Khi ngắm đôi rồng ở điện Kính Thiên, ta sẽ bắt gặp những đường nét phương Bắc với mắt tròn to, mũi cao, sừng dài và có chạc (1) như sừng hươu. Đó là con rồng với bàn chân năm ngón, móng sắc nhọn, thân hình lực lưỡng, khí tượng đế vương, gần giống với con rồng thời Minh (Trung Hoa) hơn là thời Lý, Trần (Đại Việt). Ta cũng cảm nhận như thế khi ngắm nhìn con rồng ở Lam Kinh, Thanh Hoá thời Lê sơ. Lạ thay, nếu soi vào từng chi tiết thì thấy rất giống những con rồng thời Nguyên, thời Minh; nhưng hễ đứng từ xa mà ngắm bậc thểm điện Kính Thiên, thì thấy cái tinh thần Lý, Trần của đôi rồng đá này. Không gì khác đó chính là kiểu thức rồng thành bậc mà ta đã từng thấy ở chùa Phổ Minh (2) (thời Trần), ở thành nhà Hồ (3) (thời Hồ). Gần đây, trong khu vực Hoàng thành Thăng Long, các nhà khảo cổ cũng khai quật được một phần của hạng mục rồng chầu thành bậc thời Trần. Dù đến nay, chưa tìm thấy rồng thành bậc thời Lý, nhưng có thể phỏng đoán kiểu kiến trúc này đã có từ thời Lý, thậm chí có thể đã manh nha từ thời nhà Đinh và Tiền Lê.

Thu thập thông tin từ nhiều nguồn.

Hình ảnh long bệ thạch điện Thái Hoà với hai con rồng lớn chạm khắc đối xứng.

Mĩ thuật Trung Hoa có thể tự hào với những bức tranh hay phù điêu rồng cực lớn. Nhưng ở hình thức tượng tròn thì những con rồng Trung Hoa có phần khiêm tốn về kích thước, nhỏ bé hơn nhiều so với những con rồng mà ta thường thấy trên thành bậc ở Việt Nam. Khi tham quan các cung điện Trung Hoa, chúng ta thường bắt gặp

Phân tích, đánh giá thông tin.

(1) Chạc: nhánh của sừng hươu, nai.

(2) Chùa Phổ Minh: còn gọi là chùa Tháp, ở thôn Tức Mạc, tỉnh Nam Định, xây dựng từ thời nhà Lý và được tu bổ ở các triều đại sau, nay còn lưu nhiều dấu ấn của nghệ thuật điêu khắc thời nhà Trần.

(3) Thành nhà Hồ: còn gọi là thành Tây Đô, thành Tây Kinh, là kinh đô nước Đại Ngu (quốc hiệu nước Việt Nam thời nhà Hồ), nay nằm trên địa phận huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá.

kiểu thức long bệ thạch (1), bắt nguồn từ văn hoá Trung Hoa. Việc các cung điện Trung Hoa khắc những đồ án bệ rồng như lưỡng long tranh châu hay long vân là có liên hệ với danh xưng “bệ hạ”. Ngày xưa, bá quan văn võ khi cần tấu bẩm với hoàng thượng thì phải đứng quỳ phía dưới mà nói vọng lên, do đó mà có từ bệ kiến. Bệ đá trên lối lên vào cung điện – ngự đạo – nơi hoàng thượng thiết triều được khắc rồng, tượng trưng cho sự hiện diện của nhà vua. Ở đây, đồ án rồng thể hiện đầy đủ uy thế oai phong của hoàng đế. Cùng với ngai vàng, ngọc tỉ (2), bệ rồng là biểu tượng cho hoàng gia nói chung và cho hoàng đế nói riêng. Trong đó, bệ rồng là biểu tượng hoành tráng nhất. Bệ rồng ở Cố cung Bắc Kinh có chín con rồng được chạm khắc với khí thế phi phàm, được đục nguyên từ một phiến đá dài hơn 17 mét, rộng hơn 3 mét, nặng hơn 200 tấn. Long bệ thạch thường được chạm khắc hình ảnh hai con rồng đang trong tư thế tranh giành ngọc báu nên gọi là lưỡng long tranh châu hoặc nhị long hí châu.

Kiểu thức long bệ thạch này xuất hiện ở hầu hết các di tích cổ Trung Hoa, từ cung điện, đền miếu đến lăng tẩm. Với dạng thức phù điêu này, rồng luôn được phô diễn với kích thước lớn nhất trong các đồ án rồng trong không gian kiến trúc cung điện, đến miếu, lăng tẩm. Nhưng do chỉ được tạo khối ở dạng phù điêu nên mặc dù kích thước có lớn, chạm khắc có tinh xảo nhưng rồng ở các long bệ thạch Trung Hoa không thực sự tạo được ấn tượng trong không gian. Hạn chế về tầm nhìn do góc hút đã giảm đáng kể hiệu quả thị giác của kiểu thức đồ án này. So sánh về mặt hiệu quả, kiểu thức rồng chẩu thành bậc của Việt Nam hiển nhiên gây ấn tượng trong không gian hơn. Nhà Nguyễn tuy vẫn tiếp tục kiểu thức rồng phương Bắc bắt đầu từ thời Lê sơ, nhưng lại trung thành với kiểu thức rồng chầu lan can thành bậc ở Huế. Có điều, khác với các triều đại trước, lan can rồng thành bậc ở các cung điện Huế lại nhỏ bé và khiêm nhường hơn rất nhiều so với lan can rồng thành bậc ở các lăng mộ, như ở lăng vua Minh Mạng, Thuận Thiên Cao Hoàng hậu, lăng Thiệu Trị.

Kết luận

Nếu như kiểu thức rồng thành bậc không thể thấy ở trong kiến trúc của Trung Hoa thì lại luôn xuất hiện ở các nước Đông Nam Á như In-đô-nê-xi-a, Thái Lan, Lào, Cam-pu-chia (Campuchia). Chỉ có khác một chút là thay vào hình rồng thì đó là

Khẳng định quan điểm của người viết.

(1) Long bệ thạch: bệ đá tạc hình rồng, tượng trưng cho quyền lực của nhà vua.

(2) Ngọc tỉ: một loại ấn triện làm bằng ngọc, tượng trưng cho quyền lực tối cao của nhà vua, được dùng trong những nghi thức và văn bản quan trọng nhất của quốc gia.

thuỷ quái Ma-ca-ra (Makara). Có thể nói, chính kiểu thức kiến trúc này đã lan từ Nam ra Bắc. Về đặc điểm tạo hình đầu rồng thời Lý, Trần, tôi đồng tình với ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu rằng đó là kiểu thức phương Nam, kết quả ảnh hưởng của hình tượng thuỷ quái Ma-ca-ra. Nhung, dù rất say mê và yêu mến nghệ thuật Chăm-pa, dù biết rằng kiểu thức rồng thành bậc có nguồn gốc phương Nam, nhưng tôi cho rằng nó không đến từ đất Chăm, mà có lẽ nó đến từ đất nước vạn đảo In-đô-nê-xi-a (vương quốc Xri-vi-giay-a - Srivijaya).

Hình ảnh Ma-ca-ra thành bậc tại Can-đi Pram-ba-nan, In-đô-nê-xi-a.

(Trần Hậu Yên Thế, Mỹ thuật Việt soi từ phía khác, NXB Mỹ thuật -
Công tì TNHH Sách và Truyền thông Việt Nam, Hà Nội, 2021, tr. 107-115)

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Quang Hà (2019), Các nguồn sử liệu về quy mô và cấu trúc Hoàng thành Thăng Long thời Lý – Trần – Lê, Luận án tiến sĩ, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

2. Kiều Thu Hoạch (2014), Từ góc nhìn tứ linh khám phá tâm thức văn hoá rồng của người Việt và người Hán, tạp chí Văn hoá học, số 1, tr, 15 – 26.

3. Tống Trung Tín (2016), Hoàng thành Thăng Long, NXB Văn hoá – Thông tin, Hà Nội.

1

Đề tài của báo cáo nghiên cứu ở trên là gì? Tác giả đã tiếp cận để tài từ góc độ nào?

2

Để triển khai báo cáo, những luận điểm chính nào đã được tác giả sử dụng?

3

Các thông tin tác giả cung cấp trong bài viết đến từ nguồn nào? Bạn có nhận xét gì về độ chính xác, tin cậy, khách quan của các thông tin?

4

Tài liệu tham khảo có những thông tin gì và được sắp xếp theo trật tự nào?

Thực hành viết

Chuẩn bị viết

Lựa chọn đề tài

Đề tài của báo cáo kết quả nghiên cứu có thể là một vấn đề xã hội như một sự kiện văn hoá – lịch sử, một vấn đề thời sự, một hiện tượng tâm lí, cũng có thể là một vấn đề tự nhiên như môi trường, khí hậu, tài nguyên,... Để lựa chọn được đề tài nghiên cứu, trước tiên bạn cần xác định phạm vi vấn đề mà mình thực sự quan tâm, hứng thú, sau đó, lựa chọn một góc độ tiếp cận phù hợp với vấn đề, có thể là từ góc độ lịch sử, địa lí, khoa học hay nghệ thuật, hoặc liên ngành – kết hợp nhiều góc độ tiếp cận khác nhau. Từ mỗi góc độ tiếp cận, hãy đặt ra những câu hỏi nghiên cứu và chọn một câu hỏi mà bạn hứng thú nhất và viết một nhận định về mục tiêu nghiên cứu của mình. Ví dụ, khi đọc văn bản Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, bạn muốn tìm hiểu thêm về kinh thành Thăng Long thời Hậu Lê, có thể tham khảo sơ đồ gợi ý sau:

Sơ đồ gợi ý các góc độ tiếp cận khi tìm hiểu về kinh thành Thăng Long thời Hậu Lê, bao gồm Lịch sử, Địa lí, Văn hoá, Nghệ thuật.

Thu thập, phân tích và đánh giá thông tin

Mỗi nguồn tài liệu có thể cung cấp những loại thông tin khác nhau, phù hợp với những chủ đề khác nhau. Các từ điển bách khoa có thể cung cấp một cái nhìn tổng quan về vấn đề. Các tài liệu tham khảo chuyên môn cho biết những thông tin chi tiết, cụ thể. Các bản ghi chép như bài phỏng vấn, diễn văn giúp hiểu hơn về các chủ đề lịch sử, văn chương, khoa học. Báo và tạp chí cung cấp những tin tức, sự kiện,... mới nhất về vấn đề mà bạn quan tâm.

Các văn bản quảng cáo cho biết thêm thông tin về các chủ đề liên quan đến kinh tế, văn hoá đại chúng. Các ảnh chụp, video clip, bản ghi âm, tư liệu về hiện vật được trưng bày trong bảo tàng; các hình ảnh minh hoạ, bản đồ, bảng biểu, số liệu;... cho biết những tri thức cụ thể, chi tiết về vấn đề;... Trước khi tìm kiếm thông tin, hãy cân nhắc nguồn tư liệu nào có ý nghĩa nhất đối với nghiên cứu của bạn.
Xét về nguồn gốc, có thể chia các tài liệu thành hai loại: tài liệu gốc và tài liệu phái sinh. Tài liệu gốc là nguồn tài liệu được tạo ra bởi những người trực tiếp chứng kiến, tham gia các sự kiện, ví dụ: thư từ, nhật kí, diễn văn, ảnh chụp, tự thuật, email, bản tường thuật từ ngôi thứ nhất,... Nguồn tài liệu gốc có thể giúp bạn hình dung ra được không khí và các chi tiết cụ thể về sự kiện, song thường chứa đựng cái nhìn có tính chất thiên kiến của tác giả. Nguồn tài liệu phái sinh là những bản ghi được tạo ra sau các sự kiện, bởi những người không trực tiếp chứng kiến, tham gia, ví dụ: tiểu sử, từ điển bách khoa, bản ghi lời kể của người được chứng kiến,... Tài liệu phái sinh có thể đưa lại cái nhìn tổng quan, đa chiều về vấn đề, nhưng độ tin cậy lại phụ thuộc vào nguồn tài liệu mà chúng dựa vào.
Sau khi đã thu thập được những thông tin đáng tin cậy, bạn cần lưu trữ chúng một cách hệ thống, khoa học. Có một số cách phổ biến để lưu trữ thông tin như: tóm tắt, trích dẫn. Tóm tắt là nắm bắt các nội dung cốt lõi của tài liệu và diễn đạt chúng một cách ngắn gọn dựa vào các từ khoá. Trích dẫn là ghi chép nguyên văn các thông tin và sử dụng dấu ngoặc kép để đánh dấu những phần trích dẫn (trích dẫn trực tiếp) hoặc diễn giải lại các thông tin bằng ngôn ngữ của mình (trích dẫn gián tiếp).

Xây dựng đề cương

Sau khi đã có được những thông tin bao quát về vấn đề, bạn có thể tìm thấy một cách triển khai vấn đề riêng của mình. Hãy tham khảo phần hướng dẫn xây dựng đề cương nghiên cứu đã được học ở sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập một, tr. 117 – 118 để phác thảo để cương chi tiết cho đề tài của bạn.

Viết

Khi viết báo cáo nghiên cứu, bạn cần tuân thủ các quy định về hình thức trình bày của một báo cáo nghiên cứu (tham khảo phần hướng dẫn viết báo cáo nghiên cứu trong sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập một, tr. 118).

Lưu ý, bài viết cần thể hiện rõ các thao tác cơ bản của việc nghiên cứu; có trích dẫn, cước chú, tài liệu tham khảo và các phương tiện hỗ trợ phù hợp.

Chỉnh sửa, hoàn thiện

Tự rà soát lại bài nghiên cứu của mình theo các tiêu chí sau:

Bố cục phù hợp với một báo cáo nghiên cứu, gồm các phần: đặt vấn đề, giải quyết vấn đề, kết luận, tài liệu tham khảo.

Các thông tin tham khảo có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy.

Các luận điểm, bằng chứng rõ ràng, chặt chẽ.

Bài viết đảm bảo tuân thủ các quy định về chính tả; không mắc lỗi dùng từ, đặt câu (ngữ pháp).

Nói và nghe

Trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu (Kết hợp phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ)

Yêu cầu

Giới thiệu được vấn đề nghiên cứu, lí do chọn vấn đề.

Trình bày khái quát những kết quả nghiên cứu chính.

Sử dụng kết hợp phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để nội dung trình bày được rõ ràng và hấp dẫn.

Chuẩn bị nói

Mục đích của việc trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu là “tô đậm" những thông tin chính trong báo cáo nghiên cứu, thu thập thông tin phản hồi từ người nghe. Để thực hiện được mục đích này, ngoài việc chuẩn bị về nội dung (như hướng dẫn trong sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập một, tr. 119), người nói cần đặc biệt chú ý đến việc sử dụng các hình thức, phương tiện trình bày sao cho hiệu quả, phù hợp. Có thể tham khảo một số gợi ý sau đây:

Tìm hiểu về người nghe và bối cảnh giao tiếp: Báo cáo kết quả nghiên cứu có thể được trình bày trong một hội thảo dành cho đối tượng học sinh, một diễn đàn chuyên môn, hoặc một buổi thuyết trình về một dự án,... Người nghe báo cáo có thể là học sinh, là nhà tài trợ hoặc một hội đồng chuyên môn. Trước khi trình bày báo cáo, cần tự đặt câu hỏi: Người nghe đã biết những thông tin gì, đang quan tâm tới điều gì, chưa hiểu điều gì, từ đó lựa chọn nội dung và hình thức trình bày phù hợp.

Xác định mục đích giao tiếp: Việc trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu có thể hướng tới nhiều mục đích: chia sẻ một ý tưởng sáng tạo, thu hút và kêu gọi tham gia một dự án mới, thông báo về những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện một đề tài nghiên cứu. Tuỳ từng mục đích giao tiếp cụ thể mà người nói lựa chọn và sử dụng các chiến lược giao tiếp khác nhau.

Xác định những nội dung chính cần trình bày: Đề tài nghiên cứu của bạn là gì? Tại sao bạn chọn vấn đề đó? Những kết luận chính của bạn là gì? Đâu là vấn đề mới mẻ mà bạn đã phát hiện ra trong quá trình nghiên cứu? Hãy tập trung vào những nội dung thực sự mới mẻ, gây hứng thú với người nghe.

Xác định các hình thức, phương tiện trình bày phù hợp: Để gia tăng sức hấp dẫn và thuyết phục của bài trình bày, ngoài việc sử dụng phương tiện ngôn ngữ, bạn có thể sử dụng các phương tiện phi ngôn ngữ như ngôn ngữ cơ thể, các hình ảnh, sơ đồ, biểu đồ, đồ hoạ, bảng biểu,... Việc sử dụng các phương tiện phi ngôn ngữ cần đảm bảo một số nguyên tắc sau:

Tối giản: Cần tập trung vào một vài phương tiện chính để làm nổi bật những thông tin quan trọng nhất trong bài trình bày, đồng thời khai thác một cách tối đa giá trị biểu đạt của những phương tiện này. Cần hạn chế tối đa các hình ảnh, kí hiệu chỉ mang tính hình thức, không thực sự cung cấp thông tin.

Trực quan hoá: Cần xác định những thông tin trừu tượng, phức tạp, khiến người nghe khó có thể lĩnh hội chỉ bằng phương tiện ngôn ngữ, từ đó lựa chọn các hình ảnh, sơ đồ, bảng biểu,... góp phần cụ thể hoá thông tin, phù hợp với nhận thức của người nghe.

Ấn tượng: Các phương tiện phi ngôn ngữ cần tác động mạnh đến giác quan, cảm xúc và thu hút sự chú ý của người nghe. Màu sắc nổi bật, các hình ảnh mới mẻ, ngôn ngữ cơ thể sống động, sự thay đổi ngữ điệu,... là những yếu tố có thể tạo nên sự hấp dẫn, lôi cuốn cho bài trình bày.

Thực hành nói

Bài thuyết trình báo cáo kết quả nghiên cứu thường có những nội dung chính sau:

Mở bài: Nêu tên, lí do chọn vấn đề nghiên cứu, các kết luận chính của báo cáo kết quả nghiên cứu.

Triển khai: Tóm tắt các luận điểm chính, lựa chọn một hoặc một vài phương tiện phi ngôn ngữ để minh hoạ, nhấn mạnh thông tin chỉnh cũng như thu hút sự chú ý của khán giả.

Kết luận: Khái quát những kết quả nghiên cứu chính, gợi mở các hướng đi mới của đề tài, thể hiện một thái độ sẵn sàng đối thoại một cách chân thành, cởi mở.

Trao đổi

Người nói
Lắng nghe, trả lời câu hỏi và phản hồi về những phản biện của người nghe.
Tự đánh giá, sửa chữa, hoàn thiện báo cáo kết quả nghiên cứu.

Người nghe
Đặt ra các câu hỏi để tìm hiểu sâu thêm về đề tài.
Phản biện lại những nội dung vừa trình bày hoặc đưa ra một cách kiến giải khác, một nguồn thông tin khác về vấn đề.

Để đánh giá được một bài trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu, có thể tham khảo các gợi ý trong bảng sau:

STT | Nội dung đánh giá | Kết quả | Đạt | Chưa đạt
1 | Nêu được các vấn đề nghiên cứu, lí do chọn đề tài, những kết luận và phát hiện chính. | | |
2 | Trình bày một cách rõ ràng, mạch lạc những luận điểm chính, các thông tin chi tiết để làm sáng tỏ luận điểm. | | |
3 | Lựa chọn các hình ảnh, sơ đồ, biểu đồ,... phù hợp để trực quan hoá, cụ thể hoá thông tin. | | |
4 | Sử dụng ngôn ngữ cơ thể và ngữ điệu một cách hiệu quả. | | |
5 | Lắng nghe và phản hồi tích cực với những câu hỏi, phản biện của người nghe. | | |

Củng cố, mở rộng

1

Tổng hợp những thông tin cơ bản về hai văn bản kịch đã học trong bài (Sống hay không sống – đó là vấn đề, Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài) theo gợi ý sau: tình huống, nhân vật, xung đột, thông điệp.

2

Tìm đọc các vở bi kịch khác; chỉ ra tình huống, nhân vật, xung đột và thông điệp chính trong các tác phẩm mà bạn đã đọc.

3

Tìm hiểu thêm về các nhân vật, sự kiện lịch sử được nhắc tới trong đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài. Yếu tố lịch sử đã được Nguyễn Huy Tưởng sử dụng như thế nào và có vai trò gì trong tác phẩm?

4

Thu thập, phân tích và đánh giá các thông tin về một trong số các vấn đề gợi ý sau:

  • Nghệ thuật thời Phục hưng;

Kiến trúc thành Thăng Long;

  • Lịch sử Việt Nam thế kỉ i×VI−XVII

5

Xác định một đề tài nghiên cứu, xây dựng đề cương cho đề tài đó (dựa trên các thông tin đã tìm được) và trình bày để cương nghiên cứu của bạn.

Thực hành đọc

Một số điều cần lưu ý khi đọc văn bản:

Tìm hiểu thêm truyện kể về thần Prô-mê-tê (Prométhée) trong thần thoại Hy Lạp.

Chỉ ra đặc điểm tính cách của nhân vật Prô-mê-tê được bộc lộ qua lời thoại của chính nhân vật này.

Nêu thông điệp chính của văn bản.

Prô-mê-tê bị xiềng (*)
(Trích)
Ét-sin (Eschyle) (1)

NHẠC TRƯỞNG
Hãy tiết lộ cho chúng em được rõ
Vì lí do nào bị Thần Vương (2) giam giữ
Và đối xử khắt khe tàn ác, đê hèn.
Hãy cho chúng em được biết hết căn nguyên
Nếu Người thấy nói ra mà chẳng ngại.

PRÔ-MÊ-TÊ
Quả thực với ta, chỉ nhắc tới đã là chua xót!
Mà lặng đi càng nặng nỗi đau thương.
Cả hai bên đều xao xuyến bàng hoàng,
Từ các thần linh buông mình trong oán hận

Prô-mê-tê bị xiềng: vở bi kịch nổi tiếng nhất trong số những vở bi kịch còn lại của Ét-sin, khai thác đề tài từ thần thoại Hy Lạp về Prô-mê-tê – vị thần đã cả gan đánh cắp lửa trời về cho loài người và bị thần Dớt (Zeus) trừng phạt nặng nề (bị đóng đinh trên đỉnh núi Cô-ca-dơ (Caucase), bị một con diều hâu ngày đêm moi gan móc ruột).

(1) Ét-sin (525-456 trước Công nguyên): người Hy Lạp, đóng vai trò lớn trong lịch sử phát triển của nền bi kịch cổ đại, đã sáng tác 70 vở bi kịch và 20 vở kịch xa-tia (satire), nhưng đến nay chỉ còn lại 7 tác phẩm: Những thiếu nữ cầu xin, Quân Ba Tư, Bảy tướng đánh thành Te-bơ (Thèbes), Prô-mê-tê bị xiềng, A-ga-mem-nông (Agamemnon), Những thiếu nữ viếng mộ, Những nữ thần ân đức.

(2) Thần Vương: tức thần Dớt.

Và giữa họ sự bất hoà xảy đến
Kẻ muốn đẩy Crô-nốt (Cronos) (1) đi rời khỏi ngôi trời
Hòng chuyển cả quyền hành cho Dớt nắm trong tay.
Kẻ ngược lại thì đấu tranh kiên quyết
Hòng ngăn cản không bao giờ để Dớt
Chiếm được quyền thống trị các thần linh.
Ta đã lựa những câu khuyên khôn khéo chân tình
Góp với các Khổng Lồ con U-ra-nốt (Uranos) (2) và Trái Đất
Nhưng họ không nghe, họ khinh dùng mưu chước,
Tin ở sức mình họ tưởng đâu có thể dễ như không
Dùng bạo lực giản đơn chiếm đoạt ngai vàng!
Nhưng ta, thì mẹ ta – Tê-mít (Thémis)) hoặc Gai-a (Gaia) (4) cũng vậy
Tên gọi khác nhau mà cùng chung hình thái
Đã bao lần nói cho ta biết trước tương lai
Sẽ diễn biến ra sao những lúc sau này,
Rằng nhờ mưu mẹo chứ không phải bạo quyền và sức mạnh
Mà ngôi thống trị vào tay người chiến thắng
Ta giãi bày thông tỏ mọi điều trên,
Nhưng họ không thèm ban cho ta đến cả một cái nhìn!
Trong tình huống ấy, ta nghĩ bụng: với ta, tốt nhất
Là kéo cả mẹ ta đứng về phía Dót
Hắn sẽ vui lòng theo nhã ý mẹ con ta
Chính nhờ những câu khuyên nhủ thực thà
Của ta đó, mà cái địa ngục Tác-ta (Tartare) (5) đen ngòm thăm thẳm
Đang giam giữ Crô-nốt cổ xưa cùng toàn phe cánh.

(1) Crô-nốt: cha của thần Dớt, người bị chính thần Dớt truất ngôi.

(2) U-ra-nốt: thần nguyên thuỷ của bầu trời.

(3) Tê-mít: mẹ của thần Prô-mê-tê, được xem là vị thần có trách nhiệm dàn xếp những vấn đề xã hội của con người.

(4) Gai-a: vị thần được xem là tổ tiên của vạn vật hay là Đất Mẹ.

(5) Tác-ta: chốn địa ngục, cũng là tên của vị thần sơ khai cai quản địa ngục.

Đó, những việc ta đã từng làm cho ông chủ của muôn thần
Và đây, các nàng trông những hình phạt đau thương
Hắn sử dụng để đền ơn ta thuở trước!
Đây cái tệ hại vốn đi đôi cùng bạo ngược
Là thiếu lòng tin ở cả bạn bè
Còn cái điều các nàng hỏi han ta:
Vì sao hắn đoạ đày ta như vậy,
Ta sẽ nói cho các nàng hay mọi nỗi:
Ngay sau khi đoạt cho mình ngôi báu của cha xong,
Hắn bạn đặc ân cho tất cả các thần
Và định ngôi thứ trong triều đình của hắn
Nhưng không đếm xỉa tới khách trần khốn nạn
Hắn còn toan huỷ diệt giống người
Để sinh ra một giống mới lên thay.
Không ai ngoài ta dám cưỡng lại điều hắn ta dự định.
Một mình ta dám đứng lên can đảm
Ngăn không để người trần nát thịt tan xương
Bước xuống âm ti, nơi Ha-đét (Hadès)(1) suối vàng.
Đấy, duyên cớ vì sao ta phải
Gập mình dưới sức nặng đè oan trái
Của những đau thương thê thảm xót xa.
Vì thương xót trần gian như thể ruột rà
Mà ta bị khinh rẻ, không đáng người thương xót.
Thế là họ đoạ đầy ta khắc nghiệt
Cảnh tượng này nhục cho Dót biết bao nhiêu!

(Hoàng Hữu Đản giới thiệu, biên dịch và chú thích,
Bi kịch Hy Lạp, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2007, tr. 44-46)

(1) Ha-đét: âm phủ, cũng là tên vị thần sơ khai cai quản âm phủ.

Yêu cầu cần đạt

Hệ thống hoá những kiến thức đã học trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập một.

Phát triển kĩ năng đọc, viết, nói và nghe thông qua việc thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trong các bài tập.

Vận dụng được kiến thức, kĩ năng đã học và rèn luyện vào việc giải quyết những bài tập mang tính tổng hợp.

Hệ thống hoá kiến thức đã học

1

Nêu tên các loại, thể loại văn bản được học trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập một và nhan đề văn bản đọc thuộc từng loại, thể loại ấy.

2

Lập bảng thống kê các khái niệm then chốt cần dùng để đọc hiểu những văn bản trong Ngữ văn 11, tập một và giải thích ngắn gọn về từng khái niệm.

3

Tổng hợp những nội dung thực hành tiếng Việt trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập một theo các gợi ý sau:
Nội dung thực hành;
Khái niệm hay quy tắc cần nắm vững;
Ý nghĩa của hoạt động thực hành.

4

Liệt kê những kiểu bài viết đã thực hiện trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập một theo bảng gợi ý sau:

STT | Kiểu bài viết | Đề tài được gợi ý | Đề tài đã viết

5

Nhớ lại các nội dung của hoạt động nói và nghe đã thực hiện trong sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập một trên các phương diện sau:
Tên của nội dung hoạt động nói và nghe;
Yêu cầu của hoạt động;
Thách thức và ý nghĩa của hoạt động.

Luyện tập và vận dụng

Đọc

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

Huyền diệu
Xuân Diệu

Les parfums, les couleurs et les sons se répondent(1)

Này lắng nghe em khúc nhạc thơm
Say người như rượu tối tân hôn;
Như hương thấm tận qua xương tuỷ,
Âm điệu, thần tiên, thấm tận hồn.

Hãy tự buông cho khúc nhạc hường (2),
Dẫn vào thế giới của Du Dương;
Ngừng hơi thở lại, xem trong ấy
Hiển hiện hoa và phảng phất hương...

Hãy nghe lẫn lộn gió bên tai
Giọng suối, lời chim, tiếng khóc người;
Hãy uống thơ tan trong khúc
Ngọt ngào than gọi thuở xa khơi...

Rồi khi khúc nhạc đã ngừng im,
Hãy vẫn ngừng hơi nghe trái tim
Còn cứ run hoài, trong chiếc lá
Sau khi trận gió đã im lìm.

(Hoài Thanh - Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội, 2006, tr. 134)

(1) Nguyên văn tiếng Pháp câu thứ tám trong bài thơ Tương giao của Sác-lơ Bô-đơ-le (Charles Baudelaire);
dịch nghĩa: Hương thơm, màu sắc, âm thanh tương ứng (hoà hợp) với nhau.

(2) Hường: hồng.

Trả lời câu hỏi:

1

Bạn hiểu như thế nào về nhan đề của bài thơ? Nhan đề ấy có ý nghĩa định hướng việc đọc tác phẩm như thế nào?

2

Việc chọn câu thơ của Bô-đơ-le làm đề từ có ý nghĩa gì?

3

Nêu ấn tượng bao trùm về bài thơ và lí giải nguyên nhân đưa đến ấn tượng ấy.

4

Những tri thức ngữ văn nào đã học cần được vận dụng để việc đọc và thưởng thức bài thơ đạt hiệu quả?

5

Chỉ ra những kết hợp từ ngữ mà bạn cho là có tính chất khác thường trong bài thơ.

6

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nói về vẻ đẹp của bài thơ theo cảm nhận của bạn.

Viết

Chọn một trong các đề sau:

Đề 1

Để tạo nên thành công của một tác phẩm truyện, việc tác giả chọn được điểm nhìn độc đáo về đối tượng miêu tả, thể hiện giữ vai trò rất quan trọng. Hãy chọn phân tích một truyện mà bạn cho là có điểm nhìn độc đáo.

Đề 2

Hãy giới thiệu và phân tích một bài thơ mà bạn cho là có cấu tử độc đáo.

Đề 3

Trình bày ý kiến của bạn về một vấn đề xã hội đang được nhiều người quan tâm và khiến bạn thực sự thấy trăn trở.

Đề 4

Lập đề cương cho báo cáo nghiên cứu về một vấn đề bạn muốn tìm hiểu và có điều kiện thu thập tài liệu.

Nói và nghe

Chọn thực hiện theo nhóm học tập một trong các nội dung sau:

Nội dung 1

Giới thiệu một tác phẩm truyện nổi tiếng đang được giới trẻ quan tâm tìm đọc.

Nội dung 2

Có những tác phẩm nghệ thuật nào từng để lại ấn tượng sâu sắc với bạn? Hãy nói về tác phẩm ấy.

Nội dung 3

Thảo luận về cách thực hành "lối sống xanh".

Xem bản PDF nguyên trang sách: Ngữ văn 11 tập 1 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 144–157).