Sống đã rồi hãy viết.
Nam Cao

Giới thiệu bài học

  • Nhà văn, nhà thơ là người sáng tạo nên tác phẩm. Tác phẩm văn học là kết quả của quá trình trải nghiệm đời sống, lao động sáng tạo nghệ thuật của nhà văn, nhà thơ. Tuy nhiên, sức hấp dẫn thực sự của tác phẩm văn học chỉ bắt đầu khi có sự tiếp nhận của người đọc. Bằng vốn sống, trí tuệ và tâm hồn của mình, người đọc sẽ đem đến các cách hiểu, cách cảm nhận khác nhau về những trang viết ấy.
  • Trong bài học này, hai văn bản nghị luận văn học sẽ giúp em hiểu được cách phân tích của các nhà phê bình văn học về tư tưởng, tình cảm và tài năng nghệ thuật của tác giả thể hiện qua tác phẩm; về bản chất và ý nghĩa của việc đọc văn. Qua văn bản truyện ngắn kết nối về chủ đề, em sẽ hiểu thêm về nhà văn, hiểu được vai trò và sức mạnh của tưởng tượng trong đời sống và trong sáng tạo, tiếp nhận nghệ thuật.

Yêu cầu cần đạt

  • Nhận biết được luận để, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng tiêu biểu trong văn bản nghị luận.
  • Nhận biết được đặc điểm và chức năng của các thành phần biệt lập trong câu.
  • Viết được bài văn phân tích một tác phẩm văn học: nêu được chủ đề; dẫn ra và phân tích được tác dụng của một vài nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật được dùng trong tác phẩm.
  • Trình bày được ý kiến về một vấn đề xã hội.
  • Yêu văn chương, trân trọng lao động sáng tạo nghệ thuật của nhà văn, nhà thơ; tôn trọng và có ý thức học hỏi cách tiếp nhận văn bản văn học của người khác.

Đọc

Tri thức ngữ văn

Văn bản nghị luận văn học

Văn bản nghị luận văn học là loại văn bản nghị luận trong đó người viết trình bày quan điểm, đánh giá của mình về một vấn đề thuộc lĩnh vực văn học (tác phẩm, tác giả, thể loại,...). Văn bản nghị luận văn học cần có luận đề, luận điểm rõ ràng; lí lẽ xác đáng, bằng chứng thuyết phục và được tổ chức một cách hợp lí.

Luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản nghị luận văn học

Luận đề trong văn bản nghị luận văn học là vấn đề chính (về tác phẩm, tác giả, thể loại,...) được bàn luận trong văn bản, thường thể hiện ở nhan đề, phần mở đầu hoặc được suy luận từ toàn bộ văn bản.

  • Luận điểm trong văn bản nghị luận văn học là những ý chính được triển khai nhằm cụ thể hoá luận để, dựa trên đặc điểm của đối tượng được bàn luận. Chẳng hạn, nếu đối tượng được bàn luận là một tác phẩm văn học thì hệ thống luận điểm có thể được triển khai dựa trên các đặc điểm nội dung và nghệ thuật của tác phẩm đó.
  • Lí lẽ trong văn bản nghị luận văn học là những diễn giải của người viết về đặc điểm của một tác phẩm, tác giả, thể loại,... Lí lẽ có thể đan xen yếu tố biểu cảm, nhưng cần chặt chẽ, khúc chiết, tránh dài dòng và cảm tính. Bằng chứng trong văn bản nghị luận văn học là những câu văn, đoạn văn, dòng thơ, chi tiết, hình ảnh,... được dẫn từ tác phẩm văn học; hoặc những tài liệu, trích dẫn liên quan đến tác phẩm, tác giả, thể loại,... được dùng để làm sáng tỏ luận điểm.
Người đọc và cách tiếp nhận riêng đối với một văn bản văn học

Tác giả là chủ thể sáng tạo văn bản văn học, còn người đọc là chủ thể tiếp nhận. Quá trình đọc, tưởng tượng và cảm nhận giá trị nghệ thuật và nội dung của văn bản văn học chính là quá trình tiếp nhận. Việc tiếp nhận không thể tách rời đặc điểm của văn bản (thể loại, để tài, chủ đề, bố cục, biện pháp nghệ thuật, các yếu tố ngôn ngữ được sử dụng). Tuy nhiên, hoàn cảnh tiếp nhận tác phẩm, vốn sống, vốn hiểu biết, sự trải nghiệm của mỗi người đọc khác nhau, do đó cách hiểu, cảm nhận về ý nghĩa, giá trị của tác phẩm sẽ có những nét riêng, không hoàn toàn đồng nhất. Mỗi người đọc có thể lựa chọn cách đọc, cảm nhận, hiểu tác phẩm dựa trên vốn sống, kinh nghiệm,... của mình, có khả năng phát hiện ra những giá trị, ý nghĩa mới của văn bản. Do đó, ý nghĩa, giá trị của tác phẩm với mỗi người đọc, mỗi thời đại có thể được sáng tạo mở rộng và trở nên phong phú hơn.

Thành phần biệt lập

Thành phần biệt lập là thành phần không nằm trong cấu trúc cú pháp của câu (chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, định ngữ, bổ ngữ) và cũng không tham gia vào việc diễn đạt nghĩa sự việc của câu. Thành phần biệt lập gồm: thành phần tình thái, thành phần cảm thán, thành phần gọi - đáp, thành phần chêm xen (phụ chú).

Văn bản đọc

VĂN BẢN 1. Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam (trích), Xuân Diệu
VĂN BẢN 2. Đọc văn – cuộc chơi tìm ý nghĩa, Trần Đình Sử
VĂN BẢN 3. Xe đêm (trích), Côn-xtan-tin Pau-xtốp-xki (Konstantin Paustovsky)

Văn bản 1

Trước khi đọc

Em biết những tác phẩm văn học nào viết về mùa thu? Chia sẻ với các bạn về vẻ đẹp của mùa thu trong một tác phẩm mà em yêu thích.

Đọc văn bản

Nhà thơ của quê hương
làng cảnh Việt Nam
Trích, XUÂN DIỆU
Nguyễn Khuyến nổi tiếng nhất trong văn học
Việt Nam là về thơ Nôm. Mà trong thơ Nôm của
Nguyễn Khuyến, nức danh nhất là ba bài thơ mùa
thu: Thu điếu, Thu âm, Thu vịnh. [...]
Được nhớ, thuộc, và truyền tụng, vì là ba bài thơ
hay và điển hình nhất cho mùa thu của Việt Nam, ở
miền Bắc nước ta, chứ không ở nước nào khác.
Tiêu biểu hơn cả, là bài Thu điếu (Mùa thu ngồi
câu cá):

Theo dõi

Vấn đề được bàn luận trong bài.

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gọn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối buông cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

Chú ý

Các cụm từ: “mùa thu của Việt Nam”,
“nước ta”, “đất nước nhà mình”.

Đọc lên, như thấy trước mắt làng cảnh ao chuôm nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, trong tiết mùa thu, rất là đất nước nhà mình, có thật, rất sống, chứ không theo ước lệ như ở trong văn chương sách vở. Hàng vạn người đọc rất tỉnh, đã thuộc ba bài thu này, mà không thuộc được các bài thu khác (của các tác giả khác). [...]

THU ẨM
Năm gian nhà cỏ thấp le te,
Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè.
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt
Mắt lão không vấy cũng đỏ hoe.
Rượu tiếng rằng hay hay chẳng mấy,
Độ năm ba chén đã say nhè.

Theo dõl

Ý kiến của người viết về bài thơ
"Thu ẩm".

Bài thơ này, theo tôi, không phải chỉ nói trong một thời điểm, là trong một đêm trăng hạn định, mà là tổng hợp nhiều thời điểm, khái niệm, khái quát về cảnh thu. Nếu chỉ nói cảnh một đêm thu có trăng, thì bài thơ tù túng và thiếu lô-gíc. Câu thứ hai: Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè, phải là đêm sâu mới hay, mới ngõ thật tối, đóm mới lập loè, còn “đêm khuya (theo như có bản chép) thì là từ 12 giờ đêm trở đi, chẳng bao hàm gì là tối cả, chỉ bao hàm ý muộn và vắng, đêm khuya với đom đóm chẳng đi gì với nhau, vả lại còn phải nghiên cứu thử xem đom đóm có chờ đến khuya mới bay ra, mới bay nhiều hay không? Mà đã “ngõ tối đêm sâu thì mâu thuẫn với Làn ao lóng lánh bóng trăng loe. Mặt khác, đưa Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt vào cảnh một đêm có trăng, thì không hợp, không điển hình gì cả. Trên mặt nước ao, mặt nước sông lặng, thì điển hình là Nước biếc trông như tầng khói phủ kia, khỏi nhạt phất phơ lưng giậu là điển hình cho buổi chiều quê, khói bếp nhà ai đã nấu cơm chiều, gặp hơi nước nhiều trong không khí thì lan dài là là quấn quýt lấy vừa tầm lung giậu. Thơ chữ Hán của tác giả cũng có những câu:

Chổi liễu rủ lá xanh, có ánh mặt trời xuyên qua,
Giậu tre um màu biếc, làn khói chiều bao phủ.

Mặt nữa, Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt chắc hẳn không phải là trời một đêm trăng, mà phải là trời một buổi chiều. Vì thế cho nên tôi hiểu bài này là khái quát, tổng hợp nhiều cảnh thu ở nhiều thời điểm. Nghĩ như thế rồi, chúng ta thấy bốn câu đi liền nhau (2, 3, 4, 5) về làng cảnh rất hay, nó hay trong cái thực của nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, chứ không bay đi đâu xa khác. Nhất là câu Làn ao lóng lánh bóng trăng loe,

là của một thi sĩ thật có tài, bóng trăng vàng từ mặt nước ao sáng loẻ ra, bốn chữ /
khá nặng (làn, lóng, lánh, loe) gọi chất vàng nước kim loại, ba dấu sắc khứ thanh
(lóng, lánh, bóng) gọi ánh bắn đi, từ loe với âm oe gọi cái gì tròn (tròn xoe), như cái
ao chẳng hạn. Lịch sử văn học thế giới, qua mấy nghìn năm, đã biểu dương tùng câu
thơ một của các nhà thơ có tài. Một câu thơ của Nguyễn Khuyến về cảnh sắc Việt Nam
như thế, là một câu thơ hiếm có.

THU VỊNH
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào.
Nhân húng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.

Chú ý

Câu mở đầu đoạn thể hiện ý kiến
của người viết về bài thơ “Thu vịnh”.

Trong ba bài thơ, bài này mang cái hồn của
cảnh vật mùa thu hơn cả, cái thanh, cái trong, cái nhẹ,
cái cao. Mang cái thần của cảnh mùa thu. Cái hồn,
cái thần của cảnh thu là nằm ở trong bầu trời, ở
trên trời thu. Trời thu rất xanh rất cao toả xuống cả cảnh vật. Cây tre Việt Nam ta,
những cây còn non, ít lá, thanh mảnh cao vót như cái cần câu in lên trời biếc, gió đẩy
đưa khe khẽ, thật là thanh đạm, hợp với hồn thu. Song thưa để mặc bóng trăng vào
cũng thuộc về trời cao, Một tiếng trên không ngỗng
nước nào cũng nói về trời cao, gọi sự xa xăm, gọi
cái bâng khuâng về không gian. Mấy chùm trước
giậu hoa năm ngoái gọi cái bâng khuâng man mác
về thời gian. Nước biếc trông như tầng khỏi phủ gọi niềm bay bổng nhẹ nhàng và mơ hồ
như hư như thực. Cả khung cảnh mùa thu thanh thoát ấy dẫn đến ý hai câu kết: – Sao ta
còn bị buộc chân ở đây, sa lầy trong vòng danh lợi ố bẩn phi nghĩa này? Sao ta chưa
trả mũ từ quan quy khứ như Đào Uyên Minh, cho nhẹ nhõm trong sáng?

Theo dõi

Cách tác giả nêu lí lẽ, bằng chứng
để chứng minh cho ý kiến.

Bài Thu vịnh có thần hơn hết, nhưng ta vẫn phải
nhân bài Thu điếu là điển hình hơn cả cho mùa thu
của làng cảnh Việt Nam (ở Bắc Bộ). Có về thăm
“Vườn Bùi chốn cũ” – đây là “xứ Vườn Bùi theo
đồng bào gọi cả vùng Trung Lương nằm trong xã Yên Đổ cũ, chứ không phải chỉ là
khu vườn của nhà ở cụ Nguyễn Khuyến – mới càng hiểu rõ bài Ao thu lạnh lẽo nước
trong veo. Sao lắm ao thể! Cả huyện Bình Lục là xứ đồng chiêm rất trũng kia mà.

Chú ý

Câu mở đầu đoạn thể hiện ý kiến
của người viết về bài thơ “Thu điếu”.

Nhiều ao cho nên ao nhỏ, ao nhỏ thi thuyền câu cũng theo đó mà bé tẻo teo. Sóng biếc
gọn rất nhẹ, một chiếc lá vàng rụng theo gió, bay
bay xoay xoay rồi rơi xuống xa xa một cách khẽ
khàng. Khung ao tuy hẹp vậy, nhưng làng cảnh
cũng không thiếu không gian. Nhìn lên: trời thu
xanh cao đám mây đọng lơ lửng, trông quanh các
lối đi trong làng hai bên tre biếc mọc sầm uất, chạy ngoắt ngoéo cho đến lúc tưởng
như tre đã kín lại, mọi người ra đồng làm, cho nên làng vắng teo. Thơ hay là hay
cả hồn lẫn xác, hay cả bài [...] không thể tóm tắt thơ được, mà phải đọc lại. Cái
thú vị của bài Thu điếu là ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre,
xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi, ở những cử
động: chiếc thuyền con lâu lâu mới nhích, sóng gợn tí, lá đưa vèo, tầng mây lửng,
ngõ trúc quanh, chiếc cần buông, con cá động, ở các vần thơ: không phải chỉ giỏi
vì là những tử vận hiểm hóc, mà chính hay vì kết hợp với từ, với nghĩa chữ, đến
một cách thoải mái đúng chỗ, do một nhà nghệ sĩ cao tay, cả bài thơ không non ép
một chữ nào, nhất là hai câu 3-4:

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo

thật tài tình, nhà thơ đã tìm được cái tốc độ bay của lá, vèo, để tương xứng với cái mức
độ gọn của sóng: tí.
Quá trình ngôn ngữ của thơ đi từ thời Lê Hồng Đức, thật hãy còn vất vả nặng nề:

Trời muôn trượng thẳm làu làu sạch,

đến Nguyễn Khuyến đã thành ra:

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao

thật trong sáng nhẹ nhàng, như không một trở lực nào níu được sự diễn đạt nữa.
Thế mới biết những câu thơ thoải mái tự nhiên là kết quả của một sự khổ luyện, khổ
luyện qua những thời đại, hoặc là khổ luyện trong một người. Các bạn mới làm thơ nên
khái niệm cho được thế nào là sự “đắc đạo trong nghệ thuật ngôn ngữ.

Chú ý

Câu văn đánh giá chung về ba bài
thơ thu.

Ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, nhin gộp
chung lại, là thành công tốt đẹp của quá trình dân
tộc hoá nội dung mùa thu cho thật là thu Việt Nam,
trên đất nước ta, và dân tộc hoá hình thức lời thơ,
câu thơ cho thật là Nôm, là Việt Nam.
(Xuân Diệu, Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1982, tr. 174-185)

là của một thi sĩ thật có tài, bóng trăng vàng từ mặt nước ao sáng loé ra, bốn chữ / khá nặng (làn, lóng, lánh, loe) gọi chất vàng nước kim loại, ba dấu sắc khứ thanh (lóng, lánh, bóng) gọi ánh bắn đi, từ loe với âm oe gọi cái gì tròn (tròn xoe), như cái ao chẳng hạn. Lịch sử văn học thế giới, qua mấy nghìn năm, đã biểu dương từng câu thơ một của các nhà thơ có tài. Một câu thơ của Nguyễn Khuyến về cảnh sắc Việt Nam như thế, là một câu thơ hiếm có.

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào.
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.

Chú ý

Câu mở đầu đoạn thể hiện ý kiến của người viết về bài “Thu vịnh”.

Trong ba bài thơ, bài này mang cái hồn của cảnh vật mùa thu hơn cả, cái thanh, cái trong, cái nhẹ, cái cao. Mang cái thần của cảnh mùa thu. Cái hồn, cái thần của cảnh thu là nằm ở trong bầu trời, ở trên trời thu. Trời thu rất xanh rất cao toả xuống cả cảnh vật. Cây tre Việt Nam ta, những cây còn non, ít lá, thanh mảnh cao vót như cái cần câu in lên trời biếc, gió đẩy đưa khe khẽ, thật là thanh đạm, hợp với hồn thu. Song thưa để mặc bóng trăng vào cũng thuộc về trời cao, Một tiếng trên không ngỗng nước nào cũng nói về trời cao, gọi sự xa xăm, gọi cái bâng khuâng về không gian. Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái gọi cái bâng khuâng man mác về thời gian. Nước biếc trông như tầng khói phủ gọi niềm bay bổng nhẹ nhàng và mơ hồ như hư như thực. Cả khung cảnh mùa thu thanh thoát ấy dẫn đến ý hai câu kết: – Sao ta còn bị buộc chân ở đây, sa lầy trong vòng danh lợi ố bẩn phủ nghĩa này? Sao ta chưa trả mũ từ quan quy khứ như Đào Uyên Minh, cho nhẹ nhõm trong sáng?

Bài Thu vịnh có thần hơn hết, nhưng ta vẫn phải nhận bài Thu điếu là điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam (ở Bắc Bộ). Có về thăm “Vườn Bùi chốn cũ” – đây là “xứ Vườn Bùi” theo đồng bào gọi cả vùng Trung Lương nằm trong xã Yên Đổ cũ, chứ không phải chỉ là khu vườn của nhà ở cụ Nguyễn Khuyến – mới càng hiểu rõ bài Ao thu lạnh lẽo nước trong veo. Sao lắm ao thể! Cả huyện Bình Lục là xứ đồng chiêm rất trũng kia mà.

Nhiều ao cho nên ao nhỏ, ao nhỏ thì thuyền câu cũng theo đó mà bé tẻo teo. Sóng biếc gọn rất nhẹ, một chiếc lá vàng rụng theo gió, bay bay xoay xoay rồi rơi xuống xa xa một cách khẽ khàng. Khung ao tuy hẹp vậy, nhưng làng cảnh cũng không thiếu không gian. Nhìn lên: trời thu xanh cao đám mây đọng lơ lửng, trông quanh: các lối đi trong làng hai bên tre biếc mọc sầm uất, chạy ngoắt ngoéo cho đến lúc tưởng như tre đã kín lại, mọi người ra đồng làm, cho nên làng vắng teo. Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài [...] không thể tóm tắt thơ được, mà phải đọc lại. Cái thú vị của bài Thu điếu là ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi, ở những cử động: chiếc thuyền con lâu lâu mới nhích, sóng gợn tí, lá đưa vèo, tầng mây lửng, ngõ trúc quanh, chiếc cần buông, con cá động, ở các vần thơ: không phải chỉ giỏi vì là những tử vận hiểm hóc, mà chính hay vì kết hợp với từ, với nghĩa chữ, đến một cách thoải mái đúng chỗ, do một nhà nghệ sĩ cao tay, cả bài thơ không non ép một chữ nào, nhất là hai câu 3 – 4:

Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
đối với:
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo

thật tài tình, nhà thơ đã tìm được cái tốc độ bay của lá, vèo, để tương xứng với cái mức độ gọn của sóng: tí.

Quá trình ngôn ngữ của thơ đi từ thời Lê Hồng Đức, thật hãy còn vất vả nặng nề:

Trời muôn trượng thăm làu làu sạch,

đến Nguyễn Khuyến đã thành ra:

thật trong sáng nhẹ nhàng, như không một trở lực nào níu được sự diễn đạt nữa. Thế mới biết những câu thơ thoải mái tự nhiên là kết quả của một sự khổ luyện, khổ luyện qua những thời đại, hoặc là khổ luyện trong một người. Các bạn mới làm thơ nên khái niệm cho được thế nào là sự “đắc đạo” trong nghệ thuật ngôn ngữ.

Ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, nhìn gộp chung lại, là thành công tốt đẹp của quá trình dân tộc hoá nội dung mùa thu cho thật là thu Việt Nam, trên đất nước ta, và dân tộc hoá hình thức lời thơ, câu thơ cho thật là Nôm, là Việt Nam.

(Xuân Diệu, Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, tập II, NXB Văn học, Hà Nội, 1982, tr. 174–185)

Sau khi đọc

Xuân Diệu (1916 - 1985) quê ở Hà Tĩnh, là một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ hiện đại Việt Nam. Thơ ông nồng nàn, sôi nổi, thể hiện tấm lòng yêu đời, ham sống thiết tha. Bên cạnh thơ ca, ông còn viết nhiều tiểu luận phê bình văn học. Những bài viết đó thể hiện sự khám phá tinh tế, sâu sắc vẻ đẹp của kho tàng thơ ca dân tộc. Một số sáng tác và tiểu luận phê bình tiêu biểu của Xuân Diệu: Thơ thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945), Phê bình giới thiệu thơ (1960), Dao có mài mới sắc (1963), Mài sắt nên kim (1977), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (tập 1, 1981; tập II, 1982),...

Image of Xuân Diệu

Trả lời câu hỏi

1

Văn bản Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam bàn luận về vấn đề gì? Những yếu tố nào giúp em nhận ra điều đó?

2

Tác giả bài nghị luận đã chỉ ra đặc điểm chung nào ở ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến?

3

Tuy có điểm gặp gỡ, nhưng mỗi bài thơ thu vẫn có vẻ đẹp riêng. Em hãy tìm các luận điểm thể hiện sự khác biệt ấy và nêu các lí lẽ, bằng chứng tiêu biểu mà tác giả sử dụng để làm sáng tỏ luận điểm.

4

Các luận điểm, lí lẽ, bằng chứng mà Xuân Diệu sử dụng có vai trò như thế nào trong việc thể hiện luận để?

5

Tác giả đã sử dụng những cách nêu bằng chứng nào? Em có nhận xét gì về cách phân tích bằng chứng của tác giả?

6

Xuân Diệu cho rằng: Ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến là thành công tốt đẹp của quá trình “dân tộc hoá nội dung mùa thu” và “dân tộc hoá hình thức lời thơ”. Em suy nghĩ như thế nào về nhận định trên?

7

Em có nhận xét gì về nghệ thuật nghị luận của văn bản (cách mở đầu, dẫn dắt vấn đề, tổ chức luận điểm, ngôn ngữ, giọng văn nghị luận,...)?

Viết kết nối với đọc

Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) nêu cảm nhận của em về một hình ảnh đặc sắc trong một bài thơ thu của Nguyễn Khuyến.

Thực hành tiếng Việt

Thành phần biệt lập

1

Tìm thành phần tình thái trong các câu sau và chỉ ra ý nghĩa của thành phần ấy trong từng trường hợp:
a. Mặt nữa, “Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt” chắc hẳn không phải là trời một đêm trăng, mà phải là trời một buổi chiều.
(Xuân Diệu, Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam)
b. Mà tôi nhớ một cái gì đấy, hình như mẹ tôi, cái cửa sổ, hoặc những ngôi sao to trên bầu trời thành phố. Phải, có thể là những cái đó...
(Lê Minh Khuê, Những ngôi sao xa xôi)
c. Con cá nằm yên. Có lẽ vì thấm mệt nên giờ đây nó ngủ.
(Giuyn Véc-nơ, Cuộc chạm trán trên đại dương)

Nhận biết các loại thành phần biệt lập
  • Thành phần tình thái: thành phần thể hiện thái độ, cách đánh giá của người nói (người viết) đối với sự việc được nói tới trong câu. Ví dụ:
  • Chắc chắn tất cả đám học sinh chúng tôi đứa nào cũng yêu mến thầy vì tấm lòng nhân từ, vì những ý nghĩ tốt lành, vì những ước mơ của thầy về tương lai chúng tôi.

(Trin-ghi-dơ Ai-tơ-ma-tốp, Người thầy đầu tiên)
Chắc chắn là thành phần tình thái, thể hiện sự đánh giá về tính chính xác của thông tin được nói tới trong câu.

  • Hoạ sĩ còn đang nheo mắt cố đọc tên các sách trên giá thì cô gái đã bước tới, dường như làm việc ấy hộ bố.

(Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa)
Dường như là thành phần tình thái thể hiện ý không chắc chắn.

  • Thành phần cảm thán: thành phần được dùng để bộc lộ trực tiếp tình cảm, cảm xúc của người nói, người viết (vui, buồn, ngạc nhiên, tức giận,...). Ví dụ:
  • Chao ôi, bắt gặp một con người như anh ta là một cơ hội hãn hữu cho sáng tác, nhưng hoàn thành được sáng tác còn là một chặng đường dài.

(Nguyễn Thành Long, Lặng lẽ Sa Pa)
Chao ôi là thành phần cảm thán bộc lộ sự xúc động.

  • Ơ, cái bà này! Sao bà cứ cuống quýt lên vậy?

(Lê Minh Khuê, Những ngôi sao xa xôi)
Ơ là thành phần cảm thán bộc lộ sự ngạc nhiên.

2

Tìm 3 – 5 từ chỉ thái độ, cách đánh giá của người nói về mức độ tin cậy của sự việc được nói tới (không trùng với các từ tìm được ở bài tập 1). Sắp xếp chúng theo trình tự tăng dần độ tin cậy và đặt một câu với mỗi từ đó.

3

Tìm thành phần cảm thán trong các câu sau và chỉ ra ý nghĩa của thành phần ấy trong từng trường hợp:
a. Trời ơi, ước gì thầy Đuy-sen là anh ruột của tôi!
(Trin-ghi-dơ Ai-tơ-ma-tốp, Người thầy đầu tiên)
b. Má tôi cũng coi nó là gió Tết, nghe gió, má thuận miệng hát “Cấy rồi mùa qua sông cấy mướn. Ông trời ổng thổi ngọn chướng buồn cha chả là buồn...” rồi thở dài cái thượt “Ứ hự, lụi hụi mà hết năm”.
(Nguyễn Ngọc Tư, Trở gió)

Văn bản 2

Trước khi đọc

1

Sách văn học hấp dẫn đối với nhiều người, trong đó có thể có em. Điều gì đã tạo nên sức cuốn hút ấy?

2

Có những tác phẩm văn học cần được đọc đi đọc lại nhiều lần. Theo em, thực tế đó nói lên điều gì?

Đọc văn bản

Đọc văn – cuộc chơi tìm ý nghĩa

(1) [...] Văn học có một đặc điểm quan trọng là có ý nghĩa, nhưng đó là ý nghĩa tiềm ẩn. Đọc văn tức là đi tìm ý nghĩa tiềm ẩn đó. Phê bình văn học từ xưa đến nay đều chơi trò đi tìm ý nghĩa của văn học, một “trò chơi” chẳng khác gì ú tim. Có khi ta chạy về phía này, nhưng ý nghĩa lại nằm trốn ở phía kia, có khi ta tưởng bắt được rồi, nhưng hoá ra là bắt trượt. Ý nghĩa là điều mê hoặc lớn và niềm đam mê lớn đối với người đọc. Mọi tác phẩm văn học mà ta cho là hay đều thấp thoáng một ý nghĩa thú vị ở bên trong.

Theo dõi

Cách dẫn dắt vấn đề của tác giả.

(2) Người ta đã xây dựng nên nhiều lí thuyết và phương pháp để nắm bắt ý nghĩa... Nhưng dù dùng phương pháp nào, chung quy, đọc văn là thông qua văn bản văn học mà đọc hiểu một văn bản lớn hơn là thế giới và cuộc đời, là đi tìm ý nghĩa cuộc đời qua văn bản văn học. Đọc văn là cuộc đi tìm ý nghĩa nhân sinh qua các văn bản thẩm mĩ của văn học bằng chính tâm hồn người đọc. Các phương pháp chỉ là phụ trợ.

Chú ý

Tác giả quan niệm đọc văn là gì?

(3) Ý nghĩa của văn học không chỉ nằm trong văn bản, mà còn nằm trong mối liên hệ nhiều mặt giữa văn bản với cuộc đời. Vì thế ngoài văn bản, phải tìm hiểu lịch sử, văn hoá, tâm lí,... mới thực sự là đọc hiểu văn bản nghệ thuật. Có thời người ta hiểu ý nghĩa văn bản là cái cố định, mang tính đơn nhất, chỉ cần ai đó có tài phát biểu một câu là nắm hết hồn vía. Lí thuyết đọc ngày nay cho thấy ý nghĩa của văn học không ngừng biến động, lớn lên, tuỳ vào cách người ta thiết lập mối liên hệ giữa các loại văn bản với nhau. Vậy nên cuộc đi tìm ý nghĩa không có hồi kết thúc. Thực tế cho thấy tác phẩm văn học có nhiều tảng nghĩa, đa nghĩa, mơ hồ, không dễ gì tóm lược được vào một câu nhận định hay

Chú ý

Các cách diễn đạt “vì thế”, “mới thực sự là”, “vậy nên”, “thực tế cho thấy” có tác dụng gì?

(Nhan đề do người biên soạn đặt.
(2) Trần Đình Sử sinh năm 1940, quê ở Thừa Thiên Huế, là nhà nghiên cứu, lí luận – phê bình văn học. Công trình khoa học chính: Thi pháp thơ Tố Hữu (1987), Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam (1999), Thi pháp Truyện Kiều (2002), Trên đường biên của lí luận văn học (2014), Dẫn luận thi pháp học văn học (2017),...

công thức nào đó. Không ai có thể đọc tác phẩm một lần là xong. Mỗi lần đọc, mỗi cách đọc chỉ là một chặng trên con đường chạy tiếp sức của biết bao độc giả để đến với tác phẩm. Với lí thuyết tiếp nhận và quan niệm mới về tác phẩm văn học, một chân trời mới cho công việc đọc văn được mở ra. Mọi người đọc đều có cơ hội bình đẳng như nhau trong trò chơi tìm ý nghĩa. Không ai có tiếng nói cuối cùng. Không ai là người duy nhất đúng. Tác phẩm ngày càng giàu có lên trong tình yêu văn học của mọi người.

Suy luận

Theo tác giả, đọc văn là cuộc chơi. Phải chăng đã tham gia chơi thì phải tôn trọng luật của nó?

(4) Nhưng văn học là hiện tượng có quy luật. Thưởng thức văn học cũng có quy luật. Người đọc văn không có quyền tự do tuyệt đối, mà phụ thuộc vào cấu tạo của văn bản. Như người ca sĩ hát bài hát của mình theo bản nhạc của nhạc sĩ, người đọc văn cũng phải cảm nhận tác phẩm theo cung bậc của văn bản. Tuy nhiên văn bản chưa phải đã là tác phẩm. Đọc văn (phân tích, bình giảng, bình luận) tất yếu phải tôn trọng văn bản, từ ngôn từ đến hình tượng. Những cảm nhận không kiểm nghiệm được bằng văn bản có thể coi là đi xa văn bản. Nhưng mặt khác, người đọc có quyền tưởng tượng, lí giải, cụ thể hoá hình tượng, nhập vào giọng điệu, nhịp điệu, động tác của ngôn từ để hiểu chúng, miễn sao không phương hại tới tính toàn vẹn của tác phẩm.

Chú ý

Cách lí giải của tác giả về sự hoá thân của người đọc trong quá trình đọc văn.

(5) Tác phẩm văn học và đọc văn thật sự là một hiện tượng diệu kì. Khi chưa đọc, văn bản in chỉ là một vật, một khách thể, nhưng khi đã đọc thì dần dần khách thể đó biến mất, sách vẫn còn đó nhưng đồng thời lại “biến mất” để nhường chỗ cho thế giới hình tượng, sách từ bên ngoài chuyển vào trong nội tâm người đọc, người đọc hoá thân vào nhân vật trong sách. Tại sao khi đọc sách ta bỗng toàn tâm toàn ý suy nghĩ vào những điều chưa bao giờ nghĩ tới? Hoá ra ta suy nghĩ bằng những ngôn từ, hình tượng của nhà văn, còn nhà văn thì phát biểu bằng tâm hồn, trí tuệ của ta! Cho nên tuy biết rõ tác phẩm là của nhà văn mà ta vẫn thấy có toàn quyền giải thích, hứng thú giải thích và khi nói là ta giải thích, ta ấy đâu phải là chính ta! Nhà văn chiếm chỗ trong tâm trí ta, còn ta lại chiếm tác phẩm của họ! Cho nên tác phẩm văn học là một sản phẩm lạ lùng, nó gần như xoá bỏ ranh giới giữa ta và tác giả. Người đọc không phải “đệm”, mà đã “chơi” tác phẩm trên bản nhạc của nhà văn, do vậy tuỳ theo người “chơi” mà tác phẩm có sự khác nhau. [...]

Theo dõi

Cách nêu bằng chứng trong văn bản này có gì khác với văn bản “Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam”?

(6) Đọc văn là nền tảng của học văn. Học văn là học năng lực cảm thụ văn, bồi dưỡng thị hiếu văn, tiếp nhận kiến thức văn hoá văn, rèn luyện năng lực biểu đạt, sáng tạo văn. Đỗ Phủ đã nói: “Đọc rách vạn quyển sách/ Hạ bút như có thần”. M. Go-rơ-ki đã kể chuyện ông đọc nhiều như thế nào trước khi thành nhà văn lớn. Muốn học giỏi văn phải bắt đầu bằng đọc văn. [...] Phải đọc văn để người đọc tự phát hiện ra mình và lớn lên.

(Theo Trần Đình Sử, Đọc văn học văn, NXB Giáo dục, 2001, tr. 5 – 8; Trần Đình Sử chinh lí, 2022)

Sau khi đọc

Trả lời câu hỏi

1

Luận đề của văn bản Đọc văn – cuộc chơi tìm ý nghĩa là gì?

2

Em hãy chỉ ra các luận điểm trong văn bản. Các luận điểm đó có tác dụng làm rõ những khía cạnh nào của luận đề?

3

Tác giả cho rằng ý nghĩa của tác phẩm văn học thường không cố định. Câu văn nào trong văn bản giúp em hiểu rõ về vấn đề này?

4

Trong văn bản, các từ ngữ như chơi trò, trò chơi, ú tim, chơi được lặp lại nhiều lần. Với những từ ngữ đó, tác giả lí giải như thế nào về việc đọc văn?

5

Luận điểm “cuộc đi tìm ý nghĩa không có hồi kết thúc” ở đoạn (3) đã được tác giả làm sáng tỏ như thế nào? Em hãy bổ sung một số bằng chứng lấy từ trải nghiệm đọc của chính mình.

6

Trong đoạn (4) có câu: “Thưởng thức văn học cũng có quy luật.”. Câu văn đó nhắc nhở em điều gì?

7

Đọc đoạn (5) và cho biết vì sao tác giả quan niệm tác phẩm văn học và đọc văn là một hiện tượng diệu kì. Giọng văn trong đoạn (5) có gì khác với những đoạn còn lại?

8

Em hãy chỉ ra mối quan hệ giữa đoạn (5) và đoạn (6). Mối quan hệ đó làm rõ ý nghĩa gì của việc đọc văn?

Việt kết nối với đọc

Vì sao có thể nói “không ai có thể đọc tác phẩm một lần là xong”? Em hãy viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) trả lời câu hỏi đó.

Thực hành tiếng Việt

Thành phần biệt lập

1

Tìm thành phần gọi – đáp trong các câu sau và cho biết chức năng của chúng.
a. – Sợ gì? Mày bảo tao sợ cái gì? Mày bảo tao còn biết sợ ai hơn tao nữa?

  • Thưa anh, thế thì,... hừ hừ... em xin sợ. Mời anh cứ đùa một mình thôi.

(Tô Hoài, Dế Mèn phiêu lưu kí)
b. Ê, đồ quỷ! – Nét Len vừa quát vừa nện chân xuống vỏ tàu.
(Giuyn Véc-nơ, Cuộc chạm trán trên đại dương)

Nhận biết các loại thành phần biệt lập
  • Thành phần gọi – đáp: thành phần được dùng để tạo lập hoặc duy trì quan hệ giao tiếp, được đánh dấu bằng những từ ngữ gọi – đáp như: ơi, thưa, dạ, vâng,... Ví dụ:
  • Anh Mên ơi, anh Mên!

(Nguyễn Quang Thiều, Bầy chim chìa vôi)
Ơi là thành phần gọi – đáp mà Mon dùng để gọi Mên.

  • ÔNG GIUỐC-ĐANH: – Lại còn phải bảo cái đó à?

PHÓ MAY: – Vâng, phải bảo chứ. Vì tất cả những người quý phái đều mặc như thế này cả.
(Mô-li-e, Trưởng giả học làm sang)
Vâng là thành phần gọi – đáp mà phó may dùng để đáp lại lời ông Giuốc-đanh.

1

c. Cậu bé ơi, ở đây ngày nào người ta chẳng bán đến hàng nghìn con lạc đà!
(Đa-ni-en Pen-nắc, Mắt sói)

2

Tìm thành phần chêm xen trong các câu sau và cho biết chúng làm rõ thêm nội dung gì.
a. Hàng vạn người đọc rất tinh, đã thuộc ba bài thu này, mà không thuộc được các bài thu khác (của các tác giả khác).
(Xuân Diệu, Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt nam)
b. Có về thăm “Vườn Bùi chốn cũ” – đây là “xứ Vườn Bùi” theo đồng bào gọi cả vùng Trung Lương nằm trong xã Yên Đổ cũ, chứ không phải chỉ là khu vườn của nhà ở cụ Nguyễn Khuyến – mới càng hiểu rõ bài “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo".
(Xuân Diệu, Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt nam)

  • Thành phần chêm xen (phụ chú): thành phần được dùng để bổ sung, làm rõ thêm một đối tượng nào đó trong câu. Thành phần này thường được đặt trong dấu ngoặc đơn, giữa hai dấu gạch ngang, hai dấu phẩy, hoặc giữa dấu gạch ngang và dấu phẩy. Cũng có khi, thành phần chêm xen còn được đặt sau dấu hai chấm.
  • Dòng suối trong trẻo của thầy – thầy âu yếm nhìn tôi – em thông minh lắm!

(Trin-ghi-dơ Ai-tơ-ma-tốp, Người thầy đầu tiên)
Thầy âu yếm nhìn tôi là thành phần chêm xen, có tác dụng làm rõ thái độ, tình cảm của nhân vật.

2

c. Chiều hôm đó, bọn mèo ngạc nhiên khi không thấy con hải âu xuất hiện để xơi món yêu thích – món mực ống mà Xe-crét-ta-ri-ô chôm được từ bếp nhà hàng.
(Lu-i Xe-pun-ve-da, Chuyện con mèo dạy hải âu bay)
d. Đọc văn (phân tích, bình giảng, bình luận) tất yếu phải tôn trọng văn bản, từ ngôn từ đến hình tượng.
(Trần Đình Sử, Đọc văn – cuộc chơi tìm ý nghĩa)

3

Tìm các thành phần biệt lập trong những câu sau và xác định đó là loại thành phần biệt lập nào.
a. Và hẳn vì buồn nên Ánh Vàng muốn được nhìn thấy những điều mới mẻ.
(Đa-ni-en Pen-nắc, Mắt sói)
b. Mùa xuân của tôi – mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội – là mùa xuân có mua riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ mộng...
(Vũ Bằng, Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt)
c. Này bác có lợn kia ơi! Từ lúc mặc cái áo mới này, tôi chẳng thấy con lợn nào chạy qua đây cả!
(Lợn cưới, áo mới)
d. Ôi những vạt ruộng vàng
Chiều nay rung rinh lúa ngả.
(Nguyễn Đình Thi, Đường núi)

Văn bản 3

Đọc văn bản

Xe đêm

Trích, CÔN-XTAN-TIN PAU-XTỐP-XKI
Tóm tắt: An-đéc-xen (Andersen) cùng hai hành khách khác là một nhà tu hành, một thiếu phụ cùng đi trên chuyển xe đêm tìr Vơ-ni-do (Venice) đến Vê-rô-na (Verona). Trên đường đi, họ gặp ba cô gái muốn lên xe nhưng không có tiền, An-đéc-xen đã giúp trả tiền cho họ. Trên chuyển xe ấy, để góp vui, An-đéc-xen đã trò chuyện cùng các cô gái, thỉử tưởng tượng về cuộc sống, tiên đoàn về hạnh phúc và tương lai của họ,... Các cô gái say sưa lắng nghe. Đoạn trích dưới đây kể về cuộc đối thoại trên chuyến xe đêm ấy.
[...] Ngựa thả bước chậm rãi. Xe quả thật đã leo lên một sườn đồi.
Nhưng đêm không vì thế mà sáng hơn lên. Ngược lại, hàng du(1) già chạy dài hai bên đường càng thêm tối sẫm. Dưới những tán cây, bóng đêm lặng lặng, đặc lại, chỉ khẽ nghe tiếng thì thầm với nhau của lá cây và những giọt mưa.
An-đéc-xen hạ kính cửa sổ xuống. Một cành du ngó vào trong xe. Chàng ngắt vài chiếc lá làm kỉ niệm.
Như nhiều người có trí tưởng tượng sống động, chàng có cái thú lượm lặt trong những chuyến đi đủ thứ vặt vãnh. Những thứ vặt vãnh ấy có một đặc tính: Chúng làm sống dậy quá khứ, hồi sinh trọn vẹn tâm trạng từng trải nghiệm trong giây phút nhặt mảnh vỡ nào đó từ một bức tranh ghép, một chiếc lá du, hay một chiếc vòng sắt móng lừa.

  • “Đêm!” – An-đéc-xen thầm nhủ.

Lúc này, bóng đêm dễ chịu hơn ánh sáng ban ngày. Bóng tối cho ta được bình yên suy ngẫm về mọi điều. Và suy ngẫm chán rồi thì chàng có thể nghĩ ra đủ mọi câu chuyện khác nhau mà mình là nhân vật chính.
Trong những câu chuyện đó, An-đéc-xen hình dung mình thế nào cũng đẹp trai, trẻ trung, hoạt bát. Chàng hào phóng trải quanh mình những từ ngữ ngọt ngào, say đắm mà những nhà phê bình đa cảm gọi là “những đoá hoa của thi ca”.
Thực ra, chàng rất xấu trai và tự mình biết rõ điều đó. Chàng cao kều và nhút nhát. Tay chân lòng thòng như con rối xâu dây mà ở quê chàng trẻ con gọi là “ham-pen-man”.
Với những “phẩm chất” ấy chẳng mấy hư vọng được phụ nữ chú ý. Nhưng dù sao, trái tim cũng thắt đau mỗi khi những cô gái trẻ ngang qua mình như qua một cái cột đèn vô tri vô giác.
An-đéc-xen thiu thiu ngủ.

(1) Du. một loại cây thân gỗ được trồng nhiều ở vùng ôn đới, mép lá hình răng cưa, vỏ màu nâu xám.

Tỉnh giấc, chàng bắt gặp trước mắt một ngôi sao xanh màu lá. Nó toả sáng gần như sát mặt đất. Rõ là đêm đã khuya.
Xe đang dừng lại. Bên ngoài có tiếng lao xao. An-đéc-xen lắng tai nghe. Người đánh xe đang thoả thuận giá cả với mấy cô gái xin lên xe dọc đường.
Tiếng thương thuyết của mấy cô này giòn vang đến nỗi cuộc mặc cả nghe du dương như khúc ngâm từ một vở ca kịch cổ.
Người đánh xe không bằng lòng cho họ tới một thị trấn chắc là rất nhỏ bé nào đó với khoản tiền họ trả. Mấy cô gái tranh nhau nói rằng họ phải đi bằng được cả ba người và chẳng có thêm tiền nữa.

  • Thôi đi! – An-đéc-xen bảo người đánh xe. – Tôi sẽ trả nốt số tiền thiếu mà anh khăng khăng đòi bằng được. Và sẽ trả thêm, nếu anh thôi không ăn nói thô lỗ với khách và lảm nhảm vớ vẫn nữa.
  • Được rồi, mời các người đẹp lên xe – người đánh xe nói với các cô gái. – Hãy cảm ơn Đức Mẹ đã run rủi cho các cô gặp vị hoàng tử ngoại quốc quen tiêu xài hoang phí này. Ông ấy chẳng qua không muốn xe phải dừng lâu vì các cô. Chứ các cô với ông ấy báu lắm thì cũng chỉ như món mì năm ngoái khó nuốt mà thôi!
  • Giê-su-ma (Jesus), lạy Chúa tôi! – Ông thầy tu rên rỉ.

Các cô lại ngồi gần tôi cho ấm. – Thiếu phụ nói.
Mấy cô gái rì rầm với nhau, chuyền cho nhau đồ đạc, lên xe, chào hỏi, bẽn lẽn cảm ơn An-đéc-xen, rồi ngồi xuống và im bặt.
Xe sực lên mùi phó mát cừu và bạc hà. An-đéc-xen lờ mờ thấy những hạt thuỷ tinh ánh lên từ những cặp bông tai rẻ tiền của các cô gái.
Xe đi tiếp. Lại thấy tiếng sỏi lạo xạo dưới bánh. Các cô gái bắt đầu thì thầm trò chuyện.

  • Họ muốn biết ông là ai. – Thiếu phụ lên tiếng và An-đéc-xen đoán nàng đang mỉm cười trong bóng tối. – Có thật ông là một hoàng tử ngoại quốc không? Hay chỉ là một du khách nước ngoài thông thường?
  • Tôi là nhà tiên tri. – Không chút do dự, An-đéc-xen đáp. – Tôi biết đoán định tương lai và nhìn thấu được bóng tối. Nhưng tôi không phải là một thầy bói bịp bợm. Và, xin thưa, tôi cũng có thể coi là một hoàng tử bất hạnh từ cái cái xứ sở xưa kia Hăm-lét(1) (Hamlet) từng sống.
  • Vậy ông thấy được gì trong bóng tối thế này? – Một cô gái ngạc nhiên hỏi.
  • Như cô chẳng hạn. – An-đéc-xen trả lời. – Tôi thấy cô rõ đến nỗi trái tim tôi tràn đầy tình cảm ngưỡng mộ vẻ đẹp kiều diễm của cô.

(1) Hăm-lét. tên của nhân vật chính trong vở kịch Hăm-lét của Uy-li-am Sếch-xpia (Wiliam Shakespeare).

Chàng nói điều đó và cảm thấy mặt mình lạnh toát. Đã gần tới cái trạng thái mà chàng trải nghiệm mỗi lần sáng tác những bài thơ hay truyện cổ tích của mình.
Trạng thái ấy là sự hoà trộn của một thoáng ưu tư, một dòng tuôn chảy những từ ngữ chẳng rõ từ đâu tới, một cảm nhận bất ngờ về sức mạnh thi ca, về quyền lực của mình với trái tim con người.
Như trong một câu chuyện của chàng, nắp chiếc rương thần cũ kĩ bỗng bật tung ra với tiếng vang rền. Nơi đó ẩn chứa những suy nghĩ chưa thốt thành lời và những tình cảm còn ngủ yên, nơi đó có tất cả sự mê hồn của trái đất – tất cả những bông hoa của nó, tất cả màu sắc và âm thanh, những làn gió ngát hương, những khoảng mênh mông của biển cả, tiếng xào xạc của rừng, những dằn vặt của tình yêu và tiếng líu lo con trẻ.
An-đéc-xen không biết gọi trạng thái ấy là gì. Một số người gọi nó là cảm hứng sáng tạo, một số người khác thì gọi là trạng thái lâng lâng vui sướng, những người khác nữa thì gọi là trạng thái ứng tác xuất thần.

  • Tôi tỉnh giấc và nghe thấy giữa đêm khuya giọng nói của các cô. – Lặng đi một lát, chàng điềm đạm nói. – Các cô gái đáng yêu ơi, như thế cũng đủ để cho tôi biết rõ về các cô và còn hơn thế nữa, đủ để cho tôi yêu các cô như những cô em thân thiết dù chỉ trong thoáng chốc. Tôi trông thấy các cô rất rõ. Chẳng hạn như cô, cô là một cô gái có mái tóc sáng màu, phất phơ nhè nhẹ. Cô là cô gái hay cười và cô yêu tất thảy những gì sống động, thậm chí cả bầy sáo rùng sà xuống vai cô khi cô chăm sóc vườn rau.
  • Ôi, Ni-cô-li-na (Nicolina), ông ấy nói đằng ấy đấy! – Một trong số các cô gái lớn tiếng thì thào.

Cô có một trái tim nồng nhiệt, Ni-cô-li-na ạ. – An-đéc-xen vẫn điềm đạm nói tiếp. Nếu chẳng may có chuyện gì không lành xảy ra với người yêu của cô, cô sẽ chẳng đắn đo suy tính, lên đường, vượt qua ngàn dặm, qua núi tuyết và sa mạc khô cằn, để gặp chàng, cứu chàng khỏi cơn nguy khốn. Tôi nói đúng không nào?

  • Vâng, em sẽ đi chứ... – Ni-cô-li-na lúng búng, ngượng ngùng. – Nếu ông đã nghĩ như thế.

Tên các cô thế nào nhỉ? – An-đéc-xen hỏi.

  • Chúng em là Ni-cô-li-na, Ma-ri-a (Maria) và An-na (Anna). – Một cô sốt sắng trả lời thay các bạn.

Còn cô, Ma-ri-a, tôi thực không muốn nói về sắc đẹp của cô. Tôi nói tiếng Ý không thạo. Nhưng từ lúc thiếu thời tôi đã nguyện với thần thi ca rằng tôi sẽ ca tụng cái đẹp ở bất cứ nơi nào tôi gặp.

  • Giê-su-ma, lạy Chúa tôi! – Ông thầy tu lầm bầm. – Ông này bị nhện độc cắn rồi. Ông ấy đúng là mất trí.

Có những người phụ nữ sở hữu sắc đẹp mê hồn thực sự. Hầu như khi nào họ cũng là những người bản tính kín đáo. Họ giấu kín trong lòng một niềm đam mê bỏng cháy. Niềm đam mê đó như từ bên trong làm cháy bùng gương mặt họ. Cô là một người như thế đấy, Ma-ri-a ạ. Số mệnh những người phụ nữ như thế thật khác thường. Hoặc rất buồn, hoặc là rất hạnh phúc.
Ông đã gặp những người phụ nữ như thế bao giờ chưa? – Thiếu phụ hỏi.
Trước đây thì chưa, nhưng bây giờ tôi đã gặp. – An-đéc-xen trả lời. – Tôi không phải chỉ nói về Ma-ri-a, mà cả về bà nữa, thưa bà.

  • Tôi mong rằng ông nói thế không phải cốt cho đêm dài chóng qua. – Thiếu phụ nói, giọng run run. – Điều đó thật là tàn nhẫn đối với cô gái đáng yêu này. Và cả với tôi – nàng nói thêm khe khẽ.

Chưa khi nào tôi nghiêm túc như vào giây phút này, thưa bà.
Thế là thế nào? – Ma-ri-a hỏi. – Em sẽ được hạnh phúc? Hay là không?
Cô mong muốn nhận được rất nhiều từ cuộc sống, mặc dù chỉ là một cô gái quê bình dị. Bởi vậy mà cô không dễ dàng có được hạnh phúc. Nhưng rồi trong cuộc sống, cô sẽ gặp được một người xứng đáng với trái tim nhiều mong muốn của cô. Người cô chọn tất nhiên phải là một người tuyệt vời. Có thể đó là một hoạ sĩ, nhà thơ, người chiến sĩ đấu tranh cho tự do của nước Ý... Mà cũng có thể đó chỉ là một chàng chăn cừu bình dị hay một thuỷ thủ, nhưng thế nào cũng sẽ phải là người có một tâm hồn lớn lao. Suy cho cùng, với tâm hồn như thế, họ giống nhau cả thôi.

  • Thưa ông – Ma-ri-a thẹn thùng nói. – Em không trông rõ ông, vì thế em cứ hỏi mà không xấu hổ. Em phải làm gì, nếu một người như thế đã làm chủ trái tim em rồi? Em mới gặp chàng có vài bận, thậm chí cũng chẳng biết chàng bây giờ ở đâu.

Cô hãy tìm chàng! – An-đéc-xen nói lớn. – Rồi cô sẽ tìm thấy, và chàng thế nào cũng sẽ yêu cô.
Ma-ri-a! - An-na vui mừng nói. – Thì chính là cái anh chàng hoạ sĩ trẻ ở Vê-rô-na đấy chứ ai...
Im nào! – Ma-ri-a mắng át đi.
Vê-rô-na chẳng phải là một thành phố lớn đến nỗi không tìm nổi một người. Thiếu phụ nói. – Cô nhớ lấy tên tôi nhé. Tôi là E-lê-na Guýt-chi-ô-li (Elena Guiccioli). Tôi sống ở Vê-rô-na. Người Vê-rô-na nào cũng có thể chỉ đường cho cô tới nhà tôi. Ma-ri-a, cô cứ tới Vê-rô-na. Và cô cứ ở nhà tôi cho tới khi nào hạnh phúc đến với cô như người bạn đường đáng yêu của chúng ta tiên đoán.
Ma-ri-a tìm thấy bàn tay E-lê-na trong bóng tối và áp lên gò má nóng sực của mình.

Tất cả lặng yên. An-đéc-xen nhận thấy ngôi sao xanh đã tắt. Nó đã lặn xuống sau đường chân trời. Nghĩa là đã quá nửa đêm.

  • Kìa, sao ông không đoán gì cho em cả? – An-na, cô gái nhanh mồm nhanh miệng nhất nhóm hỏi.

Cô sẽ có nhiều con An-đéc-xen quả quyết đáp. – Chúng nó sẽ xúm xít quanh bình sữa. Cô sẽ phải mất nhiều thời giờ để tắm rửa và chải đầu cho chúng. Chồng tương lai của cô sẽ đỡ cô một tay trong việc đó.
Có phải là Pi-e-tơ-rô (Pietro) không ông? – An-na hỏi. – Em mà lại cần cái gã vụng về ấy đỡ một tay ấy à!
Rồi cô sẽ còn phải mất nhiều thời giờ nữa để thơm vài lần trong một ngày lên những con mắt long lanh hồn nhiên của hết thảy những cậu bé, cô bé tí hon của cô.

  • Trong lãnh địa của Giáo hoàng(1) không thể tưởng tượng được những lời lẽ điên rồ như thế! – Nhà tu hành bực bội phản ứng, nhưng chẳng ai để ý tới lời nói của ông ta.

Mấy cô gái lại thầm thì với nhau chuyện gì đó. Tiếng thì thầm của họ chốc chốc lại chen với tiếng cười. Cuối cùng Ma-ri-a nói:
Thưa ông, bây giờ chúng em muốn biết ông là người thế nào. Chúng em thì lại không biết nhìn trong bóng tối.
Tôi là một nhà thơ lang thang – An-đéc-xen đáp. – Tôi còn trẻ. Tôi có mái tóc rậm, lượn sóng và gương mặt tôi rám nắng. Đôi mắt xanh của tôi hầu như lúc nào cũng ánh cười bởi tôi không có mối bận tâm nào và tôi còn chưa yêu ai cả. Công việc duy nhất của tôi là làm ra những món quà nhỏ bé tặng mọi người và có những hành vì nông nổi cốt sao cho những người gần gũi được vui.
Thí dụ như những hành vi thế nào, thưa ông? – E-lê-na hỏi.
Kể chuyện gì cho bà nghe nhỉ? Mùa hè năm ngoài tôi ở nhà người gác rừng quen ở xứ Giuýt-len (Jutland)(2). Một hôm tôi dạo chơi trong rừng và tới một khoảng rừng thưa có rất nhiều nấm. Ngay ngày hôm đó tôi trở lại khoảng rừng ấy và giấu dưới mỗi cây nấm chỗ thì một cái kẹo bọc giấy bạc, chỗ thì một quả chà là, chỗ thì một bó hoa tí xíu bằng sáp, hay một cái bao tay và một dải băng lụa. Sáng hôm sau tôi rủ con gái người gác rừng tới đó. Cháu bé lên bảy. Thế là dưới mỗi gốc nấm cháu tìm thấy những vật bé nhỏ lạ kì kia. Chỉ thiếu có quả chà là. Hẳn một chú quạ nào đã tha đi mất. Ô, giá bà được trông thấy ánh mắt cô bé cháy rực lên niềm vui sướng! Tôi quả quyết với cháu rằng tất cả những thứ ấy là do những chú lùn cất giấu.

  • Ông đã đánh lừa một sinh thể ngây thơ! – Nhà tu hành phẫn nộ. – Đó là một tội lỗi lớn.

(1) Giáo hoàng: người đứng đầu giáo hội La Mã của đạo Cơ Đốc.
(2) Giuýt-len: bán đảo ở Bắc Âu, thuộc về Đan Mạch.

  • Không đâu, đó chẳng phải chuyện đánh lừa. Cô bé sẽ ghi nhớ kỉ niệm ấy suốt đời. Và tôi xin quả quyết với cha rằng, trái tim bé sẽ không dễ bị trơ lì như với những người chưa từng chứng kiến chuyện cổ tích như thế. Ngoài ra, tôi xin lưu ý đức cha rằng tôi không có thói quen chịu đựng những lời răn dạy sấn số.

Xe dừng lại. Các cô gái ngồi không nhúc nhích như bị mê hoặc. E-lê-na Guýt-chi-ô-li im lặng, mái đầu nghiêng xuống.
Người đánh xe kêu lên:

  • Này, các nàng đẹp xinh ơi! Tỉnh dậy thôi nào! Đến nơi rồi!

(Côn-xtan-tin Pau-xtốp-xki, Xe đêm, Đỗ Hải Phong dịch, tạp chí Viết và Đọc, Chuyên đề mùa thu, tháng 9/2022, tr. 337 – 343)

Sau khi đọc

  • Côn-xtan-tin Pau-xtốp-xki (1892 – 1968) là nhà văn Nga nổi tiếng. Truyện ngắn của ông mang chất thơ nhẹ nhàng, tinh tế, khơi dậy ở người đọc sự rung cảm trước những vẻ đẹp bình dị, khuất lấp, dễ bị lãng quên trong cuộc sống. Một số tác phẩm của ông đã được dịch ra tiếng Việt: Cô gái làm ren (1958), Chiếc nhẫn bằng thép (1973), Một mình với mùa thu (1984), Câu chuyện phương Bắc (1987), Chuyện kể về cuộc đời (2012),... nhưng nổi tiếng nhất là tập truyện ngắn Bông hồng vàng (1961) nói về công việc lao động sáng tạo của nhà văn.
  • Xe đêm là một trong những truyện ngắn tiêu biểu của Pau-xtốp-xki. Truyện gửi gắm thông điệp về sức mạnh của trí tưởng tượng và ảnh hưởng của nó trong văn chương cũng như trong đời sống.

Trả lời câu hỏi

1

Chân dung nhân vật An-đéc-xen hiện lên qua những chi tiết nào? Hãy nêu nhận xét của em về nhân vật.

2

An-đéc-xen đã tiên đoán như thế nào về tương lai của các cô gái mới quen? Qua đó, em nhận ra mong ước, tình cảm gì của ông dành cho những cô gái ấy?

3

Theo An-đéc-xen kể lại, ông đã mang đến niềm vui cho cháu bé trong gia đình kiểm lâm xứ Giuýt-len. Em có đồng tình với ý kiến “trái tim bé sẽ không dễ bị trơ lì như với những người chưa từng chứng kiến chuyện cổ tích như thế” không? Vì sao?

4

Truyện cổ An-đéc-xen đã chinh phục hàng triệu trái tim độc giả. Theo em, trí tưởng tượng đã giúp ích như thế nào cho An-đéc-xen trong việc viết truyện cổ tích?

5

Qua đoạn trích, em nhận ra tình cảm, thái độ gì của nhà văn Pau-xtốp-xki đối với nhà văn An-đéc-xen?

6

Theo em, nghệ thuật của đoạn trích có gì nổi bật?

Viết

Viết bài văn phân tích một tác phẩm (truyện)

Mỗi tác phẩm văn học là một thế giới nghệ thuật sống động, thu hút sự khám phá, giải mã của người đọc. Việc phân tích tác phẩm giúp ta hiểu sâu sắc hơn về vẻ đẹp của nghệ thuật ngôn từ và những thông điệp mà tác giả gửi gắm. Trong bài 6. Chân dung cuộc sống, em đã được hướng dẫn cách viết bài văn phân tích một tác phẩm truyện. Phần Viết của bài học này sẽ tiếp tục hướng dẫn em cách viết kiểu bài trên để củng cố và nâng cao kiến thức, kĩ năng đã học.

Yêu cầu:

  • Giới thiệu tác phẩm truyện (nhan đề, tác giả) và nêu ý kiến khái quát về tác phẩm.
  • Nêu ngắn gọn nội dung chính của tác phẩm.
  • Nêu được chủ đề của tác phẩm.
  • Chỉ ra và phân tích được tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm (như cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôi kể, ngôn ngữ,...), tập trung vào một số yếu tố nghệ thuật nổi bật nhất của tác phẩm.
  • Sử dụng các bằng chứng từ tác phẩm để làm sáng tỏ ý kiến nêu trong bài viết.
  • Nêu được ý nghĩa, giá trị của tác phẩm truyện.

Phân tích bài viết tham khảo

Bức tranh của em gái tôi – lời tự thú chân thành

Tạ Duy Anh là nhà văn từng viết những tác phẩm đề cập tới nhiều vấn đề xã hội mang tính thời sự gai góc như Bước qua lời nguyên, Lão Khô, Thiên thần sám hối,... Đồng thời, ông cũng là cây bút đã dành cho thiếu nhi những truyện ngắn thật dễ thương. Ở loạt truyện viết cho thiếu nhi của ông, ta bắt gặp một kiểu viết giản dị, gọn gàng và đầy trìu mến. Dường như trong mắt Tạ Duy Anh, tuổi thơ là khoảng thời gian đẹp đẽ, trong trẻo nhất của mỗi người. Có thể thấy rõ điều này qua truyện ngắn Bức tranh của em gái tôi.

Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm và nêu ý kiến khái quát về tác phẩm.

Truyện kể về Kiều Phương, em gái của “tôi”. Kiều Phương là một cô bé có tài hội hoạ thiên bẩm. Tài năng của em được phát hiện khi một hoạ sĩ là bạn của bỏ đen chơi. Biết em gái có năng khiếu, “tôi” cảm thấy ghen tị và mặc cảm. Nhờ chú hoạ sĩ giới thiệu, Kiều Phương tham dự cuộc thi vẽ tranh quốc tế và đoạt giải Nhất. Lúc này, “tôi” mới biết: Em gái giành giải Nhất

Nêu ngắn gọn nội dung chính và chủ đề của tác phẩm.

với bức tranh vẽ anh trai mình. Nhân vật trong tranh đẹp một cách hoàn hảo. Bây giờ, “tôi” mới nhận ra em gái không chỉ có tài năng, mà còn có tâm hồn trong sáng, nhân hậu. Trong câu chuyện giản dị này, nhà văn Tạ Duy Anh đã thể hiện một cách tinh tế vẻ đẹp của nhân vật em gái, sự ăn năn thức tỉnh của nhân vật anh trai, từ đó đặt ra nhiều vấn đề đáng suy ngẫm về tâm lí tuổi mới lớn và mối quan hệ ứng xử trong gia đình.

Dùng lí lẽ, bằng chứng để chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm.

Bức tranh của em gái tôi thu hút người đọc trước hết bởi nghệ thuật xây dụng nhân vật. Hai nhân vật Kiều Phương và “tôi” hiện lên trong tương quan đối sánh, bổ sung, soi chiếu cho nhau để lại ấn tượng sâu sắc cho người đọc. Nhân vật Kiều Phương chủ yếu được khắc hoạ qua lời nói, cử chỉ, hành động. Em giống như một thiên thần nhỏ hồn nhiên, trong trẻo, vô tư, dành tình cảm ấm áp cho mọi người và những con vật, đồ vật xung quanh. Hẳn vì thế mà mọi thứ trong ngôi nhà đều được em đưa vào tranh bằng những nét vẽ ngộ nghĩnh, đáng yêu. Và không có gì khó hiểu khi bức tranh giành giải Nhất trong cuộc thi quốc tế của em lại vẽ chính người anh trai từng có lúc thể hiện thái độ khó chịu, thậm chí không ít lần quở mắng em vô cớ. Hoá ra, dù thế nào thì người anh vẫn rất đáng quý trong cảm nhận của cô bé.

Phân tích tác dụng của nghệ thuật thể hiện tâm lí nhân vật "tôi".

Khác với em gái, nhân vật anh trai được tập trung khắc hoạ rõ nét hơn về tâm lí. Ở đầu truyện, mối quan hệ giữa hai anh em vô cùng thân thiết, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và giới tính. Nhân vật anh trai chú ý tới từng hành động nhỏ nhặt của em gái, từ việc thích thú lục lọi đồ đạc trong nhà đến cách chế thuốc vẽ lạ đời. Sự tò mò ấy cũng là một kiểu quan tâm. Bước ngoặt trong tâm lí của người anh bắt đầu từ lúc tài năng hội hoạ của em được phát hiện. Trước niềm tự hào của bố mẹ, “tôi” lần đầu tiên trong đời cảm thấy mình “bị đẩy ra ngoài”. Trộm xem tranh của em khiến người anh “lén trút ra một tiếng thở dài” – cái tiếng thở dài chứa đựng nhiều tâm sự khó nói thành lời. Khi em gái được mọi người tạo điều kiện phát triển năng khiếu vẽ, tâm trạng “tôi” đã có những biểu hiện khác thường. Cái mặt lem nhem, bị quát thì “xịu xuống”, “miệng dầu ra” của em gái trước đây “tôi” thấy ngồ ngộ, thì giờ đây “như chọc tức”; việc quan sát anh một cách kĩ lưỡng trước lúc đi tham dự cuộc thi của em “khiến tôi khó chịu”; em sung sướng ôm cổ anh khi nhận được tin vui thì anh “viện có đang dở việc” đẩy nhẹ em ra... Tâm trạng này đã dồn nhân vật vào một tình thế bức bối khó giải toả. Nhưng, điều đó đã được giải quyết một cách bất ngờ và khéo léo. “Tôi” không thể đoán trước rằng, tác phẩm giành giải Nhất của em lại vẽ chính anh trai mình với vẻ đẹp lạ lùng, hoàn hảo. Kết thúc truyện, người anh vỡ lẽ ra một điều quan trọng: trong tranh không phải là mình, mà là tâm hồn, lòng nhân hậu của em gái. Cảm nhận về bức tranh đã đánh dấu sự trưởng thành trong nhận thức và tình cảm của nhân vật.

Phân tích tác dụng của nghệ thuật sử dụng ngôi kể.

Không phải ngẫu nhiên, truyện được kể từ ngôi thứ nhất. Anh trai – người kể chuyện xung “tôi” – không chỉ chứng kiến mà còn tham dự vào các sự kiện của câu chuyện. Khác với kiểu người kể chuyện ngôi thứ ba, nhân vật người kể chuyện ngôi thứ nhất không thể biết hết mọi điều. Chỉ tiết bức tranh Anh trai tôi ở phần cuối của

truyện, do đó trở nên bất ngờ đối với chính đối tượng được vẽ. Xét ở khía cạnh nghệ thuật khắc hoạ nhân vật em gái, việc chọn ngôi kể này cũng có tác dụng: Dưới cái nhìn xét nét, đố kị của người anh, em gái hẳn sẽ “bất lợi”, nhưng cũng vì thế mà hình ảnh em lại hiện lên chân thực hơn. Tuy nhiên, quan trọng hơn, dùng lời kể ở ngôi thứ nhất, tâm trạng của nhân vật “tôi” mới được bộc lộ sâu sắc và chân thực. Sự tự thể hiện và tự phân tích của “tôi” khiến người đọc như đang nghe một bản tự thú chân thành. Bài học về tình cảm, về cách ứng xử với người thân trong gia đình, nhờ đó, toát ra thật tự nhiên.

Khẳng định tâm huyết, tài năng của tác giả và ý nghĩa giá trị của tác phẩm.

Bức tranh của em gái tôi là món quà ý nghĩa mà nhà văn Tạ Duy Anh gửi đến bạn đọc thiếu nhi. Để viết được một truyện như vậy, ngoài tình cảm yêu mến dành cho các bạn trẻ, tác giả còn phải thực sự am hiểu tâm lí tuổi mới lớn – lứa tuổi đã bắt đầu bót hồn nhiên bởi sự xuất hiện những rắc rối rất cần được quan tâm giải quyết. Ngôn ngữ trong sáng, cốt truyện đơn giản nhưng thắt mở hợp lí, lối mở truyện tự nhiên và kết truyện bất ngờ, đặc biệt là nghệ thuật xây dụng nhân vật, cách lựa chọn ngôi kể – đó là những yếu tố góp phần tạo nên đặc sắc của truyện ngắn này.

(Nhóm biên soạn)

Thực hành viết theo các bước

Trước khi viết

Lựa chọn đề tài

Tham khảo các đề tài sau:

  • Sức hấp dẫn của đoạn trích Xe đêm của Pau-xtốp-xki.
  • Những nét đặc sắc của truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê.
  • Giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Đi lấy mật, trích Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi.
Mục đích viết

Phân tích để làm rõ một số nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, thuyết phục người đọc đồng tình với ý kiến của em về tác phẩm đó.

Người đọc

Những người quan tâm đến thể loại truyện hoặc có nhu cầu hiểu sâu hơn về tác phẩm truyện được phân tích.

Tìm ý

Có thể tìm ý bằng cách đặt và trả lời các câu hỏi xoay quanh tác phẩm. Từ việc phân tích bài viết tham khảo, em có thể rút ra những kinh nghiệm trong việc xác định ý cho đề tài mà em đã chọn.

Nội dung của truyện là gì? Nội dung ấy được thể hiện như thế nào qua hệ thống nhân vật, sự kiện?

Bài viết tham khảo đã nêu ngắn gọn nội dung chính của truyện. Nội dung ấy được thể hiện qua hai nhân vật chính là “tôi” và Kiều Phương, đồng thời thể hiện qua một số sự kiện chính như: chú hoạ sĩ đến chơi và phát hiện ra tài năng của Kiều Phương, Kiều Phương đi thi vẽ tranh quốc tế và đoạt giải Nhất.

  • Chủ đề của truyện là gì?

Khi phân tích một tác phẩm truyện, em cần khái quát được chủ đề. Ví dụ: Chủ đề truyện Bức tranh của em gái tôi là ca ngợi tài năng, lòng nhân hậu, tâm hồn trong sáng của nhân vật Kiều Phương, sự ăn năn thức tỉnh của nhân vật “tôi”, từ đó đặt ra vấn đề tâm lí của lứa tuổi mới lớn và mối quan hệ ứng xử trong gia đình.

Truyện có những đặc điểm nổi bật nào về hình thức nghệ thuật? Những đặc điểm ấy có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện nội dung?
Em không nhất thiết phải phân tích hết các phương diện nghệ thuật của truyện mà nên đi sâu khai thác một số yếu tố đặc sắc, tiêu biểu. Phân tích có diện, có điểm sẽ khiến bài viết không bị dàn trải và có chiều sâu. Ví dụ, trong các yếu tố nghệ thuật của Bức tranh của em gái tôi, bài viết tham khảo đã tập trung khai thác nghệ thuật thể hiện tâm lí nhân vật, tác dụng của ngôi kể thứ nhất.

Ý nghĩa của truyện là gì?
Mỗi tác phẩm đều gửi gắm thông điệp của nhà văn về con người, cuộc sống. Người đọc cần khám phá thế giới nghệ thuật sống động trong tác phẩm để nhận ra thông điệp ấy. Bài viết tham khảo đã phân tích lời tự thú chân thành của nhân vật “tôi”, qua đó, giúp người đọc thấy được: trong quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, sự thấu hiểu, yêu thương, gắn bó là điều quan trọng nhất. Đó chính là thông điệp của truyện ngắn này.

Lập dàn ý

Từ các ý đã tìm được, em hãy sắp xếp một dàn ý hợp lí.

Dàn ý
  • Mở bài: Giới thiệu ngắn gọn về tác phẩm (nhan đề, tác giả); nêu ý kiến khái quát về tác phẩm.
  • Thân bài:

+ Nêu nội dung chính của tác phẩm.
+ Nêu chủ đề của tác phẩm.
+ Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm.

  • Kết bài: Khẳng định ý nghĩa, giá trị của tác phẩm.

Viết bài

Dựa vào dàn ý, triển khai bài viết theo hệ thống luận điểm đã xây dựng. Xác định rõ mục đích viết bài văn phân tích tác phẩm truyện để không viết theo lối kể chuyện hay nêu cảm nghĩ về câu chuyện đã đọc.

Mỗi luận điểm cần được làm sáng tỏ bằng các lí lẽ, bằng chứng. Khi phân tích, cần bám sát sự kiện, nhân vật, ngôi kể, ngôn ngữ,... Chú ý phân tích có diện, có điểm, lựa chọn được các yếu tố đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm để đi sâu khai thác.

truyện, do đó trở nên bất ngờ đối với chỉnh đối tượng được vẽ. Xét ở khía cạnh nghệ thuật khắc hoạ nhân vật em gái, việc chọn ngôi kể này cũng có tác dụng: Dưới cái nhìn xét nét, đố kị của người anh, em gái hẳn sẽ “bất lợi”, nhưng cũng vì thế mà hình ảnh em lại hiện lên chân thực hơn. Tuy nhiên, quan trọng hơn, dùng lời kể ở ngôi thứ nhất, tâm trạng của nhân vật “tôi” mới được bộc lộ sâu sắc và chân thực. Sự tự thể hiện và tự phân tích của “tôi” khiến người đọc như đang nghe một bản tự thú chân thành. Bài học về tình cảm, về cách ứng xử với người thân trong gia đình, nhờ đó, toát ra thật tự nhiên.

Bức tranh của em gái tôi là món quà ý nghĩa mà nhà văn Tạ Duy Anh gửi đến bạn đọc thiếu nhi. Để viết được một truyện như vậy, ngoài tình cảm yêu mến dành cho các bạn trẻ, tác giả còn phải thực sự am hiểu tâm lí tuổi mới lớn – lứa tuổi đã bắt đầu bót hồn nhiên bởi sự xuất hiện những rắc rối rất cần được quan tâm giải quyết. Ngôn ngữ trong sáng, cốt truyện đơn giản nhưng thắt mở hợp lí, lối mở truyện tự nhiên và kết truyện bất ngờ, đặc biệt là nghệ thuật xây dụng nhân vật, cách lựa chọn ngôi kể – đó là những yếu tố góp phần tạo nên đặc sắc của truyện ngắn này.

(Nhóm biên soạn)

1 trước khi viết

a. Lựa chọn đề tài

Tham khảo các đề tài sau:

  • Sức hấp dẫn của đoạn trích Xe đêm của Pau-xtốp-xki.
  • Những nét đặc sắc của truyện ngắn Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê.
  • Giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Đi lấy mật, trích Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi.

b. Tìm ý

Có thể tìm ý bằng cách đặt và trả lời các câu hỏi xoay quanh tác phẩm. Từ việc phân tích bài viết tham khảo, em có thể rút ra những kinh nghiệm trong việc xác định ý cho đề tài mà em đã chọn.

Nội dung của truyện là gì? Nội dung ấy được thể hiện như thế nào qua hệ thống nhân vật, sự kiện?

Bài viết tham khảo đã nêu ngắn gọn nội dung chính của truyện. Nội dung ấy được thể hiện qua hai nhân vật chính là “tôi” và Kiều Phương, đồng thời thể hiện qua một số sự kiện chính như: chú hoạ sĩ đến chơi và phát hiện ra tài năng của Kiều Phương, Kiều Phương đi thi vẽ tranh quốc tế và đoạt giải Nhất.

Chủ đề của truyện là gì?

Khi phân tích một tác phẩm truyện, em cần khái quát được chủ đề. Ví dụ: Chủ để truyện Bức tranh của em gái tôi là ca ngợi tài năng, lòng nhân hậu, tâm hồn trong sáng của nhân vật Kiều Phương, sự ăn năn thức tỉnh của nhân vật “tôi”, từ đó đặt ra vấn đề tâm lí của lứa tuổi mới lớn và mối quan hệ ứng xử trong gia đình.

Truyện có những đặc điểm nổi bật nào về hình thức nghệ thuật? Những đặc điểm ấy có tác dụng như thế nào trong việc thể hiện nội dung?

Em không nhất thiết phải phân tích hết các phương diện nghệ thuật của truyện mà nên đi sâu khai thác một số yếu tố đặc sắc, tiêu biểu. Phân tích có diện, có điểm sẽ khiến bài viết không bị dàn trải và có chiều sâu. Ví dụ, trong các yếu tố nghệ thuật của Bức tranh của em gái tôi, bài viết tham khảo đã tập trung khai thác nghệ thuật thể hiện tâm lí nhân vật, tác dụng của ngôi kể thứ nhất.

Ý nghĩa của truyện là gì?

Mỗi tác phẩm đều gửi gắm thông điệp của nhà văn về con người, cuộc sống. Người đọc cần khám phá thế giới nghệ thuật sống động trong tác phẩm để nhận ra thông điệp ấy. Bài viết tham khảo đã phân tích lời tự thú chân thành của nhân vật “tôi”, qua đó, giúp người đọc thấy được: trong quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, sự thấu hiểu, yêu thương, gắn bó là điều quan trọng nhất. Đó chính là thông điệp của truyện ngắn này.

c. Lập dàn ý

Từ các ý đã tìm được, em hãy sắp xếp thành một dàn ý hợp lí.

2 viết bài

Dựa vào dàn ý, triển khai bài viết theo hệ thống luận điểm đã xây dựng. Xác định rõ mục đích viết bài văn phân tích tác phẩm truyện để không viết theo lối kể chuyện hay nêu cảm nghĩ về câu chuyện đã đọc.

Mỗi luận điểm cần được làm sáng tỏ bằng các lí lẽ, bằng chứng. Khi phân tích, cần bám sát sự kiện, nhân vật, ngôi kể, ngôn ngữ,... Chú ý phân tích có diện, có điểm, lựa chọn được các yếu tố đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm để đi sâu khai thác.

3 chỉnh sửa bài viết

Với bài viết phân tích tác phẩm truyện, cần tập trung vào một số vấn đề sau:

  • Nếu chưa giới thiệu được tác giả, tác phẩm hoặc chưa nêu được ý kiến khái quát về tác phẩm thì bổ sung.
  • Nếu chưa nêu được hoặc nêu chưa rõ, chưa chính xác nội dung chính và chủ đề của truyện thì bổ sung, chỉnh sửa.
  • Đọc lại những đoạn văn chỉ ra và phân tích tác dụng của một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm, gạch dưới các câu thể hiện ý chính của đoạn. Nếu có yếu tố nghệ thuật cần được làm nổi bật hơn nữa thì tập trung phân tích sâu yếu tố đó để không rơi vào tình trạng phân tích dàn trải.

Nói và nghe

Trình bày ý kiến về một vấn đề xã hội (văn học trong đời sống hiện nay)

Từ xưa đến nay, văn học luôn song hành, gắn bó mật thiết với con người và đời sống xã hội. Tuy nhiên, ở mỗi thời kì và ở mỗi người, cách nhìn nhận, suy nghĩ về vai trò của văn học lại có những điểm khác biệt. Hiện nay, nhiều người quan niệm văn học vẫn có vai trò quan trọng trong đời sống, nhưng cũng có không ít ý kiến cho rằng, giá trị của văn học đã bị giảm đi trước sự cạnh tranh của các phương tiện nghe nhìn. Hãy trình bày ý kiến của em về vấn đề này.

1 trước khi nói

  • Xác định nội dung nói: văn văn học học trong trong đời đời sống sống hiện hiện nay.
  • Thu thập tư liệu và tìm ý:

+ Tìm kiếm các tư liệu về vai trò, vị trí của văn học; cơ hội và thách thức của văn học trong đời sống hiện nay.

Mục đích nói

Thuyết phục người nghe đồng tình với ý kiến của em về vai trò của văn học trong đời sống hiện nay.

Người nghe

Những người yêu thích văn học, có nhu cầu tìm hiểu vai trò của văn học trong đời sống.

+ Tập trung suy nghĩ về một số vấn đề và đặt ra các câu hỏi để tìm ý như: Văn học có còn quan trọng trong đời sống hiện nay không? Trước sự phổ biến của các phương tiện nghe nhìn, văn học có gặp phải thách thức gì không? Văn học đem đến cho người đọc nhận thức gì về đời sống, xã hội, con người? Văn học khiến con người có thái độ ra sao trước cái đúng, cái sai, cái tốt, cái xấu? Vì sao có thể nói văn học có khả năng đánh thức những rung cảm trước cái đẹp của con người?...

  • Xây dựng dàn ý bài nói: xác định các luận điểm, sử dụng các lí lẽ, bằng chứng làm sáng tỏ vấn đề.
  • Dự kiến các ý kiến phản biện của người nghe để chuẩn bị trao đổi, đối thoại.

2 trình bài bài nói

  • Trình bày bài nói theo nội dung đã được chuẩn bị:

+ Nêu vấn đề, khẳng định tầm quan trọng của văn học đối với đời sống và những thách thức đặt ra cho văn học trong bối cảnh hiện nay.
+ Trình bày các luận điểm triển khai vấn đề (có thể xác định luận điểm dựa vào vai trò, vị trí của văn học, thách thức của văn học trong đời sống hiện nay,...).
+ Dùng lí lẽ, bằng chứng để làm sáng tỏ luận điểm.

  • Điều chỉnh giọng nói, cử chỉ, nét mặt, ánh mắt,... phù hợp với nội dung nói; có thể kết hợp các phương tiện hỗ trợ (tranh, ảnh, đoạn phim ngắn,...) để phần trình bày thêm sinh động.

3 sau khi nói

Người nói và người nghe cùng trao đổi về các vấn đề sau:

  • Nội dung và cách thức trình bày của người nói (đánh giá tính thuyết phục của hệ thống luận điểm, lí lẽ, bằng chứng; nhận xét về cách nói, giọng nói, cách sử dụng các phương tiện phi ngôn ngữ,...).
  • Ý kiến và cách phản biện của người nghe (đánh giá tính xác đáng, hợp lí của ý kiến; nội dung phản biện; cách tiếp nhận ý kiến của người nói).
  • Thái độ và sự tương tác giữa người nói và người nghe (đánh giá sự tôn trọng đối với người đối thoại, mức độ tương tác: tích cực hay rời rạc,...).

Củng cố, mở rộng

1.

Kẻ bảng vào vở theo mẫu sau và điền thông tin phù hợp:
Văn bản | Luận để
| Luận điểm
Nhà thơ của quê hương
làng cảnh Việt Nam | | Luận điểm 1:
Luận điểm 2:
Đọc văn - cuộc chơi tìm
| | Luận điểm 1:
ý nghĩa
| | Luận điểm 2:

2.

Từ hai văn bản Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam và Đọc văn – cuộc chơi tìm ý nghĩa, hãy rút ra đặc điểm cơ bản của văn bản nghị luận văn học.

3.

Chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa văn bản nghị luận xã hội và văn bản nghị luận văn học.

4.

Mỗi người đọc với sự khác biệt về lứa tuổi, nhận thức, trải nghiệm,... sẽ có những cách cảm nhận, đánh giá khác nhau về tác phẩm văn học.

Hãy viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) với câu chủ đề trên, trong đoạn văn có sử dụng ít nhất hai thành phần biệt lập.

Thực hành đọc

Khi đọc văn bản dưới đây, em cần chú ý những vấn đề sau:
Luận đề của văn bản.
Các luận điểm triển khai luận đề.
Cách nêu lí lẽ, bằng chứng để làm sáng tỏ luận điểm.
Bằng chứng khách quan và ý kiến đánh giá chủ quan của người viết.

Nắng mới – sự thành thực của một tâm hồn giàu mơ mộng

LÊ QUANG HƯNG (2)

Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã bộc lộ thành thực một tâm trạng:
“Dầu có ưa thơ người này người khác, mỗi lúc buồn đến, tôi lại trở về với Lưu Trọng Lư Có những bài thơ cứ vương vấn trong trí tôi hàng tháng, lúc nào cũng như văng vẳng bên tai. Bởi vì thơ Lư nhiều bài thực không phải là thơ, nghĩa là những công trình nghệ thuật, mà chính là tiếng lòng thổn thức cùng hoà theo tiếng thổn thức của lòng ta”.

Khi viết những dòng ấy, chắc hẳn nhà phê bình có nghĩ đến bài Nắng mới.

Trong cuộc đời mỗi con người, ai mà chẳng có tình cảm mẹ con. Bao kỉ niệm tươi vui và đau buồn của tình cảm ấy không ít khi làm cho ta thổn thức. Nắng mới đã rọi vào cái tình cảm muôn thuở mà bao giờ cũng mới mẻ ấy. Bài thơ có chất mộng của hoài niệm, của tâm trạng “chập chờn sống lại” nhưng rất thành thực, thành thực đến mức kì lạ. Nắng mới đã hội tụ được những vẻ đẹp nơi tâm hồn thơ Lưu Trọng Lư thành thực phiêu lưu trong cõi mộng, cứ để lòng mình tràn lan trên mặt giấy.

(1) Nhan đề do người biên soạn đặt.
(2) Lê Quang Hưng sinh năm 1956, quê ở Hà Tĩnh, là giảng viên, nhà nghiên cứu phê bình văn học. Một số công trình tiêu biểu: Thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu thời kì trước Cách mạng tháng Tám (2002); Những quan điểm, những thế giới nghệ thuật văn chương (2018).

Bài thơ được cấu tử theo một mô-típ khá “cổ điển”: từ một điểm gọi hứng ở hiện tại nhớ về dĩ vãng xa xưa. Kể cũng lạ: một tay tranh luận, một nhà diễn thuyết hùng hồn từng hăng hái cổ vũ cho Thơ mới như Lưu Trọng Lư mà khi sáng tác lại khá chừng mực. Người thanh niên có khi dõng dạc, to tiếng (đến hơi quá đáng) ấy lại hay mơ màng trong bao vần thơ êm ái ru ta về quá khứ xa xưa với những không gian huyền diệu.

Hai chữ “nắng mới vừa ghi nhận một thời điểm đặc biệt trên dòng chảy thời gian vừa diễn tả không gian. Cái nắng đầu mùa, mỗi năm chỉ có một lần, báo hiệu đã hết những tháng ngày lạnh ẩm. Thời điểm ấy, trong cuộc đời một con người, một gia đình, dễ nhớ kĩ, nhớ sâu lắm. Bởi nó gắn với sự bừng nở, sự rộng rãi, phơi phong. Nỗi nhớ nhung của Lưu Trọng Lư cũng được gọi lên từ đó. Song có một điều lạ: nắng mới lúc này sao mà buồn, mà mung lung đến thế. Nói khác đi, ngay khi đặt bút viết Nắng mới, thi sĩ đã chập chờn sống trong cõi mộng:

Mỗi lần nắng mới hắt bên song
Xao xác, gà trưa gáy não nùng
Lòng rượi buồn theo thời đĩ vãng
Chập chòn sống lại những ngày không.

Cái động của tiếng gà trưa xao xác chỉ thêm rõ cái tĩnh, vẻ mông lung mà thôi. Các từ láy: xao xác, não nùng, chập chờn gọi một nỗi buồn nhẹ, một tâm trạng quạnh hiu, xa vắng. “Mỗi lần” lại nhắc nhớ “mỗi lần”. Nói là “chập chờn sống lại” nhưng nhà thơ nhớ rõ lắm. Nhớ tiếng reo của nắng mới tưng bừng ngoài goài nội. Nhớ màu áo mẹ từng đưa phơi tước giậu:

Tôi nhớ mẹ tôi, thuở thiếu thời
Lúc người còn sống, tôi lên mười
Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội
Áo đỏ người đưa trước giậu phơi.

Cái nắng mới của hoài niệm này nao nức, tươi vui bởi gắn với một cậu bé lên mười, với một người mẹ chăm chút, hiền dịu. Màu đỏ của chiếc áo trong tiếng nắng reo làm cho câu thơ sáng hơn, ấm nóng hơn. Có lẽ cũng nhờ màu đỏ ấy mà việc phơi áo của mẹ càng trở thành một điểm son trong nỗi nhớ về tuổi thơ.

Từ “nắng mới hắt bên song” nhớ “nắng mới reo ngoài nội”, nhớ người mẹ phơi áo trước giậu. Cứ thế, nỗi nhớ ngày một thành hình rõ nét hơn. Dù đã có tả nhưng khổ thơ thứ hai vẫn thiên về xác định thời điểm, địa điểm. Song khổ thơ cuối, cảnh và tình mới thật quấn quyện, mới thật là “thi trung hữu hoạ”:

Hình dáng mẹ tôi chửa xoá mờ
Hãy còn mường tượng lúc vào ra:
Nét cười đen nhánh sau tay áo
Trong ánh trưa hè trước giậu thưa.

Dáng vào ra của người mẹ như đang hiện lên rõ rệt trong tâm tưởng nhà thơ. Chi tiết gây ấn tượng nhất trong Nắng mới là “nét cười đen nhánh của người mẹ. Không phải “miệng cười hay “nụ cười mà là “nét”. Lại “đen nhánh ! Hình ảnh thơ bỗng sắc, bỗng lấp lánh hơn. Nét cười ấy lại thêm sáng, thêm duyên khi thấp thoáng “sau tay áo”. Chính vì thấp thoáng thế mà nó càng đáng nhớ, càng được nhớ lâu, nhớ mãi. Sau này, tâm hồn thi sĩ, ngòi bút tài hoa của Hoàng Cầm cũng khiến ta chẳng thể nào quên nụ cười của những cô gái miền quê Kinh Bắc:

Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu toả nắng.

(Bên kia sông Đuống)

Với Lưu Trọng Lư, khuôn mặt, nét cười đáng kính, đáng yêu của người mẹ cứ thấp thoáng trong một không gian ấy thôi: “Trong ánh trưa hè, trước giậu thưa”. “Nắng mới” và “giậu thưa” quả đã thành một thời gian – không gian nghệ thuật ám ảnh không tách rời hình ảnh người mẹ

Nắng mới là một bài thơ hết sức thành thực của một tâm hồn giàu mơ mộng. Tác giả đã thả hồn mộng đi tận hết cõi lòng để trở về với những hồi hồi ức ức thấm thía.

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa...

(Ca dao)

Bài thơ có cấu tử đơn giản với không nhiều hình ảnh nhưng hình ảnh nào cũng linh động, cũng rất có hồn. Chính vì thế, Nắng mới gọi niềm đồng vọng sâu xa ở tâm hồn nhiều bạn đọc. Nó đã chạm tới một trong những tình cảm thiêng liêng, ấm cúng nhất trong mỗi con người. Nói kỉ niệm riêng nhưng chính Lưu Trọng Lư đã làm bao người đọc phải chập chờn, bâng khuâng.

Đọc bài thơ này chắc ta chẳng còn thờ ơ với mỗi năm một lần nắng mới.

Làm được như thể đã là điều vô cùng vinh dự đối với một nhà thơ.

(Lê Bá Hán (Chủ biên) – Lê Quang Hùng - Chu Văn Sơn,
Tình hoa Thơ mới – Thẩm bình và suy ngẫm,
NXB Giáo dục, 1998, tr. 36-40)

Xem bản PDF nguyên trang sách: Ngữ văn 8 tập 2 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 59–85).