tạo tính chất hài hước, dí dỏm cho câu ca dao.
- Dùng từ gần âm (trại âm). Ví dụ:
Sảnh với Na-va “ranh tướng” Pháp
Tiếng tăm nồng nặc ở Đông Dương.
(Tú Mô)
Câu thơ không dùng từ danh tướng (viên tướng có tài năng nức tiếng) mà trại âm thành "ranh tướng" (ranh: ma mãnh; bé, nhỏ, oắt con) để chế giễu tên tướng giặc một cách sâu cay.
- Dùng lối điệp âm. Ví dụ:
Mênh mông muôn mẫu một màu mưa
Mỏi mắt miên man mãi mịt mờ.
(Tú Mỡ)
Nhà thơ dùng cách điệp âm “m”, diễn tả vẻ mịt mờ của không gian đầy mưa, đồng thời tạo ấn tượng thú vị, đặc sắc cho câu thơ.
- Dùng lối nói lái. Ví dụ:
Cô công nói với cậu rùa,
Rồng ở dưới đất, còn cua trên trời.
(Ca dao)
Trong bài ca dao trên, từ chỉ tên loài vật ở câu lục đọc lái âm (phụ âm đầu của tiếng này ghép với phần vần của tiếng kia) thành tên loài vật khác ở câu bát (công - rùa/ cua - rồng), tạo cảm nhận thú vị, bất ngờ.
- Dùng từ trái nghĩa. Ví dụ:
Ngọt thơm sau lớp vỏ gai,
Quả ngon lớn mãi cho ai đẹp lòng.
Mời cô, mời bác ăn cùng,
Sầu riêng mà hoá vui chung trăm nhà.
(Phạm Hổ, Quả sầu riêng)
Nức: cạp miệng, vành của đồ đan bằng tre nứa.
K.
Một trăm thứ dầu, dầu xoa không ai thắp;
Một trăm thứ bắp, bắp chuối chẳng ai rang;
Một trăm thứ than, than thân không ai quạt;
Một trăm thứ bạc, bạc tình bán chẳng ai mua.
(Ca dao)
2.
Nêu một trường hợp (trong giao tiếp hằng ngày hoặc trong tác phẩm văn học) có sử dụng biện pháp tu từ chơi chữ. Biện pháp tu từ chơi chữ được sử dụng trong trường hợp đó có tác dụng gì?
Sầu riêng là tên một loại trái cây, cũng đồng âm với từ ngữ trái nghĩa với vui chung, tạo nên ý thơ bất ngờ, thú vị.
Dùng từ đồng nghĩa, gần nghĩa hoặc cùng trường nghĩa. Ví dụ:
Chàng Cóc ơi! Chàng Cóc ơi!
Thiếp bén duyên chàng có thế thôi.
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé,
Ngàn vàng khôn chuộc dầu bôi vôi.
(Hồ Xuân Hương, Khóc Tổng Cóc)
Bài thơ sử dụng một loạt từ là tên những con vật lưỡng cư như chàng (chẫu chàng), cóc, bén (nhái bén), nòng nọc, chuộc (chẫu chuộc), từ đó tạo ra sự hài hước, dí dỏm.
Những cách chơi chữ này có thể được sử dụng độc lập hoặc kết hợp với nhau làm phong phú thêm cho tư duy, đồng thời tạo sự ý vị, hấp dẫn cho lời nói.
Văn bản 2
Trước khi đọc
Hãy chia sẻ cảm nhận về một âm thanh hoặc bản nhạc từng khiến em xúc động.
Đọc văn bản
Tiếng đàn mưa
BÍCH KHÊ
Mưa hoa rụng, mưa hoa xuân rụng.
Mưa xuống lầu, mưa xuống thềm lan(1);
Mưa rơi ngoài nẻo dặm ngàn,
Nước non rả rích giọng đàn mưa xuân.
Những sự vật, hiện tượng phụ hoạ cùng mưa.
Những nơi mưa rơi xuống.
Lầu mưa xuống, thềm lan mưa xuống,
Cùng nước non mưa rụng hoa xuân.
Mưa rơi ngoài nội(2) trên ngàn,
Nghe trong ý khách giọt đàn mưa rơi.
Thềm lan: thềm hoa lan, thềm nhà (cách nói tao nhã, văn chương).
Nội: cánh đồng.
Đầm mưa xuống, nẻo đổi mưa xuống.
Bóng dương tà(1)... rụng bóng tà dương(2);
Hoa xuân rơi với bóng dương.
Mưa trong ý khách mưa cùng nước non.
Cách sử dụng các biện pháp tu từ.
Rơi hoa hết mưa còn rả rích,
Càng mưa rơi càng tịch bóng dương
Bóng dương với khách tha hương
Mưa trong ý khách muôn hàng lệ rơi.
Nguyên nhân khiến nhân vật "khách tha hương" rơi lệ.
(Thơ Bích Khê,
NXB Tổng hợp Đồng Nai, Đồng Nai, 2006, tr. 137-138)
Sau khi đọc
- Bích Khê (1916 – 1946) quê ở tỉnh Quảng Ngãi. Sáng tác của ông thuộc các thể loại như thơ (thơ Đường luật, thơ tự do), tự truyện,... Ông được đánh giá cao với những bài thơ táo bạo, giàu tính nhạc. Bích Khê là nhà thơ có nhiều tìm tòi, cách tân trong phong trào Thơ mới (1932 – 1945). Một số tập thơ của ông: Tình huyết (1939), Mấy dòng thơ cũ (1988), Tinh hoa (1997),...
- Tiếng đàn mưa nằm trong tập thơ Tinh hoa (tập hợp các sáng tác của Bích Khê từ năm 1938 đến năm 1944).
Trả lời câu hỏi
1.
Chỉ ra những đặc điểm của thể thơ song thất lục bát thể hiện trong bài thơ Tiếng đàn mưa.
2.
Bố cục của bài thơ gồm mấy phần? Nêu nội dung chính của từng phần.
3.
Những từ ngữ nào được sử dụng nhiều lần trong bài thơ? Nêu tác dụng của việc sử dụng với tần suất cao những từ ngữ ấy.
4.
Nêu đặc điểm chung của những sự vật, hiện tượng phụ hoạ cùng mưa trong bài thơ. Tác giả muốn khắc hoạ tâm trạng gì qua những sự vật, hiện tượng ấy?
5.
Chỉ ra mối liên hệ giữa hình ảnh nước non ở ba khổ thơ đầu với nội dung của hai câu thơ cuối.
6.
Em có ấn tượng nhất với điều gì ở bài thơ? Vì sao?
Bóng dương tà, bóng tà dương: bóng mặt trời lúc sắp lặn hẳn.
K. Một trăm thứ dầu, dầu xoa không
ai thắp;
Một trăm thứ bắp, bắp chuối chẳng
ai rang;
Một trăm thứ than, than thân không
ai quạt;
Một trăm thứ bạc, bạc tình bán chẳng
ai mua.
(Ca dao)
Hãy chia sẻ cảm nhận về một âm thanh hoặc bản nhạc từng khiến em xúc động.
BÍCH KHÊ SONG
(1) Thẩm lan: thêm hoa lan, thêm nhà (cách nói tao nhã, văn chương).
(2) Nội cánh đồng.
Đầm mưa xuống, nẻo đổi mưa xuống.
Bóng dương tà... rụng bóng tà dương(2);
Hoa xuân rơi với bóng dương.
Mưa trong ý khách mưa cùng nước non.
Rơi hoa hết mưa còn rả rích,
Càng mưa rơi càng tịch bóng dương
Bóng dương với khách tha hương
Mưa trong ý khách muôn hàng lệ rơi.
(1). (2) Bóng dương tà, bóng tà dương: bóng mặt trời lúc sắp lặn hẳn.
Việt kết nối với đọc
Viết đoạn văn (khoảng 7 - 9 câu) phân tích cảm xúc của nhân vật "khách tha
hương" trong bài thơ Tiếng đàn mưa.
Thực hành tiếng Việt
Biện pháp tu từ điệp thanh và biện pháp tu từ điệp vẫn
1
Chỉ ra và nêu tác dụng của biện
pháp tu từ điệp thanh trong các
trường hợp dưới đây:
a. Lầu mưa xuống, thêm lan mưa xuống,
Cùng nước non mưa rụng hoa xuân.
Mưa rơi ngoài nội trên ngàn,
Nghe trong ý khách giọt đàn mưa rơi.
(Bích Khê, Tiếng đàn mưa)
b. Ô hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông...
(Bích Khê, Tì bà)
c. Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.
(Quang Dũng, Tây Tiến)
- Điệp thanh có thể được tạo nên bằng cách
sử dụng lặp lại một loạt âm tiết có cùng thanh
điệu (thanh bằng hoặc thanh trắc). Ví dụ: hai
câu thơ toàn thanh bằng sau đây đem lại âm
hưởng nhẹ nhàng, êm dịu, như tiếng lòng của
thi nhân muốn dịu lại, vơi đi những nỗi sầu:
Ô Đêm nay trời trong như gương
Không làn mây vương không hơi sương.
(Hàn Mặc Tử, Tiêu sầu)
Điệp thanh cũng có thể được tạo nên bằng
cách sử dụng lặp lại thanh điệu theo từng nhóm
âm tiết. Ví dụ: câu thơ Đầm mưa xuống, nẻo đổi
mưa xuống (Bích Khê, Tiếng đàn mưa) có hai
nhóm âm tiết giống nhau về thứ tự các thanh
điệu bằng - bằng - trắc (đầm mưa xuống/ đổi
mưa xuống). Biện pháp tu từ điệp thanh kết
hợp với cách ngắt nhịp tạo nên tính nhạc (nhịp
dồn dập) cho câu thơ, đồng thời giúp người
đọc cảm nhận những giọt mưa đang rơi mau
ở khắp chốn.
- Điệp vẫn trong thơ có thể xuất hiện ở vị trí các
âm tiết gieo vần: âm tiết cuối cùng của câu thơ
(vần chân) hoặc âm tiết nằm ở khoảng giữa
câu thơ (vần lưng), tạo tính liên kết, tính nhạc
cho câu thơ. Ở một số bài thơ, việc gieo vẫn tạo
được ấn tượng hoặc cảm xúc đặc biệt, có hiệu
quả tu từ rõ nét, đó chính là điệp vẫn. Ví dụ,
bài thơ sau đã gieo vần "e" (hoặc "oe ) làm tăng
thêm ấn tượng về cái lè nhè của người say rượu:
Năm gian nhà cổ thấp le te,
Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè.
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.
2
Trong bài thơ Tiếng đàn mưa,
biện pháp tu từ điệp thanh được
Bích Khê sử dụng rất đặc biệt: điệp
thanh theo từng nhóm âm tiết trong
cùng một câu thơ. Hãy làm rõ tác
dụng của biện pháp tu từ này trong
bài thơ.
3
Chỉ ra và cho biết tác dụng của
biện pháp tu từ điệp vẫn trong đoạn
thơ dưới đây:
Rơi hoa hết mưa còn rả rích,
Càng mưa rơi càng tịch bóng dương
Bóng dương với khách tha hương
Mưa trong ý khách muôn hàng lệ rơi.
(Bích Khê, Tiếng đàn mưa)
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt
Mắt lão không vậy cũng đỏ hoe.
Rượu tiếng rằng hay hay chẳng mấy,
Độ năm ba chén đã say nhè.
(Nguyễn Khuyến, Thu ẩm)
Điệp vẫn còn có thể xuất hiện ở những vị trí âm
tiết không đóng vai trò gieo vần, tạo ra sự trùng
điệp về âm hưởng, tăng nhạc tính để chuyển tải
cảm xúc cần biểu đạt trong thơ. Ví dụ, câu thơ
sau điệp vẫn "ang" tạo âm hưởng mênh mang,
rộng mở:
Lá bàng đang đỏ ngọn cây
Sếu giang mang lạnh đang bay ngang trời.
(Tố Hữu, Tiếng hát sang xuân)
Văn bản 3
Đọc văn bản
Một thể thơ độc đáo của người Việt
DƯƠNG LÂM AN
Thể thơ song thất lục bát là một sáng tạo văn học độc đáo của người Việt.
Những tác phẩm đầu tiên sáng tác bằng thể song thất lục bát là Chỉ Nam ngọc âm
giải nghĩa (chưa rõ tác giả, có thể được sáng tác trong thế kỉ XV) và Đại nghĩ bát giáp
thưởng đào giải văn (Bài văn làm hộ tám giáp(1) thưởng cho cô đào(2) được giải,
do Lê Đức Mao(3) sáng tác trước khi đỗ Tiến sĩ năm 1505). Một điều thú vị là tác
phẩm Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn cũng là một trong những trước tác
văn học viết đầu tiên có những đoạn viết bằng thể thơ lục bát. Hiện chưa đủ căn
cứ để xác định chính xác thời điểm ra đời của các tác phẩm đầu tiên viết bằng thể
thơ lục bát và song thất lục bát. Dẫu vậy, có thể khẳng định rằng hai thể thơ này
đều được người Việt sáng tạo trong thời gian khoảng thế kỉ XV – XVI, xuất hiện
trước sau không lâu.
Thể thơ song thất lục bát và thể thơ lục bát tương đồng ở quy luật dùng thanh điệu
và cách gieo vần ở cặp câu lục bát. Không xét đến các trường hợp lục bát biến thể,
(1) Giáp: đơn vị cư dân thời xưa, dưới cấp thôn.
(2) Cô đào người nữ làm nghề hát ca trù.
(3) Lê Đức Mao (1462-1529) sinh tại tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội), nổi tiếng về tài văn chương.
về cơ bản, thanh điệu được cố định ở câu lục (các vị trí tiếng thứ 2, 4 và 6) là bằng -
trắc – bằng, còn thanh điệu ở câu bát (các vị trí tiếng thứ 2, 4, 6 và 8) là bằng – trắc –
bằng – bằng; vần chân được gieo ở cả hai câu, còn vẫn lưng được gieo ở tiếng thứ 6
(có khi ở tiếng thứ 4) của câu bát. Sự khác biệt giữa hai thể thơ này căn bản nằm ở cặp
câu song thất. Về thanh điệu, cặp câu song thất chú trọng quy chuẩn thanh điệu của các
tiếng ở vị trí lẻ trong câu thơ (tiếng thứ 5 và 7 ở câu thất thứ nhất lần lượt là bằng - trắc;
tiếng thứ 3, 5 và 7 ở câu thất thứ hai lần lượt là bằng – trắc – bằng). Về vần, mỗi câu
thất đều có cả vẫn chân và vẫn lưng. Do vậy mà cứ 28 chữ (tiếng), tương đương với
một nhóm bốn câu thơ, thì thể song thất lục bát có bảy tiếng gieo vần, trong khi thơ lục
bát chỉ có sáu. Chẳng hạn, tác phẩm Chinh phụ ngâm (bản diễn Nôm(1)) mở đầu bằng
những câu thơ sau:
Thủa trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.
Xanh kia thăm thăm từng trên,
Nào ai gây dựng cho nên nỗi này?
Trống Tràng Thành lung lay bóng nguyệt,
Khói Cam Tuyền mờ mịt thức mây.
Chín lần gươm báu trao tay,
Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh(2)...
Những câu thơ dài và ngắn đan xen, cùng mật độ vẫn lớn (trung bình mỗi bốn tiếng
có một vần) không một thể thơ nào ra đời trước đó có thể sánh bằng, khiến những câu
thơ song thất lục bát luôn phối hợp hài hoà với nhau, tạo nên âm hưởng du dương,
giàu nhạc tỉnh.
Giàu nhạc tỉnh là một điểm mạnh được thơ song thất lục bát phát huy ở một thể loại
trữ tình trong văn học Việt Nam: ngâm khúc. Những khúc ngâm như bản diễn Nôm
Chinh phụ ngâm được cho là của Đoàn Thị Điểm (1705-1748), Cung oán ngâm khúc
của Nguyễn Gia Thiều (1741 – 1798), Ai tư vẫn của Lê Ngọc Hân (1770 – 1799), Tự
tình khúc của Cao Bá Nhạ (sống khoảng thế kỉ XIX), bản diễn Nôm Tì bà hành của
Phan Huy Thực (1778 – 1844), bản diễn Nôm Chức cẩm hồi văn của Ngô Thế Vinh
(1802-1856), Thu dạ lữ hoài ngâm của Đinh Nhật Thận (1815 – 1866)... đã khẳng
định một giai đoạn cực thịnh của ngâm khúc cũng như thể song thất lục bát trong
khoảng thế kỉ XVIII - XIX. Mặc dù ngâm khúc trong văn học Việt Nam được sáng tác
bằng nhiều thể thơ khác nhau, nhưng thể thơ song thất lục bát vẫn tạo cho ngâm khúc một
(1) Diễn Nôm: dịch một văn bản chữ Hán ra chữ Nôm.
(2) Chữ in đậm là chữ nằm ở vị trí phải đảm bảo đúng luật bằng - trắc; chữ in đậm, nghiêng là chữ nằm ở vị trí gieo vản
trong câu thơ.
dấu ấn riêng, biểu hiện những tâm trạng, cảm xúc trữ tình bị thương, kết tinh những giá
trị nhân văn và hiện thực sâu sắc. Chẳng hạn, những câu thơ cuối tác phẩm Ai tư vẫn
của Lê Ngọc Hân khiến người đọc xúc cảm, suy ngẫm về số phận của một con người
cũng như những biến thiên của thời cuộc:
Cảnh nào cũng ngùi ngùi cảnh ấy,
Tiệc vui mừng còn thấy chi đâu!
Phút giây bãi bể nương dâu,
Cuộc đời là thế, biết hầu nài sao?
Chữ tình nghĩa trời cao, đất rộng,
Nỗi đoạn trường còn sống, còn đau.
Mấy lời tâm sự trước sau,
Đôi vầng nhật nguyệt trên đầu chứng cho.
Ngoài ngâm khúc, song thất lục bát còn được dùng trong nhiều thể loại văn học
khác (ca trù, văn tế, thơ,...), với những tác phẩm nổi tiếng như Đại nghĩ bát giáp
thưởng đào giải văn của Lê Đức Mao, Tứ thời khúc vịnh của Hoàng Sĩ Khải (sống
khoảng thế kỉ XVI), Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du (1765 - 1820),
Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến (1835 – 1909), bản dịch Hải ngoại huyết thư(1)
của Lê Đại (1875 – 1952),... Dù ở thể loại nào, thơ song thất lục bát vẫn luôn thể hiện
được khả năng truyền cảm mạnh mẽ mà sâu lắng. Để bày tỏ nỗi xót xa khi hay tin
người bạn thân thiết không còn nữa, Nguyễn Khuyến đã viết những câu thơ song thất
lục bát thật thấm thía trong bài thơ Khóc Dương Khuê:
Bác Dương thôi đã thôi rồi,
Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.
Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước,
Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau.
Đầu thế kỉ XX, các nhà thơ danh tiếng như Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Á Nam
Trần Tuấn Khải,... có nhiều sáng tác theo thể song thất lục bát. Một số nhà thơ hiện
đại như Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính, Bích Khê, Hồ Dzếnh, Hàn Mặc Tử, Tố Hữu,...
vẫn tiếp tục sử dụng song thất lục bát khi sáng tác, bởi vẻ đẹp, sức truyền cảm đặc biệt
của thể thơ này. Tất nhiên, thay cho tâm trạng buồn thương thường trực trong quá khứ,
những tác phẩm hiện đại viết theo thể song thất lục bát đã mang hơi thở của thời đại
mới, truyền tải những tâm trạng, xúc cảm mới mẻ. Như với tác phẩm Ba mươi năm đời
ta có Đảng, Tố Hữu đã mang một sức sống tươi trẻ của nước Việt Nam mới gửi gắm
vào trong những câu thơ song thất lục bát:
(1) Nguyên tác chữ Hán của Phan Bội Châu.
Màu áo mới nâu non nắng chói
Mái trường tươi roi rói ngói son
Đã nghe nước chảy lên non
Đã nghe đất chuyển thành con sông dài...
Ngày nay, thể thơ cổ điển này không còn thịnh hành, nhưng với mỗi người Việt Nam,
những câu thơ song thất lục bát vẫn luôn đem lại ấn tượng về những tình cảm thân
thương. Đó thực sự là một thể thơ đặc sắc mà người Việt đã sáng tạo nên để có thể gửi
gắm vào trong đó tâm hồn sâu lắng của mình.
(Theo Dương Lâm An, Một thể thơ độc đáo của người Việt,
tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, tháng 9/2023)
Sau khi đọc
Trả lời câu hỏi
1.
Theo thông tin trong văn bản, thơ song thất lục bát ra đời khi nào?
2.
Đặc điểm hình thức nào giúp thơ song thất lục bát giàu nhạc tính?
3.
Văn bản để cập những điểm tương đồng và khác biệt nào giữa thơ song thất lục bát
và thơ lục bát?
4.
Theo văn bản, vì sao thể thơ song thất lục bát vẫn được sử dụng để sáng tác trong
thời kì hiện đại?
5.
Trình bày suy nghĩ của em về nhận định của tác giả đối với thể thơ song thất lục bát:
"Đó thực sự là một thể thơ đặc sắc mà người Việt đã sáng tạo nên để có thể gửi
gắm vào trong đó tâm hồn sâu lắng của mình".
Viết
Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (thơ song thất lục bát)
Phân tích tác phẩm văn học là làm rõ những nét đặc sắc về nội dung và hình thức
nghệ thuật của tác phẩm. Ở bài học này, em sẽ được thực hành viết bài văn phân tích
một tác phẩm thơ song thất lục bát, qua đó vừa củng cố kĩ năng đọc hiểu thể loại này,
vừa tiếp tục phát triển kĩ năng viết bài nghị luận với đối tượng cụ thể là thơ song thất
lục bát.
Yêu cầu:
- Giới thiệu khái quát về tác phẩm thơ song thất lục bát (tên tác phẩm, tên tác giả),
nêu được nhận định chung của người viết về tác phẩm.
- Làm rõ được nội dung chủ đề của tác phẩm.
Phân tích được những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm,
tập trung vào những yếu tố đặc trưng của thể thơ song thất lục bát và tác dụng
của thể thơ này trong việc thể hiện nội dung của tác phẩm.
Triển khai được hệ thống luận điểm chặt chẽ; sử dụng lí lẽ, bằng chứng xác đáng
từ tác phẩm để làm sáng tỏ ý kiến nêu trong bài viết.
- Khẳng định được ý nghĩa, giá trị của tác phẩm.
Phân tích bài viết tham khảo
Hồn tôi vang tiếng trống trường
Trưa vắng
Hồn tôi đấy: căn trường nho nhỏ,
Nước vôi xanh, bờ cỏ tươi non
Lâu rồi, còn thoảng mùi thơm,
Chân đi nghe động tới hồn ngây thơ
Sâu rộng quá những giờ vui trước!
Nhịp cười say trên nước chưa trôi.
Trưa hè thường thấy hai tôi
Ném đầu chim chích, bắt đuôi chuồn chuồn
Đời đẹp quá, tôi buồn sao kịp?
Trang sách đầu chép hết giây mơ.
Ngả mình trên bóng nhung tơ,
Tôi nguyền: sau lớn làm thơ suốt đời!
Cỏ mấy bận xanh rồi lại tạ,
Gió lùa thu trong lá bao lần...
Bạn trường, những bóng phù vân,
Xót thương mái tóc nay dần hết xanh.
Hồn xưa dậy: chim cành động nắng,
Lá reo trên hồ lặng lờ trong
Trưa im, im đến não nùng,
Tôi ngờ trống học trong lòng trưa vang...
(Hồ Dzếnh, Quê ngoại, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 1996, tr. 62-63)
Hồ Dzếnh (1916 – 1991) là một tác giả đã khẳng định được
tên tuổi của mình từ phong trào Thơ mới. Các thi phẩm của ông
gọi cho người đọc ấn tượng về một giọng thơ ấm áp, chân thật.
Đọc thơ ông, ta có cảm giác như ông đang kể câu chuyện cuộc
đời mình. Bài thơ Trưa vắng in trong tập thơ Quê ngoại (1942)
là một sáng tác tiêu biểu cho giọng thơ, hồn thơ của thi sĩ.
Bài thơ mở đầu bằng lời chia sẻ:
Đó là câu chuyện của “hồn tôi” được nhà thơ kể lại, một
thế giới ăm ắp những kỉ niệm, những xúc cảm thân thương.
Nơi ấy có ngôi trường “nho nhỏ tác giả từng gắn bó thời
thơ ấu. Ngôi trường ấy được quét “nước vôi xanh”, có “bờ cỏ tươi non” và “thoảng
mùi thơm”, rộn vang tiếng “chân đi ,... Hình ảnh ngôi trường lưu lại trong tâm hồn
tác giả rõ mồn một từng chi tiết, được cảm nhận qua cả thị giác, khứu giác và thính
giác, như vẫn đang hiện hữu với vẻ đẹp xinh xắn, tinh khôi. Những câu thơ song
thất lục bát giàu vần điệu (mỗi khổ thơ gồm một cặp câu
thơ 7 chữ và một cặp lục bát luôn có tới 7 tiếng được gieo
vần, điều không một thể thơ nào khác có được) dẫn dắt
người đọc vào thế giới tâm hồn của thi sĩ, ở đó, những câu
chuyện diễn ra từ thuở cắp sách đến trường mà có cảm giác
như đang sống động trước mắt.
Trong thế giới của kí ức ấy, có bao kỉ niệm không thể nào quên, khiến tác giả kể
một cách say sưa:
Sâu rộng quá những giờ vui trước!
Nhịp cười say trên nước chưa trôi.
Trưa hè thường thấy hai tôi
Ném đầu chim chích, bắt đuôi chuồn chuồn.
Khi miêu tả “những giờ vui trước” là “sâu rộng (biện pháp
tu từ ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, dùng cảm nhận không gian
để miêu tả thời gian), thi nhân muốn thể hiện những xúc cảm
đang ngập tràn tâm hồn mình. Đó là niềm vui một thời cùng
anh trai (tác giả có hai người anh trai, nhân vật “hai tôi” chính là người anh cả) của mình
đùa chơi trên sông, nghịch trò “ném đầu chim chích, bắt đuôi chuồn chuồn”. Câu thơ
“Ném đầu chim chích, bắt đuôi chuồn chuồn” miêu tả những trò chơi tuổi dại khờ năm
xưa, đồng thời gợi ra biết bao trò tinh nghịch khác (nhờ hiệu quả của phép đối), giờ đã
trở thành kỉ niệm vô giá của hai anh em.
Những năm tháng không thể nào quên ấy không chỉ luôn sống trong kí ức mà còn
trở thành nguồn động lực để đi tới tương lai: trở thành nhà thơ vì thấy cuộc đời quá đẹp!
Đời đẹp quá, tôi buồn sao kịp?
Trang sách đầu chép hết giây mơ.
Ngả mình trên bóng nhung tơ,
Tôi nguyền: sau lớn làm thơ suốt đời!
Vẻ đẹp của cuộc đời và tình yêu tha thiết dành cho cuộc đời được thi sĩ thể hiện qua câu
hỏi tu từ: “Đời đẹp quá, tôi buồn sao kịp?”. Vì muốn ghi lại những vẻ đẹp ấy, thể hiện
tình yêu ấy, tác giả đã nguyện “làm thơ suốt đời”. Câu thơ “Tôi nguyền: sau lớn làm
thơ suốt đời!” có thể sử dụng một trong hai cách ngắt nhịp: 2/2/2/2 hoặc 2/6. Nếu cách
ngắt đều đặn theo nhịp 2/2/2/2 tạo cảm nhận về một lời giãi bày, tâm sự, thì cách ngắt
nhịp 2/6 lại tạo ra sự biến điệu: hai tiếng đầu là lời “tuyên thệ” dõng dạc, tự hứa với
lòng mình; sáu tiếng còn lại là nội dung “tuyên thệ” đầy tâm huyết, thiết tha. Dù chọn
cách ngắt nhịp nào thì hai tiếng “tôi nguyền” vẫn được ngắt riêng, thể hiện một quyết
tâm mạnh mẽ, dứt khoát, không gì lay chuyển được. Lời nguyện ước năm ấy của “tôi”
đã trở thành hiện thực, và chúng ta nhận ra rằng mỗi phút giây mà một ai đó trải qua
không phải là một sự trôi đi, biến mất trong dĩ vãng, mà là một sự lắng lại, tiếp tục
hiện hữu, như phù sa vun đắp nên đôi bờ. Đời thơ ấy đã lắng đọng nên hồn thơ ấy.
Kể từ đó, thời gian thấm thoắt thoi đưa:
Có mấy bận xanh rồi lại tạ,
Gió lùa thu trong là bao lần...
Bạn trường, những bóng phù vân,
Xót thương mái tóc nay dần hết xanh.
Cuộc sống đã có biết bao biến đổi: cỏ cây đã bao lần héo úa rồi lại xanh tươi; trời đất
đã bao độ thu đến rồi tàn; bạn học cùng mái trường năm ấy giờ như “bóng phù vân”,
mỗi người mỗi ngả bản thân thi sĩ cũng dần bạc mái đầu. Dấu chấm lửng nằm giữa
những câu thơ miêu tả thiên nhiên và miêu tả con người không tạo sự ngăn cách giữa
hai nhóm đối tượng này, mà như một khoảng lặng thẫn thờ của thi sĩ, chất chứa những
xót xa trước dòng chảy của thời gian.
Dẫu xót xa, với Hồ Dzếnh, cuộc sống có thay đổi thế nào thì dấu ấn của những ki
niệm xưa vẫn không phai mờ trong tâm trí:
Người yêu thơ không khó để nhận ra sự đồng điệu xúc cảm giữa khổ thơ này với những
câu thơ “Gì sâu bằng những trưa thương nhớ/ Hiu quạnh bên trong một tiếng hò!” và
“Gì sâu bằng những trưa hiu quạnh/ Ôi ruộng đồng quê
thương nhớ ơi!” trong bài thơ Nhớ đồng của Tố Hữu. Buổi
trưa ở xứ nhiệt đới là khoảng thời gian nghỉ ngơi, là quãng lặng giữa hai buổi làm việc
trong ngày. Chính quãng lặng của trưa vắng ấy đã trở thành một khoảng thời gian đặc
biệt, có thể khiến tâm hồn con người sống dậy những hồi tưởng, hoài niệm. Trong buổi
trưa vắng hôm ấy, không rõ tiếng trống làm thức dậy kỉ niệm xưa hay kỉ niệm xưa làm
dậy vang tiếng trống trong hồn thi nhân. Dấu chấm lửng cuối bài thơ thể hiện âm vang
tiếng trống trường năm xưa còn chưa dứt. Với thi nhân, quá khứ không chỉ là những
hoài niệm. Quá khứ vẫn đang hiện hữu trong hiện tại.
Bài thơ được viết bằng ngôn ngữ tự nhiên, mộc mạc và
giàu biểu cảm như một tự truyện ngọt ngào, thể hiện những
rung cảm nhẹ nhàng mà sâu lắng của tâm hồn thi nhân. Thể
thơ song thất lục bát xen kẽ từng cặp câu thơ bảy chữ và cặp câu thơ lục bát đầy biến
tấu, giàu vần điệu, ngắt nhịp đa dạng, có khả năng chuyển tải những xúc cảm muôn
màu, rất phù hợp để nhà thơ bộc bạch lòng mình. Bài thơ làm sống dậy trong ta những
kỉ niệm của tuổi ấu thơ, thuở cắp sách tới trường, khiến ta thêm yêu quý, trân trọng
những phút giây mình đã và đang sáng tới trường, khiến ta th
(Nhóm biên soạn)
Thực hành viết theo các bước
Trước khi viết
Lựa chọn đề tài
Nhớ lại các tác phẩm thơ song thất lục bát
mà em đã học hoặc đã đọc, chẳng hạn: Ai tư vẫn
(Lê Ngọc Hân), Khóc Dương Khuê (Nguyễn Khuyến),
Hai chữ nước nhà (Trần Tuấn Khải), Đêm khuya tự
tình với sông Hương (Hàn Mặc Tử), Tiếng đàn mưa
(Bích Khê).... Chọn trong số đó một tác phẩm em
cảm thấy thú vị, có nhiều xúc cảm để phân tích.
Làm rõ những nét đặc sắc về
nội dung và nghệ thuật của
một tác phẩm thơ song thất
lục bát.
Những người quan tâm, có
nhu cầu tìm hiểu về thể thơ
song thất lục bát và tác phẩm
thơ được phân tích.
Tìm ý
Để tìm ý cho bài văn phân tích một tác phẩm thơ song thất lục bát, em cần thực
hiện các bước sau:
- Tìm hiểu thông tin về tác giả, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm (nếu có) và những
thông tin khác có liên quan để viết phần Mở bài và liên hệ, mở rộng khi phân tích.
Ví dụ: Bài viết tham khảo đã sử dụng các thông tin về tác giả Hồ Dzếnh và một số
câu thơ trong bài Nhớ đồng của Tố Hữu.
- Xác định bố cục của tác phẩm và nội dung chính của từng phần. Ví dụ: Bài thơ
Trưa vắng gồm 5 khổ thơ, mỗi khổ thể hiện một nội dung cụ thể. Bài viết tham khảo
đã phân tích lần lượt từng khổ thơ.
- Xác định những nỗi niềm tâm tư, xúc cảm chủ đạo trong tác phẩm. Ví dụ: Bài thơ
Trưa vắng là tâm sự của tác giả khi hồi tưởng những kỉ niệm về thời còn đi học.
- Tìm hiểu các yếu tố nghệ thuật mà tác giả đã sử dụng để truyền tải nội dung chủ
đề như đặc điểm của thể thơ song thất lục bát (vân, nhịp,...), từ ngữ (đặc biệt là các từ
ngữ chỉ xúc cảm, trong đó có cả từ tượng thanh, từ tượng hình,...), biện pháp tu từ (điệp
thanh, điệp vẫn, so sánh, ẩn dụ),... Ví dụ: Trong bài viết tham khảo, cách sử dụng dấu
chấm, dấu phẩy, dấu chấm lửng, thủ pháp đối, câu hỏi tu từ,... của bài thơ Trưa vắng đã
được khai thác để làm rõ những nội dung tác giả muốn thể hiện.
Nghị luận về một tác phẩm thơ song thất lục bát, bài viết nên kết hợp phân tích
nội dung và nghệ thuật để làm rõ sự hô ứng, hoà quyện của hai phương diện này trong
cùng một (hoặc một nhóm) câu thơ. Do vậy, việc triển khai bài viết sẽ thuận lợi hơn khi
lần lượt phân tích theo trình tự các phần của tác phẩm thơ.
Lập dàn ý
Tổ chức, sắp xếp các ý đã tìm được ở trên thành một dàn ý chặt chẽ, hợp lí, gồm
các phần Mở bài, Thân bài, Kết bài.
- Mở bài. Giới thiệu khái quát về tác phẩm thơ song thất lục bát (nhan đề, tên tác
giả) và nêu ý kiến chung về tác phẩm.
Thân bài: Lần lượt phân tích các phần theo bố cục tác phẩm thơ:
+ Phần 1 (từ câu... đến câu...): phân tích những tâm tư, nỗi niềm, khát vọng.... và
một số nét đặc sắc về nghệ thuật.
+ Phần 2 (từ câu... đến câu...): phân tích những tâm tư, nỗi niềm, khát vọng....
và một số nét đặc sắc về nghệ thuật.
+
- Kết bài: Khẳng định ý nghĩa, giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm thơ.
Viết bài
Việc thực hiện bài viết đòi hỏi triển khai đầy đủ các ý đã có trong dàn ý. Mỗi ý trong
phần Thân bài nên được viết thành một đoạn văn. Khi viết, lựa chọn những từ ngữ
chính xác, phù hợp, thể hiện được quan điểm và tình cảm của người viết, tránh sử dụng
những từ ngữ sáo rỗng, cầu kì. Nên sử dụng hiệu quả các thông tin ngoài tác phẩm (nếu
có), giúp cho việc phân tích các giá trị của tác phẩm được rõ ràng, nổi bật hơn.
Lưu ý: Với trường hợp tác phẩm thơ dài, có thể chỉ trích dẫn ở mỗi phần những câu
thơ, đoạn thơ quan trọng và phân tích sâu. Tuỳ điều kiện, thời gian làm bài để có cách
xử lí thích hợp.
Chỉnh sửa bài viết
Đọc lại bài viết, căn cứ vào yêu cầu đối với bài văn phân tích một tác phẩm thơ
song thất lục bát và dàn ý đã lập, rà soát các phần để chỉnh sửa. Việc chỉnh sửa có thể
thực hiện theo gợi ý ở bảng sau:
Yêu cầu
| Gợi ý chỉnh sửa
Kiểm tra việc triển
| - Rà soát xem đã triển khai đầy đủ các ý chưa, nếu thiếu thì
khai dàn ý.
| phải bổ sung.
| Rà soát xem bài viết đã phân tích các giá trị nội dung và
nghệ thuật (đặc biệt là đã khai thác những đặc điểm của thể
thơ song thất lục bát) của tác phẩm chưa. Nếu thiếu thì phải
| bổ sung.
| - Đối chiếu quy mô và dung lượng thông tin giữa các ý. Nếu
chưa cân đối thì cần điều chỉnh.
Rà soát lỗi chính tả
và diễn đạt.
| Chỉnh sửa các lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu, tạo lập đoạn
văn và văn bản (nếu có).
Nói và nghe
Thảo luận về một vấn đề đáng quan tâm trong đời sống phù hợp với lứa tuổi (được gợi ra từ tác phẩm văn học)
Văn học nảy sinh từ cuộc sống, phản ánh nhiều mặt, nhiều vấn đề của cuộc sống.
Em có thể chọn một vấn đề đáng quan tâm trong đời sống phù hợp với lứa tuổi được
gợi ra từ một tác phẩm văn học mà em đã học (hoặc đã đọc) làm đề tài thảo luận.
Tham gia thảo luận nhóm sẽ giúp em cải thiện kĩ năng nói trước đám đông và phát triển
tư duy phản biện.
Trước khi thảo luận
Trước khi thảo luận, em cần thực hiện tốt việc
chuẩn bị theo các bước sau:
- Thành lập nhóm và lựa chọn vấn đề đáng
quan tâm trong đời sống được gợi ra từ tác phẩm
văn học đã học hoặc đã đọc để thảo luận, ví dụ:
sức huỷ hoại của chiến tranh, khát vọng hạnh
phúc của con người được gọi ra từ tác phẩm
Chinh phụ ngâm....
- Phân công người điều hành (chủ trì) và thư kí
(có nhiệm vụ ghi lại nội dung cuộc thảo luận).
Để có cái nhìn đúng đắn, sâu sắc
và toàn diện hơn về vấn đề, đồng
thời tạo được không khí thân
thiện, sự đồng cảm trong một bối
cảnh sinh hoạt cụ thể.
Các thành viên tham gia thảo
luận và những người tham dự buổi
thảo luận do có nhu cầu tìm hiểu
về vấn đề.
- Thống nhất nguyên tắc khi thảo luận: Các thành viên tham gia thảo luận cần tuân
thủ theo sự điều hành của người chủ trì; khi phát biểu cần nói ngắn gọn, rõ ràng, không
lặp lại các ý người khác đã trình bày mà cần có sự tiếp nối, phát triển những ý đó một
cách hợp lí người nghe cần lắng nghe với thái độ tôn trọng, không ngắt lời người nói.
Mỗi người cần nắm nội dung khái quát và các chi tiết trong tác phẩm văn học
có liên quan đến vấn đề được lựa chọn để chuẩn bị ý kiến tham gia thảo luận. Có thể
chuẩn bị thêm tranh ảnh, đoạn phim ngắn,... để hỗ trợ cho phần trình bày.
Thảo luận
- Mở đầu: Người chủ trì nêu vấn đề thảo luận đã được thống nhất ở phần chuẩn bị.
- Triển khai:
+ Theo sự chỉ định của người chủ trì, các thành viên trình bày ý kiến thảo luận với
các lí lẽ và bằng chứng thuyết phục. Chú ý sử dụng ngôn ngữ cơ thể và điều chỉnh
ngữ điệu nói cho phù hợp với nội dung trình bày; kết hợp hiệu quả ngôn ngữ nói với
các phương tiện hỗ trợ như tranh ảnh, đoạn phim ngắn,....
+ Khi một thành viên phát biểu, các thành viên còn lại lắng nghe, ghi chép vắn tắt
nội dung ý kiến; đặt câu hỏi, góp ý, phản biện.
+ Thư kí ghi chép nội dung các ý kiến thảo luận thành biên bản.
- Kết thúc: Người chủ trì tổng kết các nội dung chính đã thảo luận; khẳng định ý nghĩa
của việc thảo luận về vấn đề trong đời sống được gợi ra từ tác phẩm văn học, cảm ơn
sự đóng góp của các thành viên tham gia.
Đánh giá
- Đánh giá ý nghĩa của vấn đề thảo luận, chất lượng các ý kiến phát biểu.
- Trao đổi, rút kinh nghiệm về cách sử dụng kết hợp ngôn ngữ nói, ngôn ngữ cơ thể
(nét mặt, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ,...) và các phương tiện hỗ trợ; cách tổ chức, điều hành
buổi thảo luận.
Củng cố, mở rộng
1.
Những nỗi niềm xúc cảm của người chinh phu (Chinh phụ ngâm) và khách
tha hương (Tiếng đàn mưa) có điểm chung nào không? Vì sao?
2.
Điều gì khiến thể thơ song thất lục bát có thế mạnh khi thể hiện những nỗi niềm
xúc cảm, những khát vọng riêng tư của con người?
3.
Tìm đọc một tác phẩm thơ song thất lục bát có nội dung đề cập tới thân phận
người phụ nữ. Thân phận người phụ nữ trong tác phẩm đó có điểm gì giống với thân phận
người chinh phu trong tác phẩm Chinh phụ ngâm?
4.
Chọn phân tích một tác phẩm thơ song thất lục bát mà em yêu thích.
Thực hành đọc
Khi đọc văn bản dưới đây, em cần chú ý những vấn đề sau:
Đặc điểm của thể thơ song thất lục bát được thể hiện trong đoạn trích.
Nội dung chủ đề của đoạn trích.
Một số nét đặc sắc về nghệ thuật được thể hiện trong đoạn trích.
Nỗi sầu oán của người cung nữ
Trích Cung oán ngâm khúc, NGUYỄN GIA THIỂU(2)
Trong cung quế(3) âm thầm chiếc bóng,
Đêm năm canh trông ngóng lần lần.
Khoảnh(4) làm chi bấy chúa xuân,
Chơi hoa cho rữa nhuỵ dần lại thôi.
(1) Đoạn trích thuộc tác phẩm Cung oán ngâm khúc, từ câu 209 đến câu 244. Tác phẩm Cung oán ngâm khúc
gồm 356 câu thơ, kể về nỗi ai oán của người cung nữ tài sắc, lúc đầu được nhà vua sủng ái, nhưng chẳng bao lâu
đã bị lạnh nhạt. Trong cung cấm, nàng than thở cho thân phận mình và oán trách nhà vua phụ bạc, muốn thoát khỏi
cuộc sống ấy để trở về với cuộc đời tự do trước khi vào cung. Nhưng nàng vẫn tiếp tục bị vây hãm trong "chiếc lồng
son cung điện, tiếp tục phải ôm nỗi buồn đau sầu thảm và oán hờn chất chứa, với hi vọng mong manh đến một ngày
lại được nhà vua sủng ái như xưa.
(2) Nguyễn Gia Thiều (1741–1798) quê ở xứ Kinh Bắc (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh). Ông sáng tác bằng cả chữ Hàn
(Ôn Như thi tập, khoảng một nghìn bài, đã thất truyển) và chữ Nôm (tiêu biểu là Cung oán ngâm khúc).
(3) Cung quế: theo Nam bộ yên hoa kí vua Trần Hậu Chủ (Trung Quốc) xây cho ái phi Trương Lệ Hoa một cung có cửa sổ
tròn như vầng trăng, giữa sân trồng một cây quế, nên về sau từ cung quế hay vách quế được dùng để chỉ nơi ở của
cung phi, người đẹp.
(4) Khoảnh: chơi ác, chơi khăm.
Lầu đãi nguyệt(1) đứng ngồi dạ vũ(2),
Gác thừa lương(3) thức ngủ thu phong(4).
Phòng tiêu(5) lạnh ngắt như đồng,
Gương loan(6) bẻ nửa, dải đồng(7) xé đôi.
Chiều ủ dột giấc mai(8) khuya sớm,
Vẻ bâng khuâng hồn bướm(9) vẫn vơ.
Thâm khuê(10) vắng ngắt như tờ,
Cửa châu gió lọt, rèm ngà(11) sương gieo.
Ngấn phượng liễn(12) chòm rêu lỗ chỗ,
Dấu dương xa(13) đám cỏ quanh co.
Lầu Tần(14) chiều nhạt vẻ thu,
Gối loan(15) tuyết đóng, chăn cù(16) giá đông.
Ngày sáu khắc tin mong nhạn vắng(17)
Đêm năm canh tiếng lắng chuông rên(18).
Lạnh lùng thay giấc cô miên(19),
Mùi hương tịch mịch, bóng đèn thâm u(20).
(1) Lầu đãi nguyệt lầu đợi trăng, chờ ngắm trăng lên.
(2) Dạ vũ: mưa đêm.
(3) Gác thừa lương gác hóng gió mát.
(4) Thu phong gió thu.
(5) Phòng tiêu phòng ở có vách trát vữa trộn hồ tiêu tán nhỏ (tạo hương thơm và giữ ấm), chỉ nơi ở của người nữ.
(6) Gương loan: gương có khắc hình chim loan (thường đặt trong phòng ở của vợ chồng).
(7) Dải đồng dải gắm thắt nút thành từng vòng, ngụ ý vợ chồng đồng tâm gắn bó, quấn quýt yêu thương nhau.
(8) Giấc mai giấc ngủ dưới gốc mai, chỉ giấc mộng đẹp. (Theo Long thành lục, Triệu Sư Hùng (người đời Tuy, Trung Quốc)
khi đi qua núi La Phù thì trời tối, mơ thấy mình vào nghỉ ở một quân ven đương. Chủ quán là một cô gái đẹp xiêm y trắng
toát toả hương thơm thoang thoảng mang rượu ra mời. Triệu Sư Hùng uống say, khi tỉnh dậy thấy mình nằm dưới gốc mai
hoa trắng, ngát hương, mới biết vừa nằm mộng.)
(9) Hồn bướm tâm hồn mơ màng như trong giấc mộng. (Theo Trang Tử, Trang Chu nằm mộng thấy mình hoá thành
bướm, bay lượn rất thảnh thơi, tỉnh dậy lại thấy mình là Trang Chu, nên băn khoăn không biết mình là Trang Chu vừa
hoa thành bướm, hay là bướm vừa hoà thành Trang Chu.)
(10) Thâm khuê: khuê phòng kín đáo, chỉ nơi ở của người nữ.
(11) Cửa châu, rèm ngà cửa treo rèm làm bằng ngọc châu hoặc bằng ngà, chỉ nơi ở của người nữ một cách tao nhã.
(12) Phượng liễn: xe kéo tay có hình chim phượng, nhà vua thường dùng để đến chỗ ở của cung nữ; ngắn phượng liễn:
dẫu xe phương liễn.
(13) Dương xa cỗ xe do dễ kéo. (Theo Tấn thư, Tấn Vũ Đế có nhiều cung phi, thường ngồi xe do dê kèo (không có
người điều khiển) để đến với các cung phi. Xe chạy tới chỗ nào thì vua ở lại đó. Các cung phi muốn được vua sủng ái
thường dùng là trúc rửa nước muối để nhử dê kèo xe tới.)
(14) Lầu Tần: lầu của vua Tần, chỉ cung điện của nhà vua nói chung.
(15) Gối loạn: gối thêu hình chim loan, chỉ gối của vợ chồng.
(16) Chăn cử chăn dệt bằng lông thú, đắp rất ấm.
(17) Tin mong nhạn vắng mong nhưng không nhận được tin. (Theo Hán thư, Tô Vũ thời nhà Hán đi sứ Hung Nô bị
vua Hung Nô giam giữ, bắt chăn dê ở núi Bắc Hải. Vua Hản không thấy Tô Vũ về bèn hỏi vua Hung Nô, nhưng
vua Hung Nô nói dối rằng Tô Vũ đã chết. Vua Hàn bèn bày chuyện đi săn, phao tin rằng nhận được thư do Tô Vũ
gửi buộc vào chân chim nhạn. Vua Hung Nô tường thật, đành thả cho Tô Vũ về. Về sau, "tin nhạn" được dùng để chỉ
việc đưa tin, thông báo tin tức.)
(18) Tiếng lắng chuông rên: tiếng người yên ắng và tiếng chuông vang rền.
(19) Cô miên giấc ngủ trong nỗi cô đơn.
(20) Thâm u tối, tù mù.
Tranh biếng ngắm trong đồ tố nữ(1),
Mặt buồn trông trên cửa nghiêm lâu(2).
Một mình đứng tủi ngồi sầu,
Đã than với nguyệt, lại rầu với hoa.
Buồn mọi nỗi lòng đà(3) khắc khoải,
Ngán trăm chiều bước lại ngẩn ngơ.
Hoa này bướm nỡ thờ ơ,
Để gầy bông thắm để xơ nhuỵ vàng.
Đêm năm canh lần nương vách quế,
Cái buồn này ai dễ giết nhau.
Giết nhau chẳng cái lưu cầu(4),
Giết nhau bằng cái u sầu độc chưa!
Tay nguyệt lão(5) chẳng xe(6) thì chớ,
Xe thế này có dở dang không?
Đang tay(7) muốn dứt tơ hồng,
Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra!
(Những khúc ngâm chọn lọc, tập I, Lương Văn Đang – Nguyễn Thạch Giang -
Nguyễn Lộc giới thiệu, biên khảo và chú giải, Sđd, tr. 153-156)
Kết nối tri thức với cuộc sống
(1) Đồ tố nữ tranh vẽ những cô gái đẹp.
(2) Nghiệm lâu: lầu tôn nghiêm, chỉ nơi vua ở.
(3) Đà đã.
(4) Lưu cầu vốn là tên một hòn đảo, nơi nổi tiếng về nghề rèn dao kiếm; ở đây ý nói không cần dùng dao kiếm mà
vẫn có thể giết người.
(5) Nguyệt lão: cụ già ngồi dưới trăng, chỉ người làm mối. (Theo Tục U quái lục, thời nhà Đường - Trung Quốc, có người
tên là Vi Cổ trọ ở Tổng Thành. Một đêm, Vi Cố đi dạo, gặp một cụ già ngồi dưới trăng xem sách, tựa lưng vào một
chiếc túi đựng đẩy các sợi chỉ đỏ. Vì Cố hỏi, cụ già cho biết cuốn sách ghi việc hôn nhân và những sợi chỉ đỏ dùng
để buộc chân những đôi trai gái sẽ thành vợ chồng.)
(6) Xe: xe duyên.
(7) Đang tay nỡ ra tay, chấp nhận làm một việc mà một người có tình cảm không thể làm.
Kết nối trị thức với cuộc sống
(1) Đồ tố nữ: tranh vẽ những cô gái đẹp.
(2) Nghiêm lâu: lầu tôn nghiêm, chỉ nơi vua ở.
(3) Đà: đã.
(4) Lưu cầu vốn là tên một hòn đảo, nơi nổi tiếng về nghề rèn dao kiếm; ở đây ý nói không cần dùng dao kiếm mà vẫn có thể giết người.
(5) Nguyệt lão: cụ già ngồi dưới trăng, chỉ người làm mối. (Theo Tục U quái lục, thời nhà Đường – Trung Quốc, có người tên là Vi Cố trọ ở Tổng Thành. Một đêm, Vi Cố đi dạo, gặp một cụ già ngồi dưới trăng xem sách, tựa lưng vào một chiếc túi đựng đầy các sợi chỉ đỏ. Vi Cố hỏi, cụ già cho biết cuốn sách ghi việc hôn nhân và những sợi chỉ đỏ dùng để buộc chân những đôi trai gái sẽ thành vợ chồng.)
(6) Xe: xe duyên.
(7) Đang tay: nỡ ra tay, chấp nhận làm một việc mà một người có tình cảm không thể làm.
Xem bản PDF nguyên trang sách: Ngữ văn 9 tập 1 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 39–63).
