Yêu cầu cần đạt

  • Nhận biết và phân tích được một số yếu tố của bi kịch như: xung đột, hành động,
    lời thoại, nhân vật, cốt truyện, hiệu ứng thanh lọc.
  • Viết được báo cáo nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội; biết sử dụng các
    thao tác cơ bản của việc nghiên cứu; biết trích dẫn, cước chú, lập danh mục tài liệu
    tham khảo và sử dụng các phương tiện hỗ trợ phù hợp.
  • Trình bày được báo cáo kết quả nghiên cứu về một vấn đề đáng quan tâm; biết sử dụng
    kết hợp phương tiện ngôn ngữ với phương tiện phi ngôn ngữ để nội dung trình bày
    được rõ ràng, hấp dẫn.
  • Biết sống có mục đích, có khát vọng cống hiến, làm chủ được bản thân và biết vượt
    lên mọi trở ngại.

Thuật ngữ: Bi kịch · Xung đột trong bi kịch · Hiệu ứng thanh lọc của bi kịch · Nhân vật và xung đột trong bi kịch

Nhận biết và phân tích được một số yếu tố của bi kịch như: xung đột, hành động,
lời thoại, nhân vật, cốt truyện, hiệu ứng thanh lọc.
. Viết được báo cáo nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội; biết sử dụng các
thao tác cơ bản của việc nghiên cứu; biết trích dẫn, cước chú, lập danh mục tài liệu
tham khảo và sử dụng các phương tiện hỗ trợ phù hợp.
Trình bày được báo cáo kết quả nghiên cứu về một vấn đề đáng quan tâm; biết sử dụng
kết hợp phương tiện ngôn ngữ với phương tiện phi ngôn ngữ để nội dung trình bày
được rõ ràng, hấp dẫn.

  • Biết sống có mục đích, có khát vọng cống hiến, làm chủ được bản thân và biết vượt

lên mọi trở ngại.

Đọc

Tri thức ngữ văn

Bi kịch là một thể loại kịch. Thông qua sự dàn cảnh, luân chuyển lời đối thoại, độc
thoại, hành động của nhân vật trên sâu khẩu, bi kịch tập trung diễn tả những xung đột
hệ trọng, đạt tới mức căng thẳng tột độ giữa những mong muốn, hành động cao đẹp,
hào hùng của con người với những tình thế bi đát không thể đảo ngược của thực tại
hay với những trở ngại tồn tại ngay trong bản tính con người. Việc thắt nút, triển khai
và giải quyết những xung đột như vậy làm nên cốt truyện bi kịch. Bi kịch thường kết
thúc bằng thảm cảnh hay bằng cái chết của một loạt nhân vật. Trong bi kịch, việc cái
đẹp, cái hùng bị thất bại đã đưa đến nỗi đau khổ cùng cực. Song chính từ đó,
bi kịch trở thành tiếng nói khẳng định sự bất tử của ý chí, khát vọng và chiến thắng
tinh thần của con người trong cuộc đấu tranh chống lại những tình thể bi đát của thực
tại và những yếu hèn của cá nhân con người.

Nhân vật chính trong bi kịch mang khát vọng cao đẹp, có tính cách mạnh mẽ,
có khả năng lựa chọn hành động tự do xuất phát từ chính kiến, đức tin của mình, song
lựa chọn này xung đột với hoàn cảnh thực tế hoặc gặp phải những trở ngại ngay trong
bản tính cố hữu. Do vậy, nhân vật chính trong bi kịch thường phải trải qua những

trạng thái giằng xé, bế tắc, rơi vào những tình huống hết sức nặng nề và có kết thúc
bi thảm. Tương ứng với sự phức tạp của nhân vật, lời thoại trong bi kịch thường căng
thẳng, chất chứa biện luận, thể hiện suy tư trăn trở và ý chí của những nhân cách mạnh
mẽ, không khuất phục.

Xung đột trong bi kịch là những mâu thuẫn gay gắt giữa lựa chọn hành động tự do
của nhân vật như một nhân cách mạnh mẽ với cái tất yếu vốn được thể hiện qua
những thế lực như định mệnh, bản tính tự nhiên, định kiến thời đại, thực tại xã hội,...

Khi theo dõi hành động kịch căng thẳng, gay gắt, kết cục bi thảm, người tiếp
nhận bi kịch có thể sợ hãi, kinh hoàng, thương cảm, xót xa như chính mình đang trải
nghiệm những bế tắc trong cuộc sống cùng nhân vật, để rồi sau đó thấy căm ghét cái
đê tiện, giả dối; ngưỡng mộ, cảm phục cái cao cả; tâm hồn như được thanh lọc, trở nên
hài hoà, thăng bằng hơn. Nhà triết học Hy Lạp cổ đại A-rít-xtốt (Aristotle) gọi đó là hiệu
ứng thanh lọc của bi kịch.

Văn bản 1

Sống, hay không sống – đó là vấn đề (*) (Trích Hăm-lét - Hamlet)

Uy-li-am Sếch-xpia (William Shakespeare)

Theo bạn, việc ý thức về tình trạng bi đát của hoàn cảnh có khi nào
ngăn trở con người hành động quyết đoán trong cuộc đời?

Tóm tắt bi kịch Hăm-lét:

Hồi 1 – II: Được tin thân phụ là quốc vương Đan Mạch đột ngột băng hà, thái tử Hăm-lét đang
học ở Đức vội vã về nước để chịu tang. Về đến triều đình, chàng được biết mẹ là hoàng hậu Giéc-trút
(Gertrude) đã tái giá cùng Clô-đi-út (Claudius) – chú ruột của chàng, hiện là nhà vua mới. Hồn
ma vua cha hiện lên báo cho Hăm-lét biết chính chủ của chàng đã mưu sát anh trai để chiếm
đoạt ngai vàng. Lúc này, Đan Mạch còn đứng trước nguy cơ bị hoàng tử xứ Na Uy là Pho-tin-brát
(Fortinbrat) dấy binh tiến đánh (nhằm trả thù cho vua cha vốn bị quốc vương Đan Mạch giết chết
trong một trận đấu thượng võ). Mang trong mình lí tưởng về con người cao quý – "vẻ đẹp của thế
gian, kiểu mẫu của muôn loài", Hăm-lét thực sự đau đớn khi nhận ra những sự trái ngang trong
hoàng tộc, những sự "đảo điên" của cả thời đại. Chàng ý thức sứ mệnh của mình không chỉ là trả
mối thù cha, mà còn vạch mặt chỉ tên cái ác, "dẹp yên mọi sự bất bằng". Bước đầu, chàng giả điên
để nói lên sự thật và đánh lạc hướng kẻ thù. Những lời nói, cử chỉ tưởng như điên dại của Hăm-lét khiến

(*)

Nhan đề văn bản lấy theo sách giáo khoa Văn học 10, tập hai, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000.

vua Clô-đi-út lo ngại. Để biết thực hư về bệnh điên của Hăm-lét, vua sai hai người bạn cùng học
với chàng là Rô-den-cran (Rosencrantz), Ghin-đơn-xtơn (Guildenstern), cùng với viên cận thần
Pô-lô-ni-út (Polonius) dò la.
Hồi III: Vua trực tiếp cùng Pô-lô-ni-út rình nghe trộm cuộc trò chuyện của Hăm-lét với Ô-phê-li-a
(Ophélia) - con gái của Pô-lô-ni-út, cũng là người yêu của chàng. Ô-phê-lia trả lại những kỉ vật tình
yêu và Hăm-lét nói với nàng những lời tàn nhẫn, cốt để nàng rời xa mình. Hăm-lét bố trí cho một
gánh hát vào trong cung diễn vở kịch Cái bẫy chuột có nội dung ám chỉ vụ mưu sát, khiến nhà
vua hoảng hốt bỏ ngang buổi diễn, vội và vào hậu cung. Hãm-lét theo sau định hạ sát hắn nhưng
buộc phải dừng tay vì thấy hắn đang cầu nguyện. Hăm-lét tìm đến phòng hoàng hậu để trách cứ
mẹ. Thấy động sau rèm, tưởng nhà vua rình nấp ở đó, Hăm-lét bèn rút gươm đâm, hoá ra lại giết
chết Pô-lô-ni-út.
Hồi IV – V: Vua cho Hăm-lét sang nước Anh nhưng ngắm gửi mật thư nhờ vua Anh giết chàng.
Lên đường sang Anh, Hăm-lét tự nhủ: "Từ giờ phút này, ý nghĩ ta phải đẫm máu, nếu không chẳng
có giá trị gì!". Dọc đường, gặp cướp biển, Hăm-lét tình cờ phát hiện ra bức mật thư mượn tay vua
Anh giết chàng trong bọc đồ của hai kẻ đồng hành. Chàng tráo vào đó một bức thư khác để vua
Anh giết chính những kẻ đưa thư. Sau tai hoạ, chàng một mình trở về Đan Mạch. Đúng thời điểm
đó, chàng chạm trán con trai của Pô-lô-ni-út là La-ớc-tơ (Laertes) - người đang tìm chàng để quyết
đấu nhằm trả thù cho cha và em gái (Ô-phê-li-a hoá điên vì những đau khổ trong tình yêu và vì cái
chết của cha mình, đã bị ngã xuống suối chết đuối). Trong cuộc giao đấu, Hăm-lét bị trúng một nhát
kiếm có tẩm thuốc độc của La-ớc-tơ (do Clô-đi-út bố trí), rồi sau đó La-ớc-tơ cũng bị chàng đâm
bằng chính thanh kiếm có tẩm thuốc độc này. Khi theo dõi cuộc đấu, Hoàng hậu đã uống nhầm li
rượu độc mà Clô-đi-út dành sẵn cho Hãm-lét và nhận cái chết tức tưởi. Trong giây phút đợi tử thần
mang đi, La-ớc-tơ đã giảng hoà với Hăm-lét và vạch tội nhà vua. Hãm-lét giết Clô-đi-út khi toàn bộ
âm mưu ác độc bị phanh phui. Trước lúc nhắm mắt, Hăm-lét dặn bạn mình là Hô-ra-xi-ô (Horatio) kể
cho người đời biết rõ ngọn ngành câu chuyện và trăng trối việc bàn giao ngai vàng cho Pho-tin-brát.
Thi hài Hăm-lét được Pho-tin-brát cho an táng theo nghi thức dành cho một chiến sĩ.
Sống, hay không sống – đó là vấn đề là đoạn trích là từ cảnh 1, hồi III của bi kịch Hăm-lét.

Hồi III cảnh 1

Một gian phòng trong lâu đài.

(Vua, hoàng hậu, Pô-lô-ni-út. Ô-phê-li-a, Rô-den-cran (1) và Ghin-đơn-xtơn (2) ra.)

VUA – Thế trong khi chuyện trò cùng thái tử, các
khanh lại không lựa được cơ hội nào để tìm hiểu tại sao
người rối loạn tâm thần, để cho chuỗi ngày xanh êm đẹp
bị tan nát vì những cơn điên dữ dội, hiểm nghèo hay sao?

Lời thoại của các nhân
vật trước khi Hăm-lét xuất
hiện cho thấy điều gì về
bầu không khí xã hội bao
quanh chàng?

(1) (2)

Rô-den-cran, Ghin-đơn-xtơn: hai người bạn học cũ của Hăm-lét được vua sai dò xét xem Hăm-lét điên thật hay
điên giả.

RO-DEN-CRAN – Tâu bệ hạ, thái tử cũng biết mình bị mất trí, nhưng duyên do
tại đâu thì nhất định người không nói.

GHIN-ĐƠN-XTƠN – Thực ra thì thái tử cũng không để cho tìm hiểu sâu hơn.
Người cứ đánh trống lảng bằng những cơn điên khôn khéo, mỗi khi chúng thần tìm
cách gợi người tỏ bày thực trạng tâm hồn mình.

HOÀNG HẬU – Thái tử tiếp các khanh có tử tế không?

RO-DEN-CRAN – Thưa, thật đúng như một người lịch thiệp.

GHIN-ĐƠN-XTƠN – Nhưng bên trong vẫn có vẻ gì gượng gạo.

RO-DEN-CRAN – Người hỏi rất ít, nhưng trả lời những câu hỏi của chúng thần
thì huyên thuyên dài dòng.

HOÀNG HẬU – Thế các khanh có kiếm cách gì cho thái tử tiêu khiển không?

RO-DEN-CRAN – Tâu lệnh bà, trên đường đi tình cờ chúng thần gặp một bọn
đào kép. Chúng thần có thưa bày và thái tử tỏ vẻ vui thích lắm. Bọn họ hiện ở quanh
quẩn trong cung này và hình như đã nhận được lệnh trình diễn đêm nay hầu thái tử.

PÔ-LÔ-NI-ÚT – Thưa, đúng như vậy. Chính thái tử có khẩn khoản nhờ thần mời
bệ hạ và lệnh bà tới ngự làm đêm nay.

VUA – Trẫm rất vui lòng. Trẫm hài lòng khi biết thái tử tìm được nguồn thích
thú như vậy. Các khanh ạ, nên khuyến khích thêm thái tử nữa vào những trò giải
trí ấy.

RO-DEN-CRAN – Tâu bệ hạ, chúng thần xin tuân thượng lệnh.

(Rô-den-cran và Ghin-đơn-xton vào.)

VUA – Ái khanh nữa, xin mời ái khanh cũng tạm lui. Trẫm đã ra mật lệnh cho tìm
Hăm-lét tới đây, làm như thể tình cờ y bắt gặp Ô-phê-li-a ở nơi này. Trẫm sẽ đích thân
cùng tướng công Pô-lô-ni-út, như hai thám tử hợp pháp, ngồi vào một nơi kín, nhìn
thấy hết mà không ai nhìn thấy mình, để tận mắt quan sát mọi cử chỉ của y qua cuộc
gặp gỡ, xem có phải chính bệnh tương tư là nguyên nhân làm y quẫn trí chăng.

HOÀNG HẬU - Xin vâng lệnh bệ hạ, còn Ô-phê-li-a con, ta mong rằng chính
nhan sắc yêu kiểu của con là nguyên nhân tốt lành của bệnh hoạn của Hăm-lét và
ta hi vọng đức hạnh của con sẽ làm cho nó trở lại bình thường; vì danh dự của cả
hai con đấy!

Ô-PHÊ-LI-A – Tâu lệnh bà, con cũng mong như thế.

(Hoàng hậu vào.)

PÔ-LÔ-NI-ÚT - Ô-phê-li-a, con cứ đi đi lại lại ở chỗ này - Xin Bệ hạ cùng thần lánh
vào đây. (nói với Ô-phê-li-a) Con hãy cầm cuốn sách này và đọc đi. Như thế mới thêm vẻ
tự nhiên trong lúc cô đơn. Đời vẫn thường chê trách rằng ta khoác cái vẻ trầm mặc
thành kính và bộ điệu chân tu nhiều khi cũng đường mật đánh lừa được cả ma quỷ.
Điều đó đã được chứng tỏ quá nhiều rồi.

VUA - Ôi, đúng quá thật! Lời nói như roi quất vào lương tâm ta. Đôi má của gái
hồng lâu (1), rực rỡ vì son tô phấn điểm, cũng không thể xấu xa hơn hành động của ta
được điểm phấn tô son bằng những lời hoa gắm mĩ miều. Ôi, gánh nặng của tội ác!

(Vua và Pô-lô-ni-út vào. Hăm-lét ra.)

HĂM-LÉT – Sống, hay không sống (2) – đó là vấn đề. Chịu đựng tất cả những viên
đá, những mũi tên của số mệnh phũ phàng, hay là cầm vũ khí vùng lên mà chống
lại với sóng gió của biển khổ, chống lại để mà diệt chúng
đi, đằng nào cao quý hơn? Chết, là ngủ. Không hơn. Và
tự nhủ rằng ngủ đi tức là chấm dứt mọi đau khổ của cõi
lòng và muôn vàn vết tử thương mà hình hài phải chịu
đụng, kết liễu cuộc đời như thế, chẳng đáng mong muốn
sao? Chết, ngủ. Ngủ, có thể chỉ là mơ. Hừ! Đây mới là

Sự xung đột với cả thời đại
đã để lại dấu ấn như thế
nào trong nội tâm Hăm-lét?

điều khó khăn. Vì, trong giấc ngủ của cõi chết ấy, khi ta đã thoát khỏi cái thể xác
trần tục này, những giấc mơ nào sẽ tới, điều đó làm cho ta phải ngừng lại mà suy
nghĩ. Chính điều đó gây ra bao tai hoạ cho cuộc sống dằng dặc này! Bởi vì, ai là
người có thể chịu đựng những roi vọt và khinh khi của thời đại, sự áp bức của kẻ
bạo ngược, hống hách của kẻ kiêu căng, những nỗi giày vò của tình yêu tuyệt vọng,
sự trì chậm của công lí, hỗn xược của cường quyền, sự miệt thị của kẻ bất tài đối với
đức tài nhẫn nhục, khi chỉ cần với một mũi dùi là có thể đủ đưa mình đến chỗ yên
nghỉ. Có ai đành cam chịu, than văn rên rỉ, đổ mồ hôi dưới gánh nặng của cuộc đời
mệt mỏi, nếu không phải chỉ vì sợ một cái gì mênh mang sau khi chết, cả một thế
giới huyền bí mà đã vượt biên cương thì không một du khách nào còn quay trở lại,
nỗi sợ làm cho tâm trí rối bời và bắt ta phải cam chịu mọi khổ nhục trên cõi thế này
còn hơn là bay tới những nỗi khổ nhục khác mà ta chưa hề biết tới? Đấy, chính nỗi
vướng mắc của tâm tư ấy làm cho chúng ta trở thành hèn mạt tất cả, và ngọn lửa của
quyết tâm vừa bùng lên đã mờ nhạt ốm yếu đi trước ánh leo lắt của ý nghĩ đó, bao
dự kiến lớn lao, cao quý cũng phải xoay chiều đổi hướng, chẳng thể biến thành
hành động. – Thôi khẽ chứ! Kìa Ô-phê-li-a yêu kiểu! Nữ thần của ta ơi, khi nàng cầu
nguyện, xin nàng đừng quên những tội lỗi của ta.

Ô-PHÊ-LI-A – Kính thưa Điện hạ, chẳng hay sức khoẻ
của người bấy lâu nay ra sao?

Chú ý sự khác biệt giữa lời
Hăm-lét nói với Ô-phê-li-a
trong độc thoại và đối thoại.

HĂM-LÉT – Xin đa tạ cô em, tôi vẫn được như thường,
như thường, như thường.

Ô-PHÊ-LI-A – Thưa Điện hạ, thiếp còn giữ những kỉ vật người trao tặng, đã từ
lâu thiếp vẫn mong được gửi lại, mong người nhận cho.

HĂM-LÉT – Không, không, tôi nào có hể tặng cô em cái gì bao giờ.

(1)

Gái hồng lâu: ca kĩ, gái điểm (hồng lâu: lầu hồng – hình ảnh ước lệ chỉ chốn sang trọng quý phái, có khi chỉ chốn
chơi bời phóng đãng).

(2)

Câu này dịch giả dịch là "Sống, hay không nên sống". Người biên soạn sách giáo khoa lược bỏ chữ "nên" cho
sát hơn với nguyên tác.

TRỊ THỨC

VUA - Ôi, đúng quá thật! Lời nói như roi quất vào lương tâm ta. Đôi má của gái
hồng lâu , rực rỡ vì son tô phấn điểm, cũng không thể xấu xa hơn hành động của ta
được điểm phấn tô son bằng những lời hoa gắm mĩ miều. Ôi, gánh nặng của tội ác!

Sự xung đột với cả thời đại
đã để lại dấu ấn như thế
nào trong nội tâm Hăm-lét?

Ô-PHÊ-LI-A – Kính thưa Điện hạ, chẳng hay sức khoẻ
của người bấy lâu nay ra sao?
HĂM-LÉT – Xin đa tạ cô em, tôi vẫn được như thường
như thường, như thường.

(1)

Gái hồng lâu: ca kĩ, gái điểm (hồng lâu: lầu hồng – hình ảnh ước lệ chỉ chốn sang trọng quý phái, có khi chỉ chốn
chơi bời phóng đãng).

(2)

Câu này dịch giả dịch là "Sống, hay không nên sống". Người biên soạn sách giáo khoa lược bỏ chữ "nên" cho
sát hơn với nguyên tác.

Ô-PHÊ-LI-A Thưa Điện hạ tôn kính, Điện hạ cũng thừa biết là có và Người đã
gửi gắm theo những kỉ vật ấy những lời xiết bao tình tứ làm cho chúng càng tôn
thêm giá. Nhưng bây giờ hương đã tàn phai, xin chàng giữ lấy; bởi vì đối với một
tâm hồn cao quý, quà tặng quý giá đến đâu chăng nữa, nào còn có ý nghĩa gì một
khi người trao đã thờ ơ lạnh nhạt. Thưa đây, Điện hạ.
HĂM-LÉT - A ha! Cô em có phải là người đức hạnh không?
Ô-PHÊ-LIA - Thưa Điện hạ!...
HĂM-LÉT – Cô em có phải là người nhan sắc không?
Ô-PHÊ-LI-A – Điện hạ định nói gì?
HĂM-LÉT Nếu cô vừa là người đức hạnh lại vừa nhan sắc, thì đức hạnh làm
sao có thể nói chuyện được với nhan sắc của cô?
Ô-PHÊ-LI-A - Sao, thưa Điện hạ, nhan sắc còn có thể hoà hợp với cái gì hơn là
đức hạnh?
HĂM-LÉT - Chứ sao! Vì nhan sắc có mãnh lực biến
đức hạnh thành phóng đãng, nhưng đức hạnh không thể
nào khép nhan sắc vào khuôn khổ nết na. Ngày xưa, đó
là điều nghịch lí, nhưng ngày nay thì đã được chứng thực
rồi. Có một thời, tôi đã yêu cô em.

Chú ý việc thể hiện ý
thức của Hăm-lét về mối
quan hệ giữa nhan sắc
và đức hạnh trong thời
đại đảo điên.

Ô-PHÊ-LI-A - Thực thế, thưa Điện hạ, chính Người đã làm cho thiếp tưởng
như vậy.
(Theo Uy-li-am Sếch-xpia, Hăm-lét, Bùi Anh Kha - Bùi Ý - Bùi Phụng dịch,
NXB Văn học, Hà Nội, 1986, tr. 89–94)

Kết nối với cuộc sống

Uy-li-am Sếch-xpia (1564-1616) là nhà soạn kịch, nhà thơ nổi tiếng nhất
của nước Anh thời Phục hưng. Ông sinh ra và lớn lên tại thị trấn Xtơ-rét-phớt
(Stratford) ở tây nam nước Anh, trong một gia đình buôn bán len, dạ. Khi mới
mười bốn tuổi, do gia đình sa sút, Sếch-xpia phải thôi học. Từ khoảng năm
1585, ông lên thủ đô Luân Đôn kiếm sống, tham gia giúp việc cho một đoàn
kịch, trở thành diễn viên, nhà soạn kịch kiêm đạo diễn, rồi người đồng sở hữu
đoàn kịch. Năm 1599, Sếch-xpia tham gia dựng nên Nhà hát Địa Cầu. Năm
1608, đoàn kịch của ông sở hữu thêm nhà hát có mái che đầu tiên ở Luân
Đôn. Tên tuổi của Sếch-xpia bắt đầu được nhắc đến trong giới nghệ thuật
từ năm 1592. Sáng tác của ông gồm 37 vở kịch, 4 bản trường ca và 154 bài
thơ xon-nê (sonnet), cho đến nay vẫn được coi là những kiệt tác hàng đầu
của văn học thế giới.

Portrait of William Shakespeare, drawn by Martin Droeshout, 1623. Text: Uy-li-am Sếch-xpia, tranh của Mác-tin Đrô-sút (Martin Droeshout), 1623

Kịch của Sếch-xpia bao gồm nhiều thể loại (kịch lịch sử, hài kịch, bi kịch, bi hài kịch), trong đó
nổi bật là bi kịch với nhiều kiệt tác như: Rô-mê-ô (Romeo) và Giu-li-ét (Juliet), Vua Lia (Lear), Ô-ten-lô
(Othello), Mắc-bét (Macbeth) và đặc biệt là Hăm-lét. Bi kịch của ông chứa đựng những suy ngẫm mang
tính nhân văn sâu sắc, được thể hiện qua các hình tượng nhân vật phóng khoáng, tự do, có tính cách

mạnh mẽ; qua lời thoại sắc sảo, tinh tế; qua nghệ thuật triển khai, đan xen các tuyến xung đột, các
tuyến hành động kịch mang tính chất dồn nén, tập trung. Sếch-xpia thường xây dựng các vở bi kịch
của mình dựa trên một số cốt truyện, truyền thuyết có sẵn, nhưng ông đã mở rộng, khơi sâu chủ đề để
dựng nên những hình tượng bất tử.
Bi kịch năm hồi Hăm-lét là sáng tác đỉnh cao của Sếch-xpia, được viết trong khoảng thời gian
1599 1601. Câu chuyện hoàng tử xứ Đan Mạch thời Trung cổ là Âm-lét (Amleth) trả thù cho cha từng
được ghi lại trong biên niên sử từ cuối thế kỉ XII của Xắc-xơ Gram-ma-ti-cút (Saxo Grammaticus), được
Phơ-răng-xoa đơ Ben-phóc (François de Belleforest) kể lại vào năm 1576. Sếch-xpia có lẽ đã dựa vào
bản kể này để xây dựng vở bi kịch của mình với nhiều sáng tạo: Ông đặt nhân vật vào bối cảnh hậu kì
Phục hưng, khi lí tưởng nhân văn chủ nghĩa lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc bởi xung đột với
thực tại lịch sử nghiệt ngã. Cảm quan u tối về thực tại và ý chí đấu tranh khẳng định lí tưởng nhân văn
chủ nghĩa của nhân vật trong vở kịch bắt nguồn từ đó.
Sống, hay không sống – đó là vấn đề là màn kịch nổi tiếng nhất trong Hăm-lét. Nó không chỉ góp
phần khơi sâu tư tưởng chủ đề của vở kịch, mà còn gợi nhiều suy ngẫm về bản tính con người, về những
“nỗi vướng mắc tâm tư và trăn trở muôn đời của con người trong cuộc sống. Đoạn độc thoại của Hăm-lét
trong màn kịch này đã khơi nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật đời sau.

1.

Xác định ý nghĩa lời thoại của các nhân vật trước khi Hăm-lét xuất hiện.

2.

Nêu nhận xét chung về tâm trạng của Hăm-lét thể hiện qua lời độc thoại. Theo mạch suy
tưởng của Hăm-lét, lời độc thoại có thể chia làm mấy phần, nội dung từng phần là gì?

3.

Có thể xác định cách hiểu của Hăm-lét về “sống” và “không sống" như thế nào?

4.

Nêu lí do khiến Hăm-lét cho rằng "chết" đáng "mong muốn" mà cũng là “điều khó
khăn" buộc người ta phải "ngừng lại mà suy nghĩ".

5.

Phân tích ý thức của Hăm-lét về những “khổ nhục trên cõi thế" mà con người phải
gánh chịu. Theo bạn, Hăm-lét sợ “nỗi khổ nhục” gì ở cõi "mênh mang sau khi chết"?

6.

Hăm-lét đã nhận thức như thế nào về nguyên nhân tình trạng do dự, không thể hành
động quyết đoán của chính mình? Dựa vào phần tóm tắt vở kịch, hãy cho biết Hăm-lét
đã làm gì sau khi nhận thức được bản chất vấn đề.

7.

Chỉ ra tính chất bi kịch của xung đột được thể hiện qua lời độc thoại của Hãm-lét. Theo
bạn, trong xã hội hiện đại, xung đột đó có còn tồn tại hay không? Căn cứ để bạn nêu ý
kiến về vấn đề này là gì?

Kết nối đọc – viết

Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) nêu cảm nhận của bạn về con người Hăm-lét được
thể hiện qua lời độc thoại trong Sống, hay không sống – đó là vấn đề.

Văn bản 2

Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Trích Vũ Như Tô) Nguyễn Huy Tưởng

Phải chăng giá trị của nghệ thuật là ở chỗ nó có ích cho đời sống?

HỒI THỨ NĂM Một cung cấm LỚP I Vũ Như Tô - Đan Thiềm

VŨ NHƯ TÔ – Có việc gì mà bà chạy hớt hơ hớt hải? Mặt bà cắt không còn hột máu.
ĐAN THIẾM (thở hổn hển) – Nguy đến nơi rồi... Ông Cả!
VŨ NHƯ TÔ – Lạ chưa, nguy làm sao? Đài Cửu Trùng
chia năm đã được một phần.

Lời thoại và hành động
thể hiện thái độ gì của các
nhân vật?

ĐAN THIẾM - Ông trốn đi, mau lên không thì không kịp.
VŨ NHƯ TÔ - Sao bà nói lạ? Đài Cửu Trùng chưa
xong, tôi trốn đi đâu. Làm gì phải trốn?

TRỊ PHÚC

ĐAN THIẾM - Ông nghe tôi! Ông trốn đi! Ông nghe tôi! Ông phải trốn đi
mới được!
VŨ NHƯ TÔ – Làm sao tôi cần phải trốn? Bà nói rõ cho là vì sao? Khi trước tôi
nhờ bà mách đường chạy trốn, bà khuyên không nên, bây giờ bà bảo tôi đi trốn, thế
là nghĩa gì?
ĐAN THIẾM Có nghĩa lắm. Tôi không làm một việc gì vô lí cả. Khi trước trốn
đi thì ông nguy, bây giờ trốn đi thì ông thoát chết.
VŨ NHƯ TÔ Sao thế?
ĐAN THIẾM – Loạn đến nơi rồi. Dân gian đói kém
nổi lên tứ tung. Giặc Trần Cao trước đã bị quan quân đuổi
đánh, nay lại về đóng ở Bồ Đề, thanh thế rất mạnh. Trong
triều, Nguyên Quận công Trịnh Duy Sản vì can vua mà
bị đánh, nay mưu với mấy tên đồng chí, giả mượn tiếng đi dẹp giặc rồi quay binh
về làm loạn.

Tình huống kịch được
miêu tả trong lớp I là gì?

VŨ NHƯ TÔ – Tôi làm gì nên tội?
ĐAN THIÊM Vậy mà ai ai cũng cho ông là thủ phạm. Vua xa xỉ là vì ông, công
khố hao hụt là vì ông, dân gian lầm than là vì ông, man di oán giận là vì ông, thần
nhân trách móc là vì ông. Cửu Trùng Đài, họ có cần đâu? Họ dấy nghĩa cốt giết ông,
phá Cửu Trùng Đài.
VŨ NHƯ TÔ – Phá Cửu Trùng Đài? Không đời nào? Mà tôi thì không làm gì nên
tội. Họ hiểu nhầm.

ĐAN THIÊM Ông phải trốn đi. (có tiếng quân ẩm ẩm,
tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng tù và, tiếng ngựa hí) Ông phải
trốn đi. (lời có vẻ van lớn) Trong lúc biến cố này, ông hãy
tạm lánh đi. Khi dân nổi lên, họ nông nổi vô cùng. Họ không phân biệt phải trái.
Ông trốn đi. Tài kia không nên để uống. Ông mà có mệnh hệ nào thì nước ta không
còn ai tô điểm nữa.

Bối cảnh nào được tái hiện
thông qua các chỉ dẫn
sân khấu?

VŨ NHƯ TÔ - Bà không nên lo cho tôi. Tôi không trốn đâu. Người quân tử
không bao giờ sợ chết. Mà vạn nhất có chết, thì cũng phải để cho mọi người biết
rằng công việc mình làm chính đại quang minh. Tôi sống với Cửu Trùng Đài, chết
cũng với Cửu Trùng Đài. Tôi không thể xa Cửu Trùng Đài một bước. Hồn tôi để cả
đây, thì tôi chạy đi đâu?
ĐAN THIÊM - Ông Cả! Ông nghe tôi. Trốn đi để chờ cơ hội khác. Đại sự hỏng rồi.
VŨ NHƯ TÔ – Đa tạ bà. Tấm lòng của bà, chỉ có lòng cha mẹ tôi mới sánh kịp.
Nhưng tôi đã quyết, không chịu rời Cửu Trùng Đài một bước. Tôi quyết ở đây.
ĐAN THIẾM (thất vọng) – Ông Cả ơi!

TRITHOG
VỚI CUỘC SỐNG

LỚP II Những người trên, thêm Nguyễn Vũ

NGUYỄN VŨ (lật đật và xộc xệch) – Kìa, thầy Cả.
VŨ NHƯ TÔ - Lạy Cụ lớn.
NGUYỄN VŨ – Thầy có biết việc gì không?
VŨ NHƯ TÔ – Bẩm Cụ lớn, không. Duy có bà Đan Thiểm đây vừa mới bảo với
chúng tôi rằng Nguyên Quận công làm phản.
NGUYỄN VŨ (hất hàm hỏi Đan Thiềm) – Thế nào?
ĐAN THIẾM - Chúng tôi cũng không rõ. Nghe như Quận công làm phản. Cụ
lớn có biết tin gì thêm không?

NGUYỄN VŨ – Đúng thế đấy. Ta vừa chạy đến đây. Thiên tử đâu? Chiều hôm
kia ta còn uống rượu trong nội điện với Hoàng thượng.
ĐAN THIẾM (rú lên) – Cái gì đó? (có tiếng động âm ẩm ở xa) Họ tiến lại đây chăng? (quay
bảo Vũ Như Tô Ông trốn đi, mau lên, khổ lắm. (lắng tai) Có tiếng quân reo... (líu lưỡi)
NGUYỄN VŨ – Ta lo cho Hoàng thượng lắm. Duy Sản
là một đứa tiểu nhân. Nó vẫn căm giận Hoàng thượng và
ta. Ta hối không can Hoàng thượng, lại để cho ngài sai
đánh nó quá đau, mà lại ở ngay giữa chợ. Thẹn quá hoá
giận, đứa tiểu nhân thì nghĩ chỉ đến nghĩa vua tôi!

Chú ý thái độ của Vũ Như Tô,
Đan Thiềm khi Nguyễn Vũ
xuất hiện.

ĐAN THIẾM (quay bảo Vũ Như Tô) – Ông định chết ở đây sao? Ông gàn quá.
Quận công có ưa gì ông đâu?
VŨ NHƯ TÔ (xẵng) – Bà để mặc tôi. Tôi tự có cách khu xử.
ĐAN THIỀM – Đấy, tiếng reo mỗi lúc một gần. Kìa, thái giám, chắc có tin gì?
Nội giám(1) hoảng hốt vào.

LỚP III Những người trên, thêm Lê Trung Mại

LÊ TRUNG MẠI – Bẩm Cụ lớn, nguy đến nơi rồi. Kìa mụ Đan Thiểm sao lại ở
đây? Mụ ra là giống quái,...
NGUYỄN VŨ – Có việc chỉ, Trung Mại?

RITHÚC

LÊ TRUNG MẠI – Bẩm Cụ lớn, Trịnh Duy Sản mưu với lũ Lê Quảng Đô, Trịnh
Tri Sâm lập vua khác, đêm qua đã kéo quân vào cửa Bắc Thần...
NGUYỄN VŨ – Thiên tử đâu?
LÊ TRUNG MẠI - Bẩm, nguyên Trịnh Duy Sản sắm
sửa thuyền bè khí giới, họp ở bến đò Thái Cực, nói reo lên
là đi đánh Trần Cao, rồi đương đêm đem ba nghìn quân
Kim Ngô hộ vệ vào cửa Bắc Thần đốt lửa cho sáng,...

Sự kiện nào được miêu tả
trong lớp III?

NGUYỄN VŨ (nóng ruột, giậm chân gắt) – Thiên tử đâu? Nói mau lên.
LÊ TRUNG MẠI - Hoàng thượng trông thấy lửa sáng, hốt hoảng tưởng là giặc ập đến
vội lên ngựa lẻn ra cửa Bảo Khánh, trời thì tối mà cứ lao mình đi không đèn đuốc gì cả.
Khi ngài qua cửa Thái Học đến ao Chu Tước ở phường Bích Câu thì vừa gặp Duy Sản...

(1)

Nội giám (hay thái giám, hoạn quan): một chức quan hầu cận trong cung vua.

NGUYỄN VŨ – Gặp Duy Sản? Trời! Thế thì còn gì? Nói mau lên.
LÊ TRUNG MẠI – Ngài hỏi nó: Giặc ở đâu? Nó không đáp, ngoảnh mặt đi cười
nhạt. Ngài quất ngựa về phía tây, nó sai võ sĩ là tên Hạch đuổi theo, đâm vua ngã
ngựa rồi giết chết. (khóc)
NGUYỄN VŨ (khóc) - Hoàng thượng ơi! Hạ thần mới nghe câu chuyện đã đoán
ngay có sự này. (cảm động quá, ngã xuống)
LÊ TRUNG MẠI (nức nở) – Khốn nạn, Khâm Đức Hoàng hậu thương vua cũng
nhảy vào lửa chết... (không nói được nữa)
VŨ NHƯ TÔ – Xin Cụ lớn hãy để nghe xem có thực không đã. Không có lẽ...
(vực Nguyễn Vũ dậy) Bẩm Cụ lớn.
NGUYỄN VŨ (vẫn khóc) Thực đấy rồi. Thôi để mặc ta. Duy Sản ta đã biết, nó
tàn nhẫn vô cùng. Hoàng thượng ơi! Ơn tri ngộ mới được tám năm... Hoàng thượng
băng hà lão thần cũng không yên được với chúng. Ăn lộc của vua, xin chết vì nạn
của vua. Lão thần không muốn kéo dài kiếp sống tàn làm gì nữa. (rút dao đâm cổ
tự tử và ngã lăn ra)
LÊ TRUNG MẠI – Trời ơi! Cụ lớn Đông các! (vực dậy, máu me đầm đìa)
NGUYỄN VŨ – Thôi mặc ta cho ta chết. Sống chỉ thêm nhục nhã. (ngất đi)
VŨ NHƯ TÔ (nhìn Đan Thiềm, nhìn thây Nguyễn Vũ) – Thảm não chưa?
LÊ TRUNG MẠI (sờ người Nguyễn Vũ) - Có lẽ Cụ lớn chết rồi. Sao chóng thế
được? Chết thực rồi!

KẾT NỐI TRỊ THỨC

ĐAN THIÊM (thở dài) – Biến đến thế là cùng!
Một bọn nội giám nữa vào.

SỐNG

LỚP IV Những người trên, thêm một bọn nội giám khác

MỘT TÊN NỘI GIÁM - Cụ lớn làm sao? Tình thế
nguy ngập! Đứng ở đây để chết cả lũ ư?
LÊ TRUNG MẠI – Việc chi nữa?

Sự kiện nào được miêu tả
trong lớp IV?

TÊN NỘI GIÁM - Trịnh Duy Sản giết Thiên tử, hội triều đình lập con Mục Y
Vương là Quang Trí lên ngôi. Có Võ Tả Hầu là Phùng Mai đứng lên mắng quân
phản nghịch. Đảng ác bắt Phùng Mai chém ngay ở nhà Nghị sự. Trong triều còn
đang rối loạn thì An Hoà Hầu Nguyễn Hoằng Dụ ở bên Bồ Đề được tin vua bị giết,

kéo quân về đốt phá kinh thành. Thợ xây Cửu Trùng Đài quá nửa theo về quân
phản nghịch. Tình hình nguy ngập lắm rồi.
VŨ NHƯ TÔ – Thợ theo quân phản nghịch? Thế còn
Cửu Trùng Đài?
TÊN NỘI GIÁM Kẻ phá, người đốt...
VŨ NHƯ TÔ – Vô lí.

Chú ý sự khác biệt trong
hành động, thái độ của
các nhân vật trong tình
thế nguy ngập.

BỌN NỘI GIÁM – Vô lí? Vô lí? Để Cửu Trùng Đài làm gì? Vì đâu mà có quân
phản nghịch? An Hoà Hầu đang cho tìm mấy lũ cung nữ để phanh thây làm trăm
mảnh. Mày không biết tội hay sao?
VŨ NHƯ TÔ – Vô lí. (Có tiếng kêu mỗi lúc một gần: “Bạo chúa đã chết. Còn thằng
Vũ Như Tô, đem phanh thây trăm mảnh”. Có tiếng đổ ẩm ẩm. Họ chạy cả.)
LÊ TRUNG MẠI (nháy bọn nội giám) – Tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách. Tham
quyền cố vị gì, anh em nghĩ sao?
BỌN NỘI GIÁM - Chạy đi anh em ơi! (họ chạy nốt)

LỚP V Vũ Như Tô - Đan Thiềm

ĐAN THIẾM - Ông Cả! Ông chạy đi! Ông có nghe tiếng gì không? Quân giặc
đang tìm ông đấy: trốn đi!

VỚI CUỘC SỐNG

VŨ NHƯ TÔ – Họ tìm tôi, nhưng có lí gì họ giết tôi. Tôi có gây oán gây thù gì
với ai?
ĐAN THIẾM – Ông đừng mơ mộng nữa. Dân chúng nông nổi, dễ sinh tàn ác.
Họ không hiểu công việc của ông. Tránh đi! Trốn đi! Đợi thời là thượng sách. Đừng
để phí tài trời. Trốn đi!
VŨ NHƯ TÔ – Còn bà?
ĐAN THIẾM Tôi ở đây. (Có tiếng quân reo dữ dội:
“Giết chết Vũ Như Tô, giết chết lũ cung nữ”.)

Chú ý thái độ của Vũ Như
Tô và Đan Thiềm.

VŨ NHƯ TÔ (thản nhiên) – Bà ở đây. Vậy tôi cũng ở đây, nguy biến ta cùng chịu.

(1)

Tham quyền cố vị: cố giữ lấy quyền hành, địa vị, không chịu rời bỏ (cho dù đã không còn đủ năng lực hoặc
điều kiện để làm việc).

ĐAN THIẾM Không được! Tôi chết đi không thiệt hại cho đời. Còn ông, ông
phải đi đi mới được. (có tiếng nhà đổ, tiếng của đổ) Ông đi đi không thì không kịp.
(nàng chắp tay lạy) Tôi xin ông, ông nghe tôi trốn đi.
Có tiếng giày dép nhốn nháo. Bọn cung nữ hốt hoảng đi vào.

LỚP VI Những người trên – Kim Phượng - Cung nữ

KIM PHƯỢNG (khóc lóc) - Làm thế nào bây giờ? Cửa điện bị chúng phá rồi!
Chúng đứng đầy ngoài sân. (hỏi Đan Thiềm) Đây có cửa ra đằng sau không?
ĐAN THIÊM – Đến đây là đường cùng rồi! Đây là tử địa!
CUNG NỮ - Trời ơi!
ĐAN THIÊM (bảo Vũ Như Tô) - Ông Cả ơi! Có trốn cũng không được nữa. Ông
nguy mất. (nàng khóc)
Quân khỏi loạn kéo vào, gươm giáo sáng loè.

LỚP VII Những người trên, thêm Ngô Hạch và quân khỏi loạn

QUÂN KHỞI LOẠN – Đây rồi! Vũ Như Tô! Lũ cung nữ!
NGÔ HẠCH Quân bay, vào bắt lũ cung nữ trước.
CUNG NỮ (quỳ xuống) – Trăm lạy tướng quân, trăm lạy tướng quân.
NGÔ HẠCH - Ta vâng tướng lệnh vào bắt các ngươi.
KIM PHƯỢNG (quỳ xuống) - Chị em chúng tôi không
có tội gì. Xin tướng quân sinh phúc. (Đan Thiêm bĩu môi
thở dài) Kẻ hay xúc xiểm vua là ả kia. (chỉ Đan Thiềm)
Chính nó mê hoặc vua. Chính nó dan díu với Vũ Như Tô,
làm uế tạp nơi cung cấm, chính nó là thủ phạm.
CUNG NỮ Chính nó là thủ phạm.
ĐAN THIẾM Lũ yêu quái không được đặt để nên nhời, tướng quân nên thấu
cho. Tôi không sợ chết, nguyện xin được chết. Nhưng tôi không phải là con người bất
chính. Tôi nói thế không hổ với quỷ thần hai vai, không hổ với thanh thiên bạch nhật.

KẾT NỐI TRỊ THỨC
SỐNG

Chú ý hành động của
đám cung nữ và quân
khởi loạn.

CUNG NỮ – Chính con Đan Thiểm là thủ phạm. (nhìn lẳng lơ, bọn quân sĩ như bị quyến rũ)
NGÔ HẠCH Ta đã biết! Quân bay, vào bắt lấy gian phu dâm phụ.
ĐAN THIẾM Tướng quân không nên nói thế.
VŨ NHƯ TÔ – Giết thì cứ giết, nhưng đừng nghi oan.
ĐAN THIẾM Tướng quân nghe tôi. Bao nhiêu tội tôi xin chịu hết. Nhưng xin
tướng quân tha cho ông Cả. Ông ấy là một người tài...
QUÂN KHỞI LOẠN (cười ầm) – Thế mà còn mở mồm cãi. Mày chết để chồng
mày sống à?
ĐAN THIẾM Các người chỉ nghĩ những điều quá quắt.
QUÂN KHỎI LOẠN – Chúng ông chỉ có thế, con đĩ già câm miệng.
NGÔ HẠCH - Trói cổ nó lại,
ĐAN THIỀM (quỳ xuống) – Tướng quân tha cho ông Cả. Nước ta còn cần nhiều
thợ tài để tô điểm.
NGÔ HẠCH (cười ha hả) – Cần thợ tài để tô điểm. Để hao hụt công khố, để dân
gian lầm than.
VŨ NHƯ TÔ - Đan Thiểm, bà đứng dậy. Sao bà lẩn thẩn thế, lạy cả một đứa
tiểu nhân?
ĐAN THIÊM (đứng dậy) Tướng quân hãy nghe tôi,
đừng phạm vào tội ác. Đừng giết ông Cả. Kẻo tướng
quân mang hận về muôn đời! Tha cho ông Cả. Tôi xin
chịu chết.

Hành động, lời thoại của
Vũ Như Tô và Đan Thiềm
thể hiện thái độ gì của
nhân vật?

VOTCOOL
SONG

NGÔ HẠCH (truyền) – Trói cổ con đĩ già lại.
ĐAN THIÊM Tướng quân tha...
QUÂN KHỎI LOẠN (xúm vào trói nàng) - Đừng nói nữa vô ích, con dâm phụ.
ĐAN THIẾM - ... Tha cho ông Cả.
NGÔ HẠCH (thấy Như Tô chạy lại) – Trói thằng Vũ Như Tô lại. (quân sĩ xông vào
trói chàng có vẻ đắc ý)
ĐAN THIÊM (thất vọng) – Chỉ tại ông không nghe tôi, dùng dằng mãi. Bây giờ...
(nói với Ngô Hạch) Xin tướng quân...
NGÔ HẠCH Dẫn nó đi, không cho nó nói nhảm nữa, ròm tai. (quân sĩ dẫn nàng ra)
ĐAN THIẾM - Ông Cả! Đài lớn tan tành! Ông Cả ơi! Xin cùng ông vĩnh biệt!
(họ kéo nàng ra tàn nhẫn)

LỚP VIII Những người trên, trừ Đan Thiềm

VŨ NHƯ TÔ - Xin đa tạ tấm lòng tri kỉ. Đan Thiểm, xin cùng bà vĩnh biệt!
(buồn rầu, trấn tĩnh ngay) Đời ta chưa tận, mệnh ta chưa cùng. Ta sẽ xây một đài vĩ đại
để tạ lòng tri kỉ.
NGÔ HẠCH (chỉ bọn cung nữ bảo mấy tên quân) – Dẫn họ về dinh ta đợi lệnh.
MẤY TÊN QUÂN – Xin vâng lệnh. (dẫn cung nữ ra)
VŨ NHƯ TÔ (khinh bì) Mi thực là một tên bỉ ổi. Sao trời lại để cho mi sống làm
nhục cương thường!
NGÔ HẠCH Dẫn thằng này về trình chủ tướng.
VŨ NHƯ TÔ (đầy hi vọng) - Dẫn ta ra mắt An Hoà Hầu, để ta phân trần, để ta
giảng giải, cho người đời biết rõ nguyện vọng của ta. Ta tội gì. Không, ta chỉ có một
hoài bão là tô điểm đất nước, đem hết tài ra xây cho nòi giống một toà đài hoa
lệ, thách cả những công trình sau trước, tranh tinh xảo với Hoá công. Vậy thì ta có
tội gì? Ta xây Cửu Trùng Đài có phải đâu để hại nước?
Không, không! Nguyễn Hoằng Dụ sẽ biết cho ta, ta không
có tội và chủ tướng các người sẽ cởi trói cho ta để ta xây
nốt Cửu Trùng Đài, dựng một kì công muôn thuở...

Chú ý sự đối lập trong lời
thoại, hành động của Vũ
Như Tô và đám quân sĩ.

QUÂN SĨ (cười ẩm) – Câm ngay đi. Quân điên rồ, câm
ngay đi không chúng ông và vỡ miệng bây giờ. Mày không biết mấy nghìn người
chết vì Cửu Trùng Đài, mẹ mất con, vợ mất chồng vì mày đó ư? Người ta oán mày
hơn oán quỷ. Câm ngay đi!

DI CUOC SONG

VŨ NHƯ TÔ – ... Vài năm nữa, đài Cửu Trùng hoàn thành, cao cả, huy hoàng,
giữa cõi trần lao lực, có một cảnh Bồng Lai...
QUÂN SĨ - Câm mồm!
VŨ NHƯ TÔ ... Xuất hiện...
QUÂN SĨ - Câm mồm! (họ xúm vào vả miệng Vũ Như Tô)
VŨ NHƯ TÔ Ta có thù oán gì với các người?
NGÔ HẠCH – Dẫn nó ra pháp trường. Không để nó nói nhảm trước mặt chủ
tướng mất thì giờ.
QUÂN SĨ Ra pháp trường!
VŨ NHƯ TÔ - Không, dẫn ta ra mắt chủ tướng. Ta muốn nói chuyện với An
Hoà Hầu. Các người không hiểu được ta. (có tiếng ầm ầm như long trời lở đất)

MỌI NGƯỜI – Cái chi nghe kinh người?
Một lũ quân vào.

LỚP IX Những người trên, thêm một lũ quân

NGÔ HẠCH - Chúng bay đi đâu?
LŨ QUÂN – Bẩm tướng quân! Kinh thành phát hoả!
NGÔ HẠCH – Ai ra lệnh ấy?
MỘT TÊN QUÂN - Chính An Hoà Hầu!
VŨ NHƯ TÔ - Chính An Hoà Hầu! Thế Cửu Trùng Đài?
LŨ QUÂN Cửu Trùng Đài ư? Dã tràng xe cát! Cửu Trùng Đài sắp là một đống tro tàn!
VŨ NHƯ TÔ – Vô lí! Vô lí!
NGÔ HẠCH - Rõ quân ngu muội! Đến đầu mày chả chắc, nói chi đến Cửu
Trùng Đài mà còn tin tưởng.
VŨ NHƯ TÔ – Đời ta không quý bằng Cửu Trùng Đài.
QUÂN SĨ – Giống vật không biết nhục,
NGÔ HẠCH Dẫn nó đi. (chợt có ánh lửa sáng rực, cả tàn than, bụi khói bay vào)
VŨ NHƯ TÔ (nhìn ra, rú lên) - Đốt thực rồi! Đốt thực
rồi! Ôi đảng ác! Ôi muôn phần căm giận! Trời ơi! Phú cho
ta cái tài làm gì? Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu
Trùng Đài! (Có tiếng hô vui vẻ: “Cửu Trùng Đài đã cháy!")
QUÂN SĨ - Thực đáng ăn mừng.
VŨ NHƯ TÔ (chua chát) - Thôi thế là hết. Dẫn ta đến pháp trường!
Màn hạ nhanh.

Chú ý thái độ của Vũ Như
Tô khi biết Cửu Trùng Đài
bị đốt cháy.

Mùa hạ năm 1941
(Tuyển tập Nguyễn Huy Tưởng, tập I, NXB Văn học, Hà Nội, 1984, in trong
Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2018, tr. 217-227)

Nguyễn Huy Tưởng (1912 – 1960) quê ở làng Dục Tú, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc
Ninh (nay là xã Dục Tú, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội). Ông là nhà văn, nhà
viết kịch chuyên khai thác đề tài lịch sử. Các tác phẩm tiêu biểu của ông: Đêm hội
Long Trì (tiểu thuyết lịch sử, 1942), Vũ Như Tô (kịch lịch sử, 1943), An Tư (tiểu thuyết
lịch sử, 1944), Cột đồng Mã Viện (kịch lịch sử, 1944), Bắc Sơn (kịch lịch sử, 1946),...
Vũ Như Tô là vở bi kịch lịch sử gồm 5 hồi, được xây dựng dựa trên những sự
kiện có thật ở thành Thăng Long vào đầu thế kỉ XVI. Nhân vật chính trong vở kịch
là Vũ Như Tô, kiến trúc sư có chí lớn, tài cao, cương trực và không màng danh lợi.
Ông bị vua Lê Tương Dực bắt về kinh thành, ép xây dựng Cửu Trùng Đài để làm
nơi thoả mãn thú ăn chơi của y nhưng ông đã kiên quyết từ chối, thẳng thắn vạch tội nhà vua. Tuy nhiên,
khi nghe lời khuyên của Đan Thiềm, rằng hãy nhân cơ hội này, mượn tay bạo chúa để mang tài năng
cống hiến cho non sông, thực hành mộng lớn, lưu danh muôn thuở, Vũ Như Tô đã bắt tay vào xây dựng
Cửu Trùng Đài. Nhưng việc xây dựng công trình kì vĩ đó vô cùng tốn kém, khiến sưu thuế tăng cao, bao
nhiêu người phải bỏ mạng trong khi làm việc, dân chúng vì thế mà oán thán, căm ghét Vũ Như Tô. Cuối
cùng, Trịnh Duy Sản, một viên quan trong triều đình nhà Lê, đã kêu gọi dân chúng, quân lính, thợ thuyền
dấy binh làm phản, giết Lê Tương Dực, đốt Cửu Trùng Đài, bắt và giết Vũ Như Tô.
Đoạn trích trên nằm trong hồi cuối cùng của vở bi kịch.

Portrait of Nguyễn Huy Tưởng. Text: Nguyễn Huy Tưởng

1.

Tóm tắt các sự kiện chính trong đoạn trích. Bạn có nhận xét gì về diễn biến của các sự kiện?

2.

Tình huống kịch được miêu tả trong đoạn trích là gì? Trước tình huống đó, mỗi
nhân vật đã có những phản ứng, hành động như thế nào? Những phản ứng, hành
động đó thể hiện đặc điểm tính cách gì của nhân vật?

3.

Xung đột chính trong đoạn trích là gì? Xung đột đó được triển khai như thế nào qua
các lớp kịch?

HUC

4.

Phân tích diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô được thể hiện trong đoạn trích (dựa vào
các lời thoại và hành động của nhân vật).

SUNG

5.

Hình tượng Cửu Trùng Đài trong vở kịch có ý nghĩa gì? Bạn có suy nghĩ gì về những
phản ứng khác nhau của các nhân vật khi Cửu Trùng Đài bị đốt cháy?

6.

Vở kịch gợi cho bạn suy nghĩ gì về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống, giữa lí
tưởng và thực tế, giữa cá nhân và lịch sử?

7.

Trong lời đề tựa kịch Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng viết:
"Than ôi! Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải? Ta chẳng biết.
Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm."
Lời để tựa này cho thấy thái độ gì của tác giả đối với các nhân vật? Thái độ đó được
biểu hiện như thế nào qua văn bản Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài?

Kết nối đọc – viết

Theo bạn, vấn đề xã hội nào được đề cập trong đoạn trích? Viết một đoạn văn (khoảng
150 chữ) trình bày suy nghĩ của bạn về vấn đề đó.

Viết

Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên, xã hội

Ở lớp 10, bạn đã được thực hành viết báo cáo nghiên cứu, bước đầu rèn luyện kĩ năng
trình bày kết quả nghiên cứu về một vấn đề mà bạn quan tâm. Trong phần thực hành
viết của Bài 5 này, bạn sẽ lựa chọn một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội để viết báo cáo
nghiên cứu nhằm phát triển kĩ năng sử dụng các thao tác cơ bản của việc nghiên cứu; kĩ
năng trích dẫn, ghi cước chủ, lập danh mục tài liệu tham khảo và sử dụng các phương
tiện hỗ trợ phù hợp.

Yêu cầu

Kết nối trị thức

Bài viết tham khảo

VỚI CUỘC SỐNG

Rồng thành bậc điện Kính Thiên( và kiểu thức phương Nam

Trần Hậu Yên Thế (1)

Đặt vấn đề

Kiểu thức rồng chầu lan can thành bậc rất phổ biến
trong trang trí kiến trúc Đại Việt. Rồng được chạm khắc
uốn lượn nhịp nhàng tạo thành lan can thành bậc đã làm
nên vẻ uy nghi, hùng vĩ cho các cung điện, lăng tẩm của
nước Nam. Đôi rồng đá thành bậc ở điện Kính Thiên là đôi rồng đá hùng vĩ nhất

Giới thiệu vấn đề
nghiên cứu.

Điện Kính Thiên: công trình kiến trúc lớn được xây dựng năm 1428 (thời Hậu Lê), nơi cử hành những nghi lễ
quan trọng của triều đình.

(1)

Trần Hậu Yên Thế sinh năm 1970, quê ở Hà Tĩnh, là hoạ sĩ, nhà nghiên cứu lịch sử mĩ thuật.

hiện nay, một báu vật Hoàng thành, xứng đáng là Bảo vật quốc gia. Đây là kiểu thức
đặc trưng của trang trí kiến trúc người Việt, không hề xuất hiện ở Trung Hoa. Vậy
nó thực sự đến từ đâu?

Giải quyết vấn đề

Rồng chẩu thành bậc ở điện Kính Thiên là một hạng
mục trang trí kiến trúc. Nó có công năng cụ thể là làm lan
can thành bậc. Điện Kính Thiên vốn có chín bậc, do phải
tôn nền lên, nên hiện chỉ còn tám bậc. Từ sân Long Trì(1), bước lên chín bậc là tới
điện Kính Thiên. Đây là không gian thiêng liêng và quyền lực bậc nhất của kinh
thành. Thời Lê, trong Hoàng thành Thăng Long(2), ngoài điện Kính Thiên có khoảng
30 toà điện lớn nhỏ như điện Cần Chánh, Càn Đức, Phụng Tiên, Hội Anh, Văn
Minh, Giảng Võ, Bảo Quang, Hoàng Cực, Quỳnh Văn, Thuy Quang.... [...]

Trình bày các kết quả
nghiên cứu.

Sử dụng hình minh hoạ
hỗ trợ cho kênh chữ.

KET NOI
VỚI CUỘC SỐNG

Illustration of a dragon on a staircase. Text: Rồng điện Kính Thiên

Nghiên cứu kiến trúc cung điện Đại Việt, chúng ta luôn gặp một tình huống khó
xử tên gọi các công trình kiến trúc, các chỉ tiết kiến trúc, thậm chí là công cụ xây
dựng đều có nguồn gốc Trung Hoa. Bản thân chữ lan can cũng là chữ Hán, cũng có
khi còn gọi là câu lan. Đây là hạng mục kiến trúc có từ rất sớm trong kiến trúc Trung Hoa,
với tác dụng dẫn hướng, đảm bảo an toàn cho lối đi, vịn tay khi di chuyển. Nhưng
cũng như nhiều hạng mục kiến trúc Việt mang tên gọi Trung Hoa mà không thể tìm
thấy bóng dáng của nó ở bất cứ nơi đâu trên đất nước Trung Hoa. Lan can thành bậc
điện Kính Thiên là một ví dụ tiêu biểu.

(1)

Sân Long Trì: khoảng sân lớn nối từ Đoan Môn tới điện Kính Thiên.

(2)

Hoàng thành Thăng Long: trung tâm quyền lực của các triều đại phong kiến Việt Nam, gồm một quần thể
công trình kiến trúc đồ sộ được khởi công xây dựng từ thời nhà Lý và tiếp tục được xây dựng, cải tạo ở các
triều đại sau.

Thu thập thông tin từ
nhiều nguồn.

Khi ngắm đôi rồng ở điện Kính Thiên, ta sẽ bắt gặp
những đường nét phương Bắc với mắt tròn to, mũi cao,
sừng dài và có chạc (1) như sừng hươu. Đó là con rồng với
bàn chân năm ngón, móng sắc nhọn, thân hình lực lưỡng,
khí tượng đế vương, gần giống với con rồng thời Minh (Trung Hoa) hơn là thời Lý,
Trần (Đại Việt). Ta cũng cảm nhận như thế khi ngắm nhìn con rồng ở Lam Kinh,
Thanh Hoá thời Lê sơ. Lạ thay, nếu soi vào từng chi tiết thì thấy rất giống những
con rồng thời Nguyên, thời Minh; nhưng hễ đứng từ xa mà ngắm bậc thểm điện
Kính Thiên, thì thấy cái tinh thần
Lý, Trần của đôi rồng đá này.
Không gì khác đó chính là
kiểu thức rồng thành bậc mà ta
đã từng thấy ở chùa Phổ Minh (2)
(thời Trần), ở thành nhà Hồ (3)
(thời Hồ). Gần đây, trong
khu vực Hoàng thành Thăng
Long, các nhà khảo cổ cũng
khai quật được một phần của
hạng mục rồng chầu thành
bậc thời Trần. Dù đến nay,
chưa tìm thấy rồng thành bậc
thời Lý, nhưng có thể phỏng
đoán kiểu kiến trúc này đã có
từ thời Lý, thậm chí có thể đã
manh nha từ thời nhà Đinh và
Tiền Lê.

Illustration of a dragon on a stone platform. Text: Long bệ thạch điện Thái Hoà. Nguồn: Sách Long Phượng đồ điền

Mĩ thuật Trung Hoa có thể
tự hào với những bức tranh hay phù điêu rồng cực lớn.
Nhưng ở hình thức tượng tròn thì những con rồng Trung
Hoa có phần khiêm tốn về kích thước, nhỏ bé hơn nhiều
so với những con rồng mà ta thường thấy trên thành bậc
ở Việt Nam. Khi tham quan các cung điện Trung Hoa, chúng ta thường bắt gặp

Phân tích, đánh giá
thông tin.

(1)

Chạc: nhánh của sừng hươu, nai.

(2)

Chùa Phổ Minh: còn gọi là chùa Tháp, ở thôn Tức Mạc, tỉnh Nam Định, xây dựng từ thời nhà Lý và được tu bổ ở
các triều đại sau, nay còn lưu nhiều dấu ấn của nghệ thuật điêu khắc thời nhà Trần.

(3)

Thành nhà Hó: còn gọi là thành Tây Đô, thành Tây Kinh, là kinh đô nước Đại Ngu (quốc hiệu nước Việt Nam thời
nhà Hồ), nay nằm trên địa phận huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá.

kiểu thức long bệ thạch (1), bắt nguồn từ văn hoá Trung Hoa. Việc các cung điện
Trung Hoa khắc những đồ án bệ rồng như lưỡng long tranh châu hay long vân là
có liên hệ với danh xưng “bệ hạ”. Ngày xưa, bá quan văn võ khi cần tấu bẩm với
hoàng thượng thì phải đứng quỳ phía dưới mà nói vọng lên, do đó mà có từ bệ kiến.
Bệ đá trên lối lên vào cung điện – ngự đạo – nơi hoàng thượng thiết triều được khắc
rồng, tượng trưng cho sự hiện diện của nhà vua. Ở đây, đồ án rồng thể hiện đầy
đủ uy thế oai phong của hoàng đế. Cùng với ngai vàng, ngọc tỉ(2), bệ rồng là biểu
tượng cho hoàng gia nói chung và cho hoàng đế nói riêng. Trong đó, bệ rồng là biểu
tượng hoành tráng nhất. Bệ rồng ở Cố cung Bắc Kinh có chín con rồng được chạm
khắc với khí thế phi phàm, được đục nguyên từ một phiến đá dài hơn 17 mét, rộng
hơn 3 mét, nặng hơn 200 tấn. Long bệ thạch thường được chạm khắc hình ảnh hai
con rồng đang trong tư thế tranh giành ngọc báu nên gọi là lưỡng long tranh châu
hoặc nhị long hí châu.
Kiểu thức long bệ thạch này xuất hiện ở hầu hết các di tích cổ Trung Hoa, từ cung
điện, đền miếu đến lăng tẩm. Với dạng thức phù điêu này, rồng luôn được phô diễn
với kích thước lớn nhất trong các đồ án rồng trong không gian kiến trúc cung điện,
đến miếu, lăng tẩm. Nhưng do chỉ được tạo khối ở dạng phù điêu nên mặc dù kích
thước có lớn, chạm khắc có tinh xảo nhưng rồng ở các long bệ thạch Trung Hoa
không thực sự tạo được ấn tượng trong không gian. Hạn chế về tầm nhìn do góc
hút đã giảm đáng kể hiệu quả thị giác của kiểu thức đồ án này. So sánh về mặt hiệu
quả, kiểu thức rồng chẩu thành bậc của Việt Nam hiển nhiên gây ấn tượng trong
không gian hơn. Nhà Nguyễn tuy vẫn tiếp tục kiểu thức rồng phương Bắc bắt đầu
từ thời Lê sơ, nhưng lại trung thành với kiểu thức rồng chầu lan can thành bậc ở
Huế. Có điều, khác với các triều đại trước, lan can rồng thành bậc ở các cung điện
Huế lại nhỏ bé và khiêm nhường hơn rất nhiều so với lan can rồng thành bậc ở các
lăng mộ, như ở lăng vua Minh Mạng, Thuận Thiên Cao Hoàng hậu, lăng Thiệu Trị.

Kết luận

Nếu như kiểu thức rồng thành bậc không thể thấy ở trong kiến trúc của
Trung Hoa thì lại luôn xuất hiện ở các nước Đông Nam Á như
In-đô-nê-xi-a, Thái Lan, Lào, Cam-pu-chia (Campuchia).
Chỉ có khác một chút là thay vào hình rồng thì đó là

Khẳng định quan điểm
của người viết.

(1)

Long bệ thạch: bệ đá tạc hình rồng, tượng trưng cho quyền lực của nhà vua.

(2)

Ngọc tỉ: một loại ấn triện làm bằng ngọc, tượng trưng cho quyền lực tối cao của nhà vua, được dùng trong
những nghi thức và văn bản quan trọng nhất của quốc gia.

Xem bản PDF nguyên trang sách: Ngữ văn 11 tập 1 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 125–145).