Yêu cầu cần đạt
- Nhận biết được đặc điểm, chức năng của văn bản và đoạn văn; nhận biết được cách triển khai văn bản thông tin theo quan hệ nhân quả, tóm tắt được các ý chính của mỗi đoạn trong một văn bản thông tin có nhiều đoạn.
- Nhận biết được các chi tiết trong văn bản thông tin, chỉ ra được mối liên hệ giữa các chi tiết, dữ liệu với thông tin cơ bản của văn bản; hiểu được tác dụng của nhan đề, sa-pô (1), đề mục, chữ đậm, số thứ tự, dầu đầu dòng và vai trò của các phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ như hình ảnh, số liệu....
- Nhận biết được từ mượn và hiện tượng vay mượn từ đề sử dụng cho phù hợp.
- Viết được biên bản ghi chép đúng quy cách, tóm tắt được bằng sơ đồ nội dung chính của một số văn bản đơn giản đã đọc.
- Biết thảo luận về một vấn đề cần có giải pháp thống nhất.
- Chỉ ra được những vấn đề đặt ra trong văn bản có liên quan đến suy nghĩ và hành động của bản thân; có thái độ yêu quý và trân trọng sự sống của muôn loài; có ý thức bảo vệ môi trường sống trên Trái Đất.
Thuật ngữ: Sa-pô · E-líp · Địa cực · Ngự · Lục địa · Tác nhân · Bao báp · Hoá thạch · Phục dựng · Tuyệt chủng · Tầng ô-dôn
Chúng ta phải học cách “có mặt" trên hành tinh này.
Ét-ga Mô-ranh (Edgar Morin)
Giới thiệu bài học
- Chúng ta ai cũng có ý thức chăm chút, bảo vệ ngôi nhà riêng mà gia đình mình sinh sống. Nhưng với ngôi nhà chung Trái Đất, chúng ta đã thực sự thấu hiểu và quan tâm chưa? Chúng ta đã làm gì đề Trái Đất mãi an toàn và tươi đẹp?
- Đến với bài học này, em sẽ có thêm những hiểu biết về văn bản thông tin và cách truyền đạt thông tin. Thông qua các văn bản thông tin và một bài thơ hướng tới cùng chủ đề, em sẽ hiểu hơn về sự sống trên Trái Đất cũng như trách nhiệm của chúng ta đối với việc bảo vệ Trái Đất – ngôi nhà chung.
(1) Sa-pô đoạn văn nằm giữa nhan đề và phần chính của bài báo hay văn bản thông tin nhâm mục địch giới thiệu, tóm tắt nội dung của văn bản.
Đọc
Tri thức ngữ văn
Văn bản
Văn bản là một đơn vị giao tiếp, cô tinh hoàn chỉnh về nội dung và hình thức, tồn tại ở dạng viết hoặc dạng nói. Văn bản được dùng để trao đổi thông tin, trình bày suy nghĩ, cảm xúc....
Đoạn văn trong văn bản
Đoạn văn là bộ phận quan trọng của văn bản, có sự hoàn chỉnh tương đối về ý nghĩa và hình thức, gồm nhiều câu (có khi chỉ một câu) được tổ chức xoay quanh một ý nhỏ. Đoạn văn bắt đầu bằng chữ viết hoa lùi đầu dòng và kết thúc bằng một dấu chấm câu.
Các yếu tố và cách triển khai của văn bản thông tin
- Một văn bản thông tin thường có các yếu tố như: nhan đề (một số văn bản có sa-pô dưới nhan đề), đề mục (tên gọi của các phần), đoạn văn, tranh ảnh,....
- Mỗi văn bản thông tin có một cách triển khai riêng. Bên cạnh cách triển khai theo trật tự thời gian, văn bản thông tin có thể được triển khai theo quan hệ nhân quả, nguyên nhân được nêu trước, tiếp sau đó là kết quả, tất cả tạo thành một chuỗi liên tục.
Văn bản đa phương thức
Văn bản đa phương thức là loại văn bản có sử dụng phối hợp phương tiện ngôn ngữ và các phương tiện phi ngôn ngữ như kí hiệu, sơ đồ, biểu đồ, hình ảnh....
Tử mượn và hiện tượng vay mượn từ
- Từ mượn là từ có nguồn gốc từ một ngôn ngữ khác. Tiếng Việt từng vay mượn nhiều từ của tiếng Hán và tiếng Pháp. Hiện nay, tiếng Việt có xu hướng vay mượn nhiều từ của tiếng Anh.
- Trong sự tiếp xúc, giao lưu ngôn ngữ giữa các dân tộc, các ngôn ngữ thường vay mượn từ của nhau để làm giàu cho vốn từ của minh.
Văn bản đọc
VĂN BẢN 1. Trái Đất – cái nôi của sự sống. Hồ Thanh Trang
VĂN BẢN 2. Các loài chung sống với nhau như thế nào?, Ngọc Phù
VĂN BẢN 3. Trái Đất, Ra-xun Gam-da-tóp (Rasul Gamzatov)
Văn bản 1
Trước khi đọc
1
Em từng nghe, đọc hay đã thuộc những ca khúc, bài thơ nào viết về Trái Đất? Chúng đã gợi lên trong em ấn tượng, cảm xúc gi? Theo em, đề hiểu biết và yêu quý hơn hành tinh xanh này, chúng ta còn cần phải tìm đến những nguồn thông tin hay loại tài liệu nào khác?
2
Người ta thường nói: "Sự sống muôn màu". Em hiểu điều này như thế nào?
Đọc văn bản
Trái Đất – cái nôi của sự sống
HỒ THANH TRANG
Vì sao Trái Đất thường được gọi là hành tinh xanh? Trên hành tinh xanh ấy, sự sống đã nảy nở tốt đẹp như thế nào? Con người có thể làm gì để bảo vệ Trái Đất?
THEO DÕI Phần sa-pô với những dòng chữ in đậm
Trái Đất trong hệ Mặt Trời
Trái Đất là một trong tám hành tinh của hệ Mặt Trời (gồm sao Thuỷ, sao Kim, Trái Đất, sao Hoả, sao Mộc, sao Thổ, sao Thiên Vương, sao Hải Vương - tính theo thứ tự từ Mặt Trời ra ngoài). Trái Đất vừa tự quay quanh trục của nó, mỗi vòng quay hết trọn một ngày (23,934 giờ), vừa quay quanh Mặt Trời theo quỹ đạo hình e-líp (1) với vận tốc xấp xỉ Một vòng quay của Trái Đất quanh Mặt Trời hết trọn một năm (365,25 ngày).
THEO DÕI Văn bản được triển khai với nhiều đề mục in đâm
“Vị thần hộ mệnh của sự sống trên Trái Đất
Nhờ có nước, đặc biệt là nước ở dạng lỏng, Trái Đất trở thành nơi duy nhất trong hệ Mặt Trời có sự sống. Do vậy, khi khẳng định hành tinh này là cái nôi của sự sống, ta không thể không nói đến nước.
THEO DÕI Những miêu tả về sự hiện diện của nước trên Trái Đất.
(1) E-lip: một loại hình bầu dục, có hai trục đối xứng.
Hành tinh của chúng ta quả là giàu nước. Nước bao phủ gần bẽ mặt Trái Đất. Nước dào dạt trong lòng các đại dương nước đông cứng thành những khối băng trùng điệp, không lỗ ở hai địa cực (1); nước ngự (2) trắng loá trên những chóp núi được ví là nóc nhà của thế giới; nước tuôn chảy không ngừng với hệ thống sông ngòi được phân bố ở khắp bề mặt các lục địa (3).... Chính nước đã tạo cho Trái Đất một vẻ đẹp lộng lẫy. Những bức ảnh chụp từ các tàu vũ trụ cho thấy Trái Đất không khác gì giọt nước xanh khổng lồ giữa không gian vũ trụ đen thẫm bao la.
Nếu không có nước thì Trái Đất chỉ là hành tinh khô chết, trơ trụi. Nước chính là "vị thần hộ mệnh" của sự sống, là tác nhân (4) quan trọng thúc đẩy quá trình tiến hoá của các vật chất sống trên hành tinh này. Nhờ nước, sự sống trên Trái Đất phát triển dưới nhiều dạng phong phú, từ vi sinh vật mang cấu tạo đơn giản đến động vật bậc cao có hệ thần kinh vô cùng phức tạp.
Trái Đất – nơi cư ngụ của muôn loài
Trong số muôn loài tồn tại trên Trái Đất, có loài chỉ có thể quan sát được bằng kính hiển vi như vi sinh vật. Có loài mang kích thước khổng lồ như cây bao báp(5) ở vùng hoang mạc châu Phi, cá voi xanh hay các động vật thuộc họ khủng long mà giờ ta chỉ còn được biết chúng ở dạng hoá thạch ,... Những bộ xương khủng long mà các nhà khoa học phục dựng(7) cho biết từ xa xưa đã từng có một loài bò sát khổng lồ tung hoành giữa bầu trời, dưới nước hay trên mặt đất này.
THEO DÕI Sự sống trên Trái Đất phong phú như thế nào?
(1) Địa cực: cực của Trái Đất, bao gồm Bắc Cực và Nam Cực.
12 Ngự ngồi ở nơi cao nhất, trang trọng nhất với vẻ uy nghi.
(3) Lục địa đất liền, phân biệt với biển, đại dương.
(4) Tác nhân yếu tố thúc đầy một quá trình nào đó
(5) Bao báp: một loại cây thân gỗ có kích thước lớn, xuất hiện nhiều ở châu Phi.
6) Hoá thạch di tích hoa đá của thực vật, động vật cổ xưa còn lưu lại ở các tầng đất đá.
(7) Phục dựng làm đùng lại như hình dáng ban đầu của hiện vật
Trên những cánh rừng nguyên sinh trùng điệp hay giữa lòng đại dương bao la, có vô số loài thực vật, động vật khác nhau sinh sôi nảy nở, trở thành đối tượng được con người khai thác hằng ngày để phục vụ cho cuộc sống của mình. Rồi những hoa cỏ trong vườn, những loài gia súc, gia cầm gắn bó thân thiết với mỗi gia đình,... Tất cả mọi dạng sự sống đếu tồn tại, phát triển theo những quy luật sinh học lạ lùng, bí ẩn.
Con người trên Trái Đất
Đỉnh cao kì diệu của sự sống trên Trái Đất chính là con người. Là động vật bậc cao, con người có bộ não và hệ thần kinh phát triển nhất, có ý thức, có tình cảm, có ngôn ngữ, biết tổ chức cuộc sống theo hướng tích cực. Bằng bàn tay lao động sáng tạo, con người đã cải tạo lại bộ mặt của Trái Đất, khiến cho nó “người” hơn, thân thiện hơn. Nhưng đáng buồn thay, con người cũng đã khai thác thiên nhiên món quà quý giá mà tạo hoá ban tặng - một cách bừa bãi, gây ảnh hưởng xấu đến quá trình tồn tại và phát triển của sự sống trên Trái Đất.
THEO DÕI Vì sao có thể khẳng định con người là đỉnh cao ki diệu của sự sống trên Trái Đất?
Tình trạng Trái Đất hiện ra sao?
Hiện tại, hành tinh xanh ngôi nhà chung của nhân loại – đang từng ngày từng giờ bị tổn thương bởi nhiều hành động vô ý thức hay bất chấp tất cả của con người. Thiên nhiên đang bị tàn phá. Theo đó, màu xanh trải rộng của rừng bị co hẹp lại, nhường chỗ cho sự xâm lấn của màu xám hoang mạc nhức nhối. Nhiều loài thú bị giết vô tội vạ giờ đã hoặc gần như tuyệt chủng (1), Đại dương bị khai thác quá mức khiến cá tôm không kịp sinh sôi nảy nở và rác thải nhựa tràn ngập giết dần giết mòn bao sinh vật biển,... Do kế hoạch phát triển công nghiệp thiếu bền vững, Trái Đất đang nóng dần lên, băng ở Bắc Cực và Nam Cực đang tan chảy khiến nước biển dâng cao, có thể nhấn chìm nhiều thành phố, làng mạc, cánh đồng màu mỡ. Tầng ô-dôn (2) bị thủng nhiều chỗ, đất đai, nước, không khí bị ô nhiễm nặng nề, đe doạ sự sống của muôn loài.
Trái Đất có thể chịu đựng đến bao giờ? Đó là câu hỏi nhức nhối, khiến nhân loại không thể làm ngơ. Sự sống trên hành tinh xanh, trong đó có con người, đang đứng trước những thách thức to lớn.
SUY LUẬN sau cùng của bài có lạc để không?
(Hồ Thanh Trang, bảo điện tử Đất Việt -
Diễn đàn của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kĩ thuật Việt Nam, tháng 9/2020)
(1) Tuyệt chủng bị mất hẳn nói giống.
(2) Tầng ô- một khu vực trong tầng bình lưu (một lớp thuộc khí quyển) của Trái Đất, hấp thụ hầu hết các bức xạ cực tím của Mặt Trời
Sau khi đọc
Trả lời câu hỏi
1
Liệt kê theo hình thức gạch đầu dòng những thông tin chủ yếu của văn bản.
2
Bức tranh minh hoạ làm sáng tỏ thông tin gì trong văn bản?
3
Vấn đề chính được đề cập trong phần 2 ("Vị thần hộ mệnh" của sự sống trên Trái Đất) là gì? Việc nói về vấn đề đó liên quan như thế nào đối với hướng triển khai những nội dung khác ở các phần kế tiếp?
4
Văn bản đã nói được đầy đủ về sự kì diệu của sự sống trên Trái Đất chưa? Em có thể bổ sung điều gì xung quanh vấn đề này?
5
Bằng hiểu biết của mình, em hãy nêu thêm bằng chứng để khẳng định con người là đỉnh cao kì diệu của sự sống trên Trái Đất.
6
Làm rõ li do xuất hiện câu hỏi "Trái Đất có thể chịu đựng đến bao giờ?" trong đoạn cuối của văn bản. Câu hỏi đó gợi lên trong em những suy nghĩ gì?
7
Từ việc đọc hiểu văn bản Trái Đất – cái nôi của sự sống, em rút ra được kinh nghiệm gi về cách đọc một văn bản thông tin?
Việt kết nói với đọc
Hãy viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) về chủ đề: Đề hành tinh xanh mãi xanh...
Thực hành tiếng Việt
Văn bản và đoạn văn
1
Nêu bằng chứng cụ thể để khẳng định Trái Đất cái nôi của sự sống là một văn bản.
2
Hãy liệt kê các bộ phận cấu tạo của văn bàn Trái Đất cái nôi của sự sống.
3
Nhắc lại những thông tin, thông điệp mà em tiếp nhận được từ văn bản Trái Đất – cái nôi của sự sống.
Nhận biết đặc điểm
và loại văn bản
- Căn cứ vào sự có mặt hay không có mặt của các phương tiện phi ngôn ngữ để xác định tính chất văn bản: văn bản thông thường hay văn bản đa phương thức.
- Những nhu câu giao tiếp đa dạng dẫn đến việc hình thành nhiều loại văn bản khác nhau: văn bản thông tin, văn bản nghị luận, văn bản văn học. Có thể căn cứ vào chức năng chính mà một văn bản phải đảm nhiệm như thông tin, thuyết phục, hay thẩm mĩ để biết được văn bản thuộc loại nào.
THEO DÕI
Vì sao có thể khẳng định con người là đỉnh cao ki diệu của sự sống trên Trái Đất?
SUY LUẬN
Sau cùng của bài có lạc đề không?
(1) Tuyệt chủng: bị mất hẳn nói giống.
(2) Tầng ô-dôn: một khu vực trong tầng bình lưu (một lớp thuộc khí quyển) của Trái Đất, hấp thụ hầu hết các bức xạ cực tím của Mặt Trời
Hãy viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) về chủ đề: Đề hành tinh xanh mãi xanh...
- Căn cứ vào sự có mặt hay không có mặt của các phương tiện phi ngôn ngữ để xác định tính chất văn bản: văn bản thông thường hay văn bản đa phương thức.
- Những nhu câu giao tiếp đa dạng dẫn đến việc hình thành nhiều loại văn bản khác nhau: văn bản thông tin, văn bản nghị luận, văn bản văn học. Có thể căn cứ vào chức năng chính mà một văn bản phải đảm nhiệm như thông tin, thuyết phục, hay thẩm mĩ để biết được văn bản thuộc loại nào.
4.
Chọn một đoạn văn trong văn bản Trái Đất cái nôi của sự sống và điền thông tin cần thiết vào bảng theo mẫu sau (làm vào vở):
Thứ tự đoạn văn trong văn bản | Điểm mở đầu và điểm kết thúc của đoạn văn | Ý chính của đoạn văn | Chức năng của đoạn văn
Một đoạn văn có thể đám nhiệm một trong các chức năng: mớ đầu văn bản trình bày một khía cạnh nào đó của nội dung chính: kết thúc văn bản hoặc mở rộng. liên kết vấn đề. Cần dựa vào vị trí (thứ tự) và nội dung của đoạn văn để xác định đùng chức năng của nó trong văn bản.
Văn bản 2
Trước khi đọc
1.
Em biết những chương trình nào trên các phương tiện truyền thông, in-tơ-nét cung cấp nhiều thông tin thú vị, bổ ích về đời sống của muôn loài trên Trái Đất? Em suy nghĩ gì về việc chúng ta phải thường xuyên tìm hiểu các tài liệu đề cập đến sự đa dạng của thế giới tự nhiên?
2.
Trong số những tài liệu, bộ phim kể về các loài sinh vật mà em đã đọc, đã xem, tài liệu, bộ phim nào để lại cho em nhiều ấn tượng nhất? Vì sao?
Đọc văn bản
Các loài chung sống với nhau như thế nào?
NGỌC PHÚ
Trong bộ phim hoạt hình Vua sư tử sản xuất năm 1994 của hãng Oan Đi-xnây (Walt Disney), khi giới thiệu với đứa con Xim-ba (Simba) bé bỏng của mình về vương quốc hoang dã mà nó sắp tiếp quản, vua sư tử Mu-pha-sa (Mufasa) đã nói: "Tất cả những gì con thấy, cùng nhau tồn tại trong một sự cân bằng rất mong manh. Là vua, con cần phải hiểu rõ về sự cân bằng ấy và tôn trọng muôn loài, từ đàn kiến lúc nhúc cho đến bấy linh dương nhảy nhót". Khi Xim-ba
thắc mắc: “Nhưng cha ơi, chẳng phải chúng ta ăn thịt linh dương hay sao?", Mu-pha-sa trả lời: “Đúng vậy, nhưng để cha giải thích đã. Khi chết đi, thân xác chúng ta trở về với cỏ, và linh dương lại ăn cỏ. Vì thế, tất cả chúng ta đều thuộc về vòng đời bất tận". Cuộc đối thoại trên đã gợi lên trong chúng ta biết bao suy nghĩ về đời sống muôn loài trên Trái Đất và sự cân bằng rất dễ bị tổn thương của nó.
Theo ước tính của nhiều nhà khoa học, trên Trái Đất hiện có khoảng trên 10 000 000 loài sinh vật. Hiện nay, con người mới chỉ nhận biết được khoảng trên 1 400 000 loài, trong đó có hơn 300 000 loài thực vật và hơn 1000 000 loài động vật. Rõ ràng, phải rất lâu nữa chúng ta mới lập được một danh sách sát thực tế hơn về những cư dân của hành tinh này. Dù vậy, điều đó không ngăn cản các nhà khoa học đưa ra những nhận định khái quát nhất về lịch sử tiến hoá(1) hay sự phụ thuộc lẫn nhau của muôn loài.
THEO DÕI
Số lượng các loài sinh vật hiện tồn tại trên Trái Đất và số lượng loài đã được con người nhận biết.
Các loài động vật và thực vật thường tồn tại và phát triển thành từng quần xã (2), trong những biome(3) khác nhau. Mỗi quần xã có thể được xem như một thế giới riêng, trong đó có sự chung sống của một số loài nhất định với số lượng cá thể hết sức khác nhau ở riêng từng loài.
(1) Tiền hoà: biến đổi dần dần theo hướng phát triển đi lên.
(2) Quần xã: tập hợp tất cả các sinh vật cùng loài và khác loài, cùng sống trong một khu vực xác định vào một thời gian nhất định.
(3) Biome (có thể đọc là bai-ôm): chỉ tập hợp sinh vật cùng môi trường sống mang những nét đặc thù của chúng, thường được dịch là khu sinh học. Tên gọi của các biome luôn thể hiện rõ đặc điểm của từng hệ sinh thái riêng biệt.
Tính đa dạng ở mỗi quán xã phụ thuộc vào sự cạnh tranh giữa các loài, mối quan hệ con mối – vật ăn thịt và mức độ thay đổi của các yếu tố vật lí – hoá học của môi trường,...
THEO DÕI
Những nhân tố gây ảnh hưởng đến sự đa dạng ở từng quần xã.
Bên cạnh việc nhận diện các loài theo đặc điểm sinh học riêng của chúng, khi dựa vào tính chất của loài trong quần xã, người ta có thể nói tới: loài ưu thế, loài thứ yếu, loài ngẫu nhiên, loài chủ chốt, loài đặc trưng.... Loài ưu thế (như cây thông trong quần xã rừng thông) đóng vai trò quan trọng trong quần xã do số lượng nhiều và có khả năng hoạt động mạnh. Loài chủ chốt (như sư tử ở các đồng cỏ hay cá sấu ở đám nước châu Phi) đóng vai trò kiểm soát, khống chế hoạt động của các loài khác và duy trì sự phát triển ổn định của quân xã. Như vậy, trong quần xã luôn tồn tại một trật tự. Ngoài những điều kế trên, trật tự này còn được thể hiện ở sự phân bố các loài trong không gian sống chung, hoặc theo chiều thẳng đứng (như sự phân tầng của thực vật trong rừng mưa nhiệt đới), hoặc theo chiều ngang (trải ra theo bề rộng của địa hình), để giảm bớt sự cạnh tranh giữa các loài và giúp từng loài có thể sử dụng nguồn sống của môi trường một cách hiệu quả nhất.
THEO DÕI
Trật tự trong cuộc sống của muôn loài được thể hiện như thế nào?
Giữa các loài trong quán xã luôn tốn tại mối quan hệ hỗ trợ và đối kháng. Quan hệ hỗ trợ gắn liền với việc chia sẻ cơ hội sống. Quan hệ đối kháng được biểu hiện qua việc cạnh tranh, ki sinh (1), ăn thịt lẫn nhau. Với sự tồn tại song song của các quan hệ đó, thiên nhiên đã tạo nên một sự cân bằng tuyệt hảo, đảm bảo cho loài nào cũng có được “chỗ đứng dưới mặt trời, cũng có đủ điều kiện để sinh trưởng. Như vậy, có một nhịp điệu chung trong quá trình tiến hoá của các loài, mà sự sinh sôi mạnh mẽ
(1) Ki sinh sống bằng cách hút chất dinh dưỡng từ cơ thể những sinh vật khác
hay suy giảm số lượng của loài này dẫn đến sự phát triển theo hướng nhiều thêm hay bớt đi tương ứng của loài kia.
Trên Trái Đất, con người cũng chỉ là một loài sinh vật. Qua quá trình lịch sử dài lâu, con người đã bộc lộ khả năng sáng tạo vô tận và xã hội loài người ngày càng phát triển phức tạp. Con người trở nên quá tự kiêu, thấy mình là chúa tể của cả thế giới, có thể tuỳ ý xếp đặt lại trật tự mà tạo hoá đã bền bỉ gây dựng. Chính vì điều này mà sự cân bằng trong đời sống của muôn loài ít nhiều bị xáo trộn, phá vỡ, thêm vào đó, những yếu tố vô sinh của môi trường (1) cũng phải chịu những tác động xấu. Hiện nay, có vẻ như con người bắt đầu tỉnh ngộ, biết nhìn nhận vấn đề một cách sáng suốt hơn, biết tìm cách chung sống hài hoà với muôn loài, nói chung là với tất cả những gì làm nên thế giới đẹp đẽ này.
SUY LUẬN
Những bước tiên vượt bậc của nhân loại có ảnh hưởng đến cuộc sống muôn loài không?
"Tất cả chúng ta đều thuộc về vòng đời bất tận". Vua sư tử Mu-pha-sa đã nói với Xim-ba – kẻ kế nghiệp – như thế. Một câu nói thông thái, cho thấy sự am hiểu bản chất cuộc sống và cách ứng xử khôn ngoan đối với đời sống của muôn loài.
(Ngọc Phú, báo điện tử Đất Việt - Diễn đàn của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kĩ thuật Việt Nam, tháng 9/2020)
Sau khi đọc
Trả lời câu hỏi
1.
Những con số, dữ liệu nào trong đoạn (2) (Theo ước tính... lẫn nhau của muôn loài) thể hiện sự phong phú của các loài trên Trái Đất?
2.
Đoạn (3) (Các loài động vật... riêng từng loài) đã nói gì về sự đa dạng của các quần xã sinh vật?
3.
Nêu những căn cứ giúp ta hiểu được tình trật tự trong đời sống của muôn loài. Theo em, việc thiên nhiên duy trì trật tự ấy có ý nghĩa như thế nào?
4.
Nếu chỉ tồn tại quan hệ đối kháng, sự cân bằng trong từng quần xã sinh vật sẽ bị ảnh hưởng ra sao?
5.
Theo em, đoạn nào trong văn bản thể hiện rõ nhất cách trình bày văn bản thông tin theo quan hệ nhân quả?
(1) Yếu tố vô sinh của môi trường phần không sống, không sinh sản trong không gian bao quanh sinh vật.
6.
Cách mở đầu và kết thúc của văn bản thông tin này có gì đặc sắc?
7.
Con người có thể làm gì để bảo vệ sự phát triển phong phú của thế giới sinh vật?
Việt kết nói với đọc
Hãy viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) về chủ đề: Trên hành tinh đẹp đề này, muôn loài luôn cần thiết cho nhau.
Thực hành tiếng Việt
Từ mươn
1.
Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu:
Do kế hoạch phát triển công nghiệp thiều bền vững, Trái Đất đang nóng dần lên, băng ở Bắc Cực và Nam Cực đang tan chảy, khiến nước biển dâng cao, nhấn chìm nhiều thành phố, làng mạc, nhiều cảnh đồng màu mỡ. Tầng ô-đôn bị thùng nhiều chỗ, đất đai, nước, không khí bị ô nhiễm nặng nề, đe doạ sự sống của muôn loài.
a.
Trong đoạn văn trên có nhiều từ là từ mượn, chẳng hạn: kế hoạch, phát triển, công nghiệp, băng, ô-dôn, không khí, ô nhiễm.... Theo em, từ nào được vay mượn từ tiếng Hán, từ nào được vay mượn từ tiếng Anh? Vì sao em xác định như vậy?
b.
Trong các từ mượn như công nghiệp. băng, ô-dôn, ô nhiễm, từ nào gây cho em cảm giác về từ mượn rõ nhất? Vi sao?
c.
Các yếu tố như không, nhiễm không chỉ xuất hiện trong không khí, nhiễm mà còn được dùng đề tạo nên nhiều từ khác mà chúng ta vẫn sử dụng hằng ngày. Hãy kể thêm một số từ có những yếu tố ấy và giải thích ý nghĩa của chúng.
2.
Qua việc thực hiện các yêu cầu ở bài tập 1, em rút ra nhận xét gì về đặc điểm của vốn từ tiếng Việt?
- Trong những từ mượn tiếng Hàn, nhiều từ đơn như đầu, phòng, cao, tuyết, băng, thần, bút... được cảm nhận như từ thuần Việt. Các từ phức như nhi đồng, phụ lão, không phận, hải phận, địa cục, phục dựng..... ít nhiều còn gây cảm giác khó hiểu, thường chỉ được dùng trong những hoàn cảnh giao tiếp trang trọng.
- Một số từ mượn các ngôn ngữ châu Âu được Việt hoá gần như hoàn toàn, nhất là những từ đơn như săm, lốp, bom, tăng (xe tăng), mét (đơn vị đo khoảng cách).... Nhiều từ khác như xà phòng, xi măng, com lê, cà vạt, cà phê, câu lạc bộ... cũng được dùng phổ biến, có cách đọc và hình thức chính tả giống từ thuần Việt.
- Không ít từ mượn tiếng Pháp, tiếng Anh,... được viết nguyên dạng giống trong ngôn ngữ gốc như video, smartphone, internet, biome.... hoặc được viết tách từng âm tiết (theo cách đọc của tiếng Việt) mà giữa các âm tiết có gạch nổi như ô-xi, a-xít, nê-ông, ra-đi-ô, ki-lô-gam,... Đôi khi một từ có thể có cả hai cách viết như internet và in-to-nét. Tuỳ quy định chính tả ở mỗi loại sách, báo mà khi viết các từ vừa dẫn, người ta sẽ chọn cách viết được cho là phù hợp.
- Tránh lạm dụng từ mượn đề không gây khó hiểu, khó chịu cho người nghe, người đọc và đề không làm mất đi sự trong sáng của tiếng Việt.
3.
Hãy diễn đạt lại câu văn sau đây theo hướng thay thế từ mượn bằng từ quen thuộc hoặc dễ hiểu hơn vốn đã có từ lâu trong vốn tiếng Việt:
Các fan cuồng thực sự phấn khích, hân hoan khi thấy idol của mình xuất hiện trên cửa chiếc chuyên cơ vừa đáp xuống phi trường.
Văn bản 3
Đọc văn bản
Trái Đất
RA-XUN GAM-DA-TOP
Trái Đất! Có bọn xem người là quả dưa
Họ bổ, cần người thành muôn mảnh nhỏ
Lũ khác nhìn người như quả bóng trên sân
Để giành giật, họ lao vào, đá, đá.
Trái Đất với tôi – chẳng là dưa, là bóng
Với tôi, người – khuôn mặt thân thương
Nước mắt người tôi lau - xin đừng khóc nữa
Rửa sạch máu cho người đây, tôi hát, dịu dàng.
(Minh Tâm dịch, theo bảo điện tử Đất Việt - Diễn đàn của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kĩ thuật Việt Nam, tháng 9/2020)
Sau khi đọc
- Ra-xun Gam-da-tốp (1923-2003), người dân tộc A-va (Avar) nước Cộng hoà Đa-ghe-xtan (Dagestan) thuộc Liên bang Nga. Thơ ông tràn đầy tình yêu đối với quê hương, con người, sự sống và luôn hướng tới việc xây đắp tình hữu nghị giữa các dân tộc. Các tác phẩm chính của ông: Năm tôi sinh, Mùa xuân Đa-ghe-xtan, Trái tim tôi trên núi, Những ngôi sao xa, Da-ghe-xtan của tôi....
- Bài thơ Trái Đất viết năm 1987 bằng tiếng A-va. Bản dịch ra tiếng Việt của Minh Tâm được thực hiện dựa trên bản dịch ra tiếng Nga của Na-um Grép-nhi-óp (Naum Grebniov).
Trả lời câu hỏi
1.
Bốn dòng đầu của bài thơ tập trung nói về điều gì?
2.
Bốn dòng thơ sau cho biết thái độ của nhà thơ đối với Trái Đất như thế nào?
3.
Nhắc đến nước mắt và máu, nhà thơ muốn nói lên tình trạng gì của Trái Đất?
4.
Chỉ ra sự khác nhau giữa các cách hình dung về Trái Đất và thái độ cư xử với Trái Đất được thể hiện trong bài thơ.
5.
Hãy tìm ra điểm chung về mặt nội dung giữa bài thơ của Ra-xun Gam-da-tốp với hai văn bản Trái Đất – cái nôi của sự sống và Các loài chung sống với nhau như thế nào?
6.
Theo em, đề cùng "lau nước mắt" và "rửa sạch máu" cho Trái Đất, mỗi người chúng ta cần phải làm gì?
7.
Cùng đưa ra một thông điệp giống nhiều văn bản khác, nhưng bài thơ Trái Đất của Ra-xun Gam-da-tốp vẫn có được sự độc đáo, sức hấp dẫn riêng. Theo em, những gì đã tạo nên sự độc đáo, sức hấp dẫn riêng ấy?
Viết
A. viết biên bản một cuộc họp, cuộc thảo luận
Văn bản thông tin có nhiều loại, trong đó có văn bản nhật dụng. Biên bản là một loại của văn bản nhật dụng, dùng để ghi chép về một cuộc họp, cuộc thảo luận hay một vụ việc, giúp ta nắm bắt được đầy đủ, chính xác nội dung sự việc đã diễn ra. Nó được lưu lại như một hồ sơ, lúc cần được đưa ra như bằng chứng để đánh giá một vụ việc, vấn đề nào đó. Biên bản đói hỏi được viết đúng thể thức, theo một quy cách riêng.
- Đầu biên bản, phía bên phải ghi quốc hiệu và tiêu ngữ, phía bên trái ghi tên cơ quan chức năng có nhiệm vụ tổ chức cuộc họp, cuộc thảo luận hay xử vụ việc.
- Dưới từ "Biên bản , ghi khái quát vấn đề mà cuộc họp, cuộc thảo luận cần giải quyết hay nội dung của vụ việc cần xử lí, làm thành tên gọi của biên bản.
- Ghi thời gian và địa điểm diễn ra cuộc họp, cuộc thảo luận, xử lí vụ việc....
- Ghi thành phần tham dự và tên người chủ trì, người thư ki
- Ghi diễn biến của cuộc họp, cuộc thảo luận hay cuộc xử lí vụ việc với các nội dung cụ thể, theo đúng thực tế đã diễn ra (bao gồm các ý kiến tường trình, phát biểu và kết luận).
- Ghi thời gian kết thúc cuộc họp, cuộc thảo luận hay cuộc xử lí vụ việc.
- Người chủ trì và thư kí (tuý trường hợp, có thể thêm người làm chúng) kí tên.
Phân tích biên bản tham khảo
TRƯỜNG THCS P. H. C.
LỚP 6C
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN
Bàn về kế hoạch tổ chức hoạt động hưởng ứng "Ngày Chủ nhật xanh"
Thời gian: bắt đầu từ lúc 11h ngày 13 tháng 02 năm 2019.
Địa điểm: phòng học lớp 6C.
Thành phần tham dự: toàn thể học sinh lớp 6C. Vắng: 01 (bạn Trần Văn Th., có li do).
Chủ trì: lớp trưởng Lê Tiền H.
Thư kí: Nguyễn Thị Thanh T.
Nội dung: bàn kế hoạch tổ chức hoạt động "Ngày Chủ nhật xanh" do nhà trường phát động, diễn ra vào ngày 17 tháng 02 năm 2019.
1. Lớp trường trình bày ý nghĩa của "Ngày Chủ nhật xanh" và nội dung hoạt động hưởng ứng "Ngày Chủ nhật xanh theo sự phân công của trường.
2. Bố trí công việc:
a. Làm băng rôn, căng ở vị trí quy định: tổ 1 (hoàn thành vào chiều thứ Bảy).
b. Chuẩn bị loa đài: bạn N. (tham gia cùng các bạn lớp 6A, hoàn thành vào chiều thứ Bảy).
c. Tham gia soạn nội dung phát thanh: bạn L. (tập đọc vào chiều thứ Bảy).
d. Chuẩn bị dụng cụ lao động: các tổ nằm công việc được giao và phân công dụng cụ phù hợp:
Tổ 1: tham gia quét dọn phòng học và không gian trong trường.
Tổ 2: tham gia tưới và xén tỉa cây cảnh ở vườn hoa trong trường.
Tổ 3: tham gia khơi thông cống rãnh xung quanh trường.
Tổ 4: tham gia làm vệ sinh các công trình công cộng gần trường (phòng truyền thống xã, đài tưởng niệm).
e. Bộ phận kiểm tra công việc: lớp trường, lớp phó phụ trách lao động.
3. Thảo luận về kế hoạch:
Ý kiến 1: đề nghị tiến hành hoạt động sớm, lúc 6h30.
Ý kiến 2: đề nghị điều chỉnh phân công công việc cho một số bạn.
Ý kiến 3: đề nghị chọn người chụp ảnh làm tư liệu (sau này sẽ đưa vào tập san).
4. Kết luận: Lớp trường tóm tắt những nội dung chính đã được thống nhất.
Cuộc họp kết thúc vào hồi 11h30, ngày 13 tháng 02 năm 2019.
THƯ KÍ
(Đã kí)
Nguyễn Thị Thanh T.
CHỦ TRÌ
LỚP TRƯỞNG
(Đã kí)
Lê Tiến H.
Phân tích:
1.
Nêu nhận xét chung về việc tuân thủ thể thức biên bản trong văn bản trên.
2.
Vì sao biên bản phải có tên gọi và phải ghi đủ thời gian, địa điểm, thành phần tham dự. người chủ trì, người thư ki?
3.
Khi làm biên bản, nội dung nào cần được ghi chi tiết, cụ thể hơn cả?
4.
Vì sao cuối biên bản phải có chữ kí của người chủ trì, người thư kí?
5.
Ngôn ngữ của biên bản có đặc điểm gì dễ nhận biết?
Thực hành viết biên bản
1. Trước khi viết
Hình dung lại các cuộc họp, thảo luận cần được ghi biên bản (cuộc họp bàn kế hoạch tổ chức một hoạt động; cuộc họp kiểm điểm tình hình thực hiện một dự án chung của lớp:...).
Xác định tên gọi của biên bản, đồng nghĩa với việc lựa chọn nội dung cho biên bản sắp viết.
Ghi chép trung thực nội dung, diễn biển của cuộc họp, cuộc thảo luận nhằm xây dựng hồ sơ đáng tin cậy về cuộc họp, cuộc thảo luận đó.
Tất cả những người tham gia cuộc họp, cuộc thảo luận và những cá nhân, cơ quan muồn năm thông tin về cuộc họp, cuộc thảo luận đo.
2. Viết biên bản
Viết phần mở đầu theo đùng thể thức.
Viết phần chính của biên bản dựa theo trình tự hợp lí cần có trong cuộc họp, thảo luận với những nội dung cụ thể (có đánh số rõ ràng).
Viết chi tiết về những nội dung quan trọng của cuộc họp, thảo luận như kế hoạch triển khai, giải pháp dự kiến, phân công công việc....
Thuật lại đầy đủ các ý kiến đi vào trọng tâm của buổi họp, thảo luận, nhất là những ý kiến có giá trị.
Viết đầy đủ nội dung kết luận của người chủ trì.
Ghi thời gian kết thúc cuộc họp, cuộc thảo luận và viết đầy đủ họ tên của người có trách nhiệm ki vào biên bản.
3. Chỉnh sửa biên bản
Dựa vào phần Thể thức của biên bản thông thường để tự kiểm tra và chỉnh sửa:
Xem xét lại sự phù hợp giữa nội dung biên bản và tên biên bản.
Kiểm tra tỉnh chinh xác, đầy đủ của việc ghi chép những vấn đề quan trọng nhất được bản bạc, triển khai trong cuộc họp, cuộc thảo luận.
Lược bỏ những ghi chép về các chi tiết không liên quan tới vấn đề chính của cuộc họp, cuộc thảo luận.
Sửa lại ngôn ngữ diễn đạt nhằm bảo đảm sự chính xác và tỉnh khách quan.
B. tóm tắt bảng sơ đồ nội dung của một văn bản đơn giản
Tóm tắt nội dung một văn bản đã đọc bằng sơ đồ là việc làm cần thiết để từng bước nâng cao, hoàn thiện kĩ năng đọc. Nếu thường xuyên thực hiện việc tóm tắt, người đọc sẽ rèn luyện được khả năng nắm bắt nhanh những thông tin chủ yếu của văn bản, bao quát tốt mối quan hệ giữa các bộ phận (các đoạn) trong văn bàn. Những sơ đồ hợp lí có thể giúp ta nhớ lại khá dễ dàng nội dung cốt lõi của những văn bản từng đọc.
- Làm nổi bật được nội dung chủ yếu của văn bản.
- Làm sáng tỏ được những mối liên hệ bên trong giữa các bộ phận chính của văn bản.
- Bảo đảm tình trực quan, thẩm mĩ, gây được ấn tượng tích cực về mặt thị giác để có thể hỗ trợ tốt cho trị nhỏ.
Tham khảo sơ đồ tóm tắt nội dung văn bản Trái Đất - cái nôi của sự sống
Thực hành tóm tắt văn bản bằng sơ đó
1. Trước khi tóm tắt
Xác định đúng nội dung cốt lõi của văn bản và hệ thống ý triển khai nội dung đó.
Lựa chọn từ khoá phản ảnh nội dung cốt lõi và các ý triển khai đã xác định được.
Xác định mối liên hệ giữa các từ khoả.
Ví dụ: Khi tóm tắt quan niệm của vua sư tử Mu-pha-sa về "vòng đời bất tận" (trong đoạn đầu văn bản Các loài chung sống với nhau như thế nào?), em cần thực hiện các bước sau:
a. Xác định nội dung cốt lõi của đoạn văn: những mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau giữa các loài trong cuộc sống, tạo thành một vòng đời bất tận".
b. Xác định các từ khoá: chúng ta, linh dương, chết, cô.
c. Xác định mối liên hệ giữa các từ khoá: chúng ta ăn linh dương, chúng ta chết, chúng ta trở về với cỏ, linh dương ăn có
2. Tóm tắt
Vẽ các hình cụ thể chứa các từ khoá.
Sắp xếp các hình (chứa từ khoá) theo trật tự thích hợp.
Vẽ các đường cong, thằng hoặc mũi tên nối các hình (chứa từ khoá) với nhau.
3. Chỉnh sửa
Kiểm tra xem sơ đồ đã phản ánh đúng cách hiều của bản thân về nội dung văn bản chưa.
Xoá hay chỉnh sửa những chi tiết khiến người đọc sơ đồ có thể hiểu sai lệch điều bản thân muốn thể hiện hay chia sẻ về nội dung văn bản.
Xem xét tính chính xác, phù hợp của việc xếp đặt vị trí các hình và việc thiết lập đường nối giữa chúng.
Nói và nghe
Thảo luận về giải pháp khắc phục nạn ô nhiễm môi trường
Tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay đã trở nên nghiêm trọng, đe doạ cuộc sống của tất cả chúng ta. Trong phạm vi và điều kiện hoạt động của mình, mỗi người có thể làm những gì để khắc phục tình trạng đó? Với hoạt động nói và nghe của bài học này, em hãy cùng các bạn thảo luận về những giải pháp cần thực hiện, nhằm làm cho môi trường quanh ta trở nên an toàn, tốt đẹp hơn.
1. Trước khi nói
a. Chuẩn bị nội dung nói
Lựa chọn vấn đề: Vẫn đề ở đây chính là giải pháp mà em đề xuất nhằm khắc phục nạn ô nhiễm môi trường. Muốn giải pháp mình nêu lên có căn cứ, có tính khả thi, em và các bạn phải thống nhất trước với nhau về việc phải giải quyết tình trạng ô nhiễm cụ thể nào (rác thải ùn ứ cống rãnh tắc nghẽn, khói bụi mù mịt....).
Khi nêu giải pháp, cần chú ý đến điều kiện và khả năng thực hiện, đồng thời quan tâm đến việc giải quyết tận gốc vấn đề (không để tình trạng cũ tái diễn). Điều quan trọng nữa là phải tính đến việc phối hợp hoạt động với các cá nhân và tập thể khác cùng sống, sinh hoạt trên địa bán.
Tìm ý và sắp xếp ý.
+ Để tìm ý, có thể tự đặt một hệ thống câu hỏi và lần lượt giải đáp. Chẳng hạn, nếu bàn về giải pháp khắc phục tình trạng rác thải ùn ứ, có thể nêu các câu hỏi: Rác thải ùn gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của cộng đồng và làm mất mĩ quan khu vực như thế nào? Vì sao có tình trạng này? Mỗi người cần phải làm gì để rác thải được tập kết đúng chỗ và thu gom kịp thời? Các cá nhân và tập thể sống trên địa bàn cần phải chung tay hành động thế nào? Cần phải xây dựng quy chế giữ gìn vệ sinh với nội dung cụ thể gì? Công tác tuyên truyền phải được thực hiện ra sao?...
+ Sau khi có được những ý cần thiết từ việc trả lời các câu hỏi, cần sắp xếp thành một đề cương theo thứ tự: tình trạng nguyên nhân – giải pháp (việc làm 1, việc làm 2, việc làm 3....) kế hoạch hoạt động cụ thể. Tất cả cần được viết thành một đề cương bài nói.
Chia sẻ mối quan tâm chung về giải pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường.
Thầy cô, bạn bè và những người cùng quan tâm đến vấn đề ô nhiễm môi trường.
b. Tập luyện
Nói một mình (nôi thầm; nói to; nói kèm theo điệu bộ, cử chỉ,...).
Nói trước nhóm học tập.
2. Trình bày bài nói
Ngoài việc tuân thủ những yêu cầu chung (về nội dung nói, ngữ điệu, sử dụng từ ngữ, tương tác với người nghe, bào đảm thời gian....), em cần lưu ý thêm các điểm sau đây khi tham gia thảo luận về giải pháp khắc phục nạn ô nhiễm môi trường:
a. Mờ đầu
Nêu tình trạng đáng báo động của vấn đề ô nhiễm môi trường với các biểu hiện cụ thể của nó, nhất là biểu hiện mà em và các bạn đang phải đối mặt và cần phải tham gia giải quyết.
b. Triển khai
Trình bày ý kiến theo đề cương đã chuẩn bị.
Trước khi trình bày từng phần kiến, có thể nêu lại các câu hỏi đã từng được đặt ra trong bước tìm ý, nhằm giúp người nghe hiểu rõ nội dung từng khía cạnh của vấn đề được đề cập.
c. Kết luận
Khái quát lại nội dung ý kiến vừa trình bày.
3. Sau khi nói
Trao đổi theo một số gợi ý sau:
- Đặt mình vào vị trí người nói để thấu hiểu lí do khiến người nói đề xuất giải pháp như vậy.
- Các nhận xét, trao đổi hướng vào trọng tâm, không sa vào những chi tiết vụn vặt.
- Nêu được điều tâm đắc của em về ý kiến của bạn.
- Nêu những điều em chưa đồng tình với ý kiến của bạn.
- Bồ sung những điều mà ý kiến của bạn chưa đề cập đầy đủ.
- Tiếp nhận mọi trao đổi trên tinh thần hướng đến việc tìm tòi một giải pháp thống nhất.
- Làm rõ một số điểm mà người nghe có thể thắc mắc.
- Bảo vệ những nội dung trong ý kiến của bản thân mà em cho là hợp li.
- Tự rút ra những kinh nghiệm cần thiết trong việc nêu ý kiến khi tham gia thảo luận
Củng cố, mở rộng
1.
Trong bài học này, em đã được đọc ba văn bản hoàn chỉnh. Kẻ bảng sau vào vở, đánh dấu x vào các trống thích hợp.
Nội dung | Loại văn bản | Hình thức văn bản
Tên văn bản | Trái Đất - môi trường | Văn bản thông tin | Văn bản văn học | Văn bản chỉ có kênh chữ | Văn bản đa phương thức
Trái Đất - cái nôi của sự sống
Các loài chung sống với nhau như thế nào?
Trái Đất
Trả lời câu hỏi
a.
Theo em, li do nào khiến ba văn bản này được xếp chung vào một bài học?
b.
Bài học giúp em hiểu thêm gì về vấn đề bảo vệ môi trường sống trên Trái Đất?
c.
Nêu những kiến thức mà em đã học được về văn bản thông tin.
2.
Kẻ bảng sau vào vở. Điền thông tin vào ô trống, xem như chuẩn bị ý tưởng và dữ liệu cho một văn bản thông tin (có thể dưới dạng văn bản đa phương thức) viết về một vẫn đề mà em quan tâm.
Vấn đề em định viết là:
Đoạn | Ý lớn | Các ý nhỏ | Số liệu | Tranh ảnh | Những từ khoá
Đoạn 1
Đoạn 2
Đoạn 3
Đoan n
Lưu ý: có thể bỏ trống một số ô ở hai cột Số liệu và Tranh ảnh.
Thực hành đọc
- Nội dung của văn bản cho em biết thêm điều gì về sự sống trên Trái Đất?
- Từ mượn đã được dùng khá nhiều trong văn bản. Đó là những từ nào? Theo em, từ nào trong số đó có thể được thay thế bằng một từ thuần Việt hoặc từ mượn khác quen thuộc hơn? Vì sao?
- Sự sống được hình thành qua một quá trình dài đằng đẵng, nhưng việc huỷ diệt sự sống có thể chỉ diễn ra trong chớp mắt. Điều này gợi lên trong em cảm xúc và suy nghĩ gì?
Sinh vật trên Trái Đất được hình thành như thế nào?
NGUYÊN QUANG RIỆU (1)
Trái Đất khi mới được hình thành cách đây 4,6 tỉ năm, đã có một khí quyển (2) nguyên thuỷ chứa hi-đrô (3), a-mô-ni-ắc(4), mê-tan (5) và hơi nước. Có ý kiến cho rằng khí nguyên thuỷ (6) có thể tạo ra những loại phân tử hữu cơ trong tế bào. Quan niệm này đã được minh hoạ bằng cuộc thí nghiệm nổi tiếng thực hiện bởi nhà hoá học Min-lơ (Miller, người Mỹ) cách đây đã nửa thế kỉ. Nhà nghiên cứu Min-lơ đã điều chế được a-xít a-min(7), thành phần của chất đạm trong cơ thể, bằng cách tổng hợp những loại khí nguyên thuỷ trong phòng thí nghiệm. Có giả thuyết (8) khác cho rằng, bụi từ những sao chổi (9) và thiên thạch (10) đã gieo rắc trên hành tinh của chúng ta, mầm mống của sự sống dưới dạng vi sinh vật. Vấn đề liên quan đến nguồn gốc của sự sống trên Trái Đất và khả năng có sự sống trên các hành tinh khác vẫn còn đang được tranh luận. Đối tượng nghiên cứu này huy động các nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực: thiên văn, vật lí, hoá học và sinh học.
Nước, một thành phần thiết yếu của những phản ứng hoá học, là dung môi(11) có khả năng hoà tan những phân tử, dẫn đến sự nảy nở của sự sống. Dưới ánh sáng Mặt Trời, khí các-bô-níc kết hợp với nước để biến thành glu-cô
(1) Nguyễn Quang Riệu (1932-2021) nhà vật lí thiên văn gốc Việt nổi tiếng thế giới, sống và làm việc chủ yếu tại Cộng hoà Pháp.
(2) Khi quyển: lớp không khí dày bao ngoài Trái Đất.
(3) Hì-đrô: một nguyên tố hoá học tồn tại ở thể khi.
(4) A-mô-ni-ắc: một hợp chất vô cơ. Ở điều kiện tiêu chuẩn, là một chất khí độc, có mùi khai, tan nhiều trong nước.
(5) Mé-tan: thành phần chính của khi tự nhiên, khi dầu mỏ, khí bún ao và đầm lầy.
(6) Khi nguyên thuỷ chất khí có mặt sớm nhất khi khi quyền mới hình thành.
(7) A-xít a-min: những hợp chất hữu cơ, có tính dinh dưỡng, thường được sử dụng trong công nghệ thực phẩm, bổ sung dinh dưỡng và chế tạo phân bón.
(8) Giả thuyết: điều tạm nêu ra để giải thích một hiện tượng nào đó.
(9) Sao chổi: thiên thạch giồng như những tăng nước đá khổng lồ trộn với bụi. Khi chúng di chuyển gần Mặt Trời thì nước đá và các khí phân từ bốc hơi. Một luồng gió từ Mặt Trời thổi vào sao chối tạo thành một cái đuôi khi và bụi trông như cái chổi (chú thích của Nguyễn Quang Riệu).
(10) Thiên thạch, những mành hành tinh nhỏ quay xung quanh Mặt Trời và rơi xuống Trái Đất (chú thích của Nguyễn Quang Riệu).
(11) Dung môi, chất lỏng hoà tan được chất khác để tạo thành dung dịch.
(đường) và ô-xi. Khí ô-xi bốc lên khí quyển và duy trì sự sống trên Trái Đất. Sự hô hấp của sinh vật dùng ô-xi để “đốt” glu-cô và sản xuất ra hơi nước và khí các-bô-níc cần thiết cho thực vật. Sự cộng sinh(1) giữa giới động vật và thực vật trên Trái Đất đã được thực hiện nhờ tác động hữu ích của Mặt Trời.
Điều đáng ngạc nhiên là sự phát hiện những vi sinh vật loại côn trùng nhỏ li ti, sống bên cạnh những suối nước nóng bỏng chìm sâu hàng nghìn mét dưới đáy biển, trong một môi trường tối tăm và nóng hàng trăm độ C! Bình thường ta không thể ngờ là môi trường này thích hợp với đời sống của sinh vật. Đây là những vùng rạn nứt trên vỏ Trái Đất có những miệng núi lửa phun vật chất mang tính dinh dưỡng (2). Chính những vi sinh vật lại được sinh sản trong môi trường khắc nghiệt này và được nuôi dưỡng bằng những vật chất phun ra từ trong lòng Trái Đất. Hiện nay các nhà khoa học đang phân vân và cho rằng sinh vật trên Trái Đất cũng có thể xuất phát từ những vi sinh vật sinh sống tận dưới đáy biển.
(Nguyễn Quang Riệu, Bầu trời tuổi thơ, NXB Giáo dục, 2002, tr. 75-76)
Đọc mở rộng
- Tim đọc một số văn bản nghị luận và văn bản thông tin có nội dung gần gũi với những văn bản mà em đã học ở các bài Khác biệt và gần gũi, Trái Đất – ngôi nhà chung. Khi đọc những văn bản này, cần chú ý những đặc điểm cơ bản của văn bản nghị luận và văn bản thông tin đề đọc hiểu một cách hiệu quả.
- Trao đổi, thảo luận về những văn bản mà em đã đọc.
(1) Cộng sinh hiện tượng sống chung cùng có lợi, hỗ trợ lẫn nhau giữa các loài động vật hay thực vật tồn tại trong cùng một môi trường.
(2) Dinh dưỡng chất cần thiết trong việc nuôi sống cơ thể sinh vật
Nguyên quang riệu (1)
Trái Đất khi mới được hình thành cách đây 4,6 tỉ năm, đã có một khí quyển (2) nguyên thuỷ chứa hi-đrô (3), a-mô-ni-ắc(4), mê-tan (5) và hơi nước. Có ý kiến cho rằng khí nguyên thuỷ (6) có thể tạo ra những loại phân tử hữu cơ trong tế bào. Quan niệm này đã được minh hoạ bằng cuộc thí nghiệm nổi tiếng thực hiện bởi nhà hoá học Min-lơ (Miller, người Mỹ) cách đây đã nửa thế kỉ. Nhà nghiên cứu Min-lơ đã điều chế được a-xít a-min(7), thành phần của chất đạm trong cơ thể, bằng cách tổng hợp những loại khí nguyên thuỷ trong phòng thí nghiệm. Có giả thuyết (8) khác cho rằng, bụi từ những sao chổi (9) và thiên thạch (10) đã gieo rắc trên hành tinh của chúng ta, mầm mống của sự sống dưới dạng vi sinh vật. Vấn đề liên quan đến nguồn gốc của sự sống trên Trái Đất và khả năng có sự sống trên các hành tinh khác vẫn còn đang được tranh luận. Đối tượng nghiên cứu này huy động các nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực: thiên văn, vật lí, hoá học và sinh học.
Nước, một thành phần thiết yếu của những phản ứng hoá học, là dung môi(11) có khả năng hoà tan những phân tử, dẫn đến sự nảy nở của sự sống. Dưới ánh sáng Mặt Trời, khí các-bô-níc kết hợp với nước để biến thành glu-cô
(1) Nguyễn Quang Riệu (1932-2021): nhà vật lí thiên văn gốc Việt nổi tiếng thế giới, sống và làm việc chủ yếu tại Cộng hoà Pháp.
(2) Khi quyển: lớp không khí dày bao ngoài Trái Đất.
(3) Hì-đrô: một nguyên tố hoá học tồn tại ở thể khi.
(4) A-mô-ni-ắc: một hợp chất vô cơ. Ở điều kiện tiêu chuẩn, là một chất khí độc, có mùi khai, tan nhiều trong nước.
(5) Mê-tan: thành phần chính của khi tự nhiên, khi dầu mỏ, khí bún ao và đầm lầy.
(6) Khi nguyên thuỷ: chất khí có mặt sớm nhất khi khi quyền mới hình thành.
(7) A-xít a-min: những hợp chất hữu cơ, có tính dinh dưỡng, thường được sử dụng trong công nghệ thực phẩm, bổ sung dinh dưỡng và chế tạo phân bón.
(8) Giả thuyết: điều tạm nêu ra để giải thích một hiện tượng nào đó.
(9) Sao chổi: thiên thạch giồng như những tăng nước đá khổng lồ trộn với bụi. Khi chúng di chuyển gần Mặt Trời thì nước đá và các khí phân từ bốc hơi. Một luồng gió từ Mặt Trời thổi vào sao chối tạo thành một cái đuôi khi và bụi trông như cái chổi (chú thích của Nguyễn Quang Riệu).
(10) Thiên thạch, những mành hành tinh nhỏ quay xung quanh Mặt Trời và rơi xuống Trái Đất (chú thích của Nguyễn Quang Riệu).
(11) Dung môi, chất lỏng hoà tan được chất khác để tạo thành dung dịch.
(đường) và ô-xi. Khí ô-xi bốc lên khí quyển và duy trì sự sống trên Trái Đất. Sự hô hấp của sinh vật dùng ô-xi để “đốt” glu-cô và sản xuất ra hơi nước và khí các-bô-níc cần thiết cho thực vật. Sự cộng sinh(1) giữa giới động vật và thực vật trên Trái Đất đã được thực hiện nhờ tác động hữu ích của Mặt Trời.
Điều đáng ngạc nhiên là sự phát hiện những vi sinh vật loại côn trùng nhỏ li ti, sống bên cạnh những suối nước nóng bỏng chìm sâu hàng nghìn mét dưới đáy biển, trong một môi trường tối tăm và nóng hàng trăm độ C! Bình thường ta không thể ngờ là môi trường này thích hợp với đời sống của sinh vật. Đây là những vùng rạn nứt trên vỏ Trái Đất có những miệng núi lửa phun vật chất mang tính dinh dưỡng (2). Chính những vi sinh vật lại được sinh sản trong môi trường khắc nghiệt này và được nuôi dưỡng bằng những vật chất phun ra từ trong lòng Trái Đất. Hiện nay các nhà khoa học đang phân vân và cho rằng sinh vật trên Trái Đất cũng có thể xuất phát từ những vi sinh vật sinh sống tận dưới đáy biển.
- Trao đổi, thảo luận về những văn bản mà em đã đọc.
(1) Cộng sinh hiện tượng sống chung cùng có lợi, hỗ trợ lẫn nhau giữa các loài động vật hay thực vật tồn tại trong cùng một môi trường.
(2) Dinh dưỡng chất cần thiết trong việc nuôi sống cơ thể sinh vật
Xem bản PDF nguyên trang sách: Ngữ văn 6 tập 2 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 76–97).
