Tôi yêu chuyện cổ nước tôi
Vừa nhân hậu lại tuyệt với sâu xa.
(Lâm Thị Mỹ Dạ)
Giới thiệu bài học
- Thời thơ ấu, chắc hẳn em đã từng được nghe nhiều câu chuyện thú vị đưa ta vào một thế giới đặc biệt: thế giới cổ tích. Đó là thế giới của những nhân vật thiện, ác rõ ràng; của những sự thưởng, phạt phân minh; đó còn là thế giới của những phép màu, những điều kì lạ, khác thường.... Bài học này sẽ đưa em trở lại thế giới đó với những phát hiện thú vị và sâu sắc.
- Em sẽ được khám phá những cốt truyện li kì, thả trí tưởng tượng theo những chi tiết kì ảo để rồi từ đó rút ra được nhiều bài học đời sống rất thực từ chính thế giới tưởng như hoang đường ấy. Em cũng có thể kể lại những câu chuyện ấy theo cách riêng của mình.
Yêu cầu cần đạt
- Nhận biết được một số yếu tố của truyện cổ tích như: cốt truyện, nhân vật, lời người kể chuyện và yếu tố kì ảo.
- Nêu được ấn tượng chung về văn bản; nhận biết được các chi tiết tiêu biểu, đề tài, câu chuyện, nhân vật trong tỉnh chỉnh thể của tác phẩm.
- Tóm tắt được văn bản một cách ngắn gọn.
- Biết vận dụng kiến thức về nghĩa của từ ngữ và biện pháp tu từ đề đọc, viết, nói và nghe.
- Viết được bài văn kể lại một truyện cổ tích.
- Kể được một truyện cổ tích một cách sinh động.
- Sống vị tha, yêu thương con người, trung thực, khiêm tốn.
Đọc
Tri thức ngữ văn
Truyện cổ tích
Truyện cổ tích là loại truyện dân gian có nhiều yếu tố hư cấu, kì ảo, kể về số phận và cuộc đời của các nhân vật trong những mối quan hệ xã hội. Truyện cổ tích thể hiện cái nhìn về hiện thực, bộc lộ quan niệm đạo đức, lẽ công bằng và ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp hơn của người lao động xưa.
Một số yếu tố của truyện cổ tích
- Truyện cổ tích thường kể về những xung đột trong gia đình, xã hội, phản ánh số phận của các cá nhân và thể hiện ước mơ đổi thay số phận của chính họ.
- Nhân vật trong truyện cổ tích đại diện cho các kiểu người khác nhau trong xã hội, thường được chia làm hai tuyến: chính diện (tốt, thiện) và phản diện (xấu, ác).
- Các chi tiết, sự việc thường có tính chất hoang đường, kì ảo.
- Truyện được kể theo trật tự thời gian tuyến tính, thể hiện rõ quan hệ nhân quả giữa các sự kiện.
- Lời kể trong truyện cổ tích thường mở đầu bằng những từ ngữ chỉ không gian, thời gian không xác định. Tuỳ thuộc vào bối cảnh, người kể chuyện có thể thay đổi một số chi tiết trong lời kể, tạo ra nhiều bản kể khác nhau ở cùng một cốt truyện.
Văn bản đọc
VĂN BẢN 1. Thạch Sanh
VĂN BẢN 2. Cây khế
VĂN BẢN 3. Vua chích choè
Văn bản 1
Trước khi đọc
1
Trong thế giới tưởng tượng, những con vật kì ảo thường được hình dung là có nhiều đặc điểm kì lạ, biết nói tiếng người, có nhiều phép thần thông, biến hoá, có thể hại người hoặc giúp ích cho người.Việc sáng tạo ra những con vật kì ảo thường đem lại sự hấp dẫn, thú vị cho câu chuyện. Hãy tưởng tượng, vẽ một con vật kì ảo và giới thiệu về con vật đó.
2
Em cũng có thể làm tương tự với việc tưởng tượng ra các đồ vật kì ảo. Trình bày về đặc điểm và chức năng của đồ vật đó.
Đọc văn bản
Thạch Sanh
Ngày xưa, có một chàng trai nghèo tên là Thạch Sanh. Thạch Sanh sống lủi thủi một mình trong túp lều cũ dựng dưới gốc đa. Cả gia tài chỉ có một lưỡi búa, hằng ngày lên rừng đốn củi kiếm ăn.Một hôm có người hàng rượu tên là Lý Thông đi qua đó, nghỉ ở gốc đa. Thấy Thạch Sanh gánh về một gánh củi lớn, hắn nghĩ bụng: "Người này khoẻ như voi. Nếu nó về ở cùng ta thì lợi bao nhiêu". Lý Thông lân la gợi chuyện rồi gạ cùng Thạch Sanh kết nghĩa anh em. Vì sớm mồ côi cha mẹ, tứ cố vô thân (1), nay lại có người săn sóc đến mình, Thạch Sanh cảm động, vui vẻ nhận lời và chàng từ giã gốc cây đa đến sống chung với mẹ con Lý Thông.Bấy giờ trong vùng có con trăn tinh(2) có nhiều phép lạ, thường ăn thịt người. Quan quân đã nhiều lần đến bố vây (3) định diệt trừ nhưng không thể làm gì được. Dân trong vùng phải lập cho nó một cái miếu thờ, hằng năm nộp một mạng người cho nó ăn thịt để nó đỡ phá phách.Năm ấy đến lượt Lý Thông nộp mình. Mẹ con hắn nghĩ kế lừa cho Thạch Sanh đi chết thay. Chiều hôm đó, Thạch Sanh đi kiếm củi về, Lý Thông dọn một mâm rượu thịt ê hề mời ăn, rồi bảo:Đêm nay anh đến phiên đi canh miếu thờ, ngặt vì dở cất mẻ rượu, em chịu khó đi thay anh một đêm, đến sáng lại về.Thạch Sanh thật thà nhận lời đi ngay.Nửa đêm hôm ấy, Thạch Sanh đang mơ màng nửa thức nửa ngủ, bỗng nghe thấy có tiếng động mạnh sau miếu. Chàng vừa xách búa đứng dậy thì trăn tinh đã hiện ra, nhe nanh vuốt xông vào con mối. Thạch Sanh không hề sợ hãi, giơ cao búa giáng thật mạnh vào đầu trăn tinh. Thạch Sanh đã xả xác nó ra làm hai mảnh. Trăn tinh hiện nguyên hình là một con trăn khổng lồ và
THEO DÕI Chú ý thời gian, không gian bắt đầu câu chuyện.
DỰ ĐOÁN Điều gì sẽ xảy ra tiếp sau đó?
Tứ cố vô thân: đơn độc, không có ai thân thích.
Trăn tinh: con trăn đã tu luyện, trở thành yêu quái.
Bố vây (hoặc bủa vây): dùng lực lượng với số đông để ngăn chặn khắp mọi phía, không cho đối tượng thoát.
để lại bên mình một bộ cung tên bằng vàng. Thạch Sanh ung dung chặt đầu con quái vật và nhặt bộ cung tên vàng xách về nhà. Lúc ấy đã gần về sáng. Mẹ con Lý Thông còn đang ngủ bỗng nghe tiếng gọi cửa. Ngờ là oan hồn Thạch Sanh hiện về báo oán, chúng hoảng sợ van lạy rối rít. Khi Thạch Sanh vào nhà kể chuyện giết trăn tinh, mẹ con Lý Thông mới hoàn hồn. Nhưng những kẻ độc ác thì trong đầu bao giờ cũng có sẵn những mưu thâm. Lý Thông nói với Thạch Sanh:- Con trăn ấy vốn là của nhà vua nuôi từ lâu. Nay em giết nó chắc không tránh khỏi tội nặng. Thôi bây giờ nhân trời chưa sáng, em hãy trốn ngay đi. Có chuyện gì để anh ở nhà lo liệu!Thạch Sanh thật thà tin ngay, vội từ giã mẹ con Lý Thông ra đi. Chàng lại trở về với túp lều cũ dưới gốc đa, kiếm củi nuôi thân. Còn Lý Thông hí hửng đem đầu của con yêu quái vào kinh đô nộp cho nhà vua. Vua khen ngợi và phong cho làm Quận công.Nhà vua có một cô công chúa vừa đến tuổi lấy chồng. Một hôm công chúa đang ngồi trên lầu cao bỗng bị một con đại bàng khổng lồ bay đến quắp đi. Con đại bàng bay qua phía trên túp lều của Thạch Sanh, Thạch Sanh trông thấy liền dùng cung tên vàng bắn theo một phát. Mũi tên trúng vào cánh đại bàng. Nó đau đớn, quằn quại nhưng gắng sức bay về đến hang trong núi sâu. Thạch Sanh lần theo vết máu, tìm được chỗ ở của đại bàng.Nhà vua vô cùng đau đớn, bèn sai Lý Thông đi tìm, hứa sẽ gả công chúa và nhường ngôi cho. Vừa mừng, vừa lo, Lý Thông lại tìm đến túp lều dưới gốc đa của Thạch Sanh. Thạch Sanh thật thà kể cho hắn nghe chàng đã bắn đại bàng bị thương và lần ra được
THEO DÕI Chú ý hành động của Thạch Sanh và Lý Thông sau khi Thạch Sanh bị Lý Thông lừa.
hang ổ của nó như thế nào. Lý Thông mừng quá liền nhờ Thạch Sanh dẫn đường cho quân sĩ đến hang đá. Hang sâu thăm thẳm, nhìn vào ai cũng thấy rùng mình, hoảng sợ.Thạch Sanh xin cho mình được xuống hang cứu công chúa. Quân sĩ lấy dây dài buộc vào lưng chàng rồi dòng xuống. Đại bàng nguyên là một con yêu tinh ở trên núi có nhiều phép lạ. Tuy bị thương nặng nhưng khi thấy Thạch Sanh xuất hiện nó cũng đã vùng ngay dậy được, vung cánh chĩa vuốt, lao vào kẻ thù mạnh như một cơn bão lớn. Thạch Sanh dùng cung tên vàng bắn mù hai mắt đại bàng, rồi vung búa chặt đứt vuốt sắc, bổ vỡ đôi đầu đại bàng. Sau khi giết được chim dữ, Thạch Sanh lấy dây buộc vào người công chúa rồi ra hiệu cho quân Lý Thông kéo lên trước. Sau khi đưa được công chúa lên tới mặt đất, Lý Thông liền ra lệnh cho quân sĩ vẫn những tảng đá lớn lấp kín cửa hang lại, rồi kéo nhau về. Thạch Sanh đi sâu vào hang, để tìm lối ra khác. Đến cuối hang, chàng thấy có một chiếc cũi sắt. Một chàng trai khôi ngô tuấn tú bị nhốt trong đó, chàng trai đó chính là Thái tử con vua Thuỷ Tế. Thạch Sanh bèn dùng cung vàng bắn tan cũi sắt cứu Thái tử ra. Thái tử thoát nạn hết lời cảm tạ chàng và mời chàng xuống chơi Thuỷ phủ (1).Vua Thuỷ Tế sung sướng được gặp lại con, đãi chàng rất hậu. Khi chàng về, vua biếu rất nhiều vàng bạc nhưng Thạch Sanh không nhận, chỉ xin có một cây đàn. Rồi chàng lại trở về gốc đa sinh nhai (2) bằng nghề cũ.Hồn trăn tinh và đại bàng lang thang, một hôm gặp nhau bàn cách báo thù Thạch Sanh. Chúng vào kho của nhà vua ăn trộm của cải mang tới quẳng ở gốc đa để vu vạ cho Thạch Sanh. Thạch Sanh bị bắt hạ ngục.Về phần nàng công chúa bất hạnh, từ khi được cứu thoát đưa về cung thì bị câm. Suốt ngày nàng chẳng nói, chẳng cười, mặt buồn rười rượi. Vua đành hoãn việc cưới xin và bảo Lý Thông mời thầy thuốc về chạy chữa. Không biết bao nhiêu thầy thuốc giỏi trong nước đã được mời đến nhưng không ai chữa được bệnh câm và tâm trạng sầu não của công chúa.Một hôm, Thạch Sanh ngồi trong ngục tối, đem đàn của vua Thuỷ Tế cho ra gảy. Tiếng đàn vang lên như những lời trách oán, trách sự hờ hững của
TƯỞNG TƯỢNG Thế giới do vua Thuỷ Tề cai trị có những đặc điểm gì?
Thuỷ phủ: dinh thự ở dưới nước, nơi ở của thuỷ thần.
Sinh nhai: kiếm sống.
công chúa và oán sự độc ác của Lý Thông. Tiếng đàn vắng đến hoàng cung, lọt vào tai công chúa. Vừa nghe tiếng đàn, công chúa bỗng cười nói vui vẻ. Nàng xin vua cha cho gọi người đánh đàn vào cung.Nhà vua lấy làm lạ, cho đòi Thạch Sanh đến. Trước mặt mọi người, chàng kể hết đầu đuôi chuyện của mình, từ chuyện kết bạn với Lý Thông đến chuyện chém trăn tinh, từ chuyện giết đại bàng, cứu công chúa đến chuyện bị lấp cửa hang và cuối cùng là chuyện bị bắt oan vào ngục thất của hoàng cung. Mọi người bấy giờ mới hiểu ra tất cả sự thật. Vua sai bắt giam hai mẹ con Lý Thông lại giao cho Thạch Sanh xét xử. Chàng rộng lượng tha thứ cho chúng về quê làm ăn. Nhưng về đến nửa đường thì chúng bị sét đánh chết.Nhà vua gả công chúa cho Thạch Sanh, lễ cưới của họ tưng bừng nhất kinh kì, chưa bao giờ và chưa ở đâu có lễ cưới tưng bừng như thế. Thấy vậy, bọn hoàng tử các nước chư hầu(1) trước kia bị công chúa từ hôn (2) lấy làm tức giận. Họ hội họp binh lính cả mười tám nước lại kéo sang đánh. Thạch Sanh xin nhà vua đừng động binh (3). Chàng một mình cầm cây đàn ra trước quân giặc. Tiếng đàn của chàng vừa cất lên thì quân sĩ của mười tám nước bủn rủn tay chân, không còn nghĩ gì được tới chuyện đánh nhau nữa. Cuối cùng, các hoàng tử phải cuốn giáp ra về. Thạch Sanh sai dọn một bữa cơm thết đãi những kẻ thua trận. Cả mấy vạn tướng lĩnh, quân sĩ thấy Thạch Sanh chỉ cho dọn ra vẻn vẹn có một niêu cơm tí xíu thì ai nấy đều ngạc nhiên, toan bỏ về. Thạch Sanh thân chinh (4) đến mời họ cấm đũa và hứa sẽ trọng thưởng cho những ai ăn hết nổi cơm đó. Quân sĩ mười tám nước ăn mãi, ăn mãi nhưng nổi cơm bé xíu vậy mà cứ ăn hết lại đấy. Sau khi ăn no nê, quân sĩ mười tám nước cúi đầu lạy tạ vợ chồng Thạch Sanh và kéo nhau về nước.Về sau, vua không có con trai nên đã nhường ngôi cho Thạch Sanh.(Theo Bùi Mạnh Nhị (Chủ biên), Văn học dân gian: những tác phẩm chọn lọc, NXB Giáo dục, 2008, tr. 244-247)
TƯỞNG TƯỢNG Cảnh mấy vạn tướng sĩ các nước chư hầu ngồi ăn cơm quanh chiếc niêu bé xíu.
Nước chư hầu: nước nhỏ, bị phụ thuộc và phải phục tùng, cống nạp các nước lớn hơn, mạnh hơn.
Từ hôn: huỷ bỏ việc giao hẹn, đính hôn với nhau. Ở đây "từ hôn" có nghĩa là từ chối kết hôn.
Động binh: sử dụng quân đội để tiến hành chiến tranh.
Thân chinh: tự mình làm một việc có thể giao cho cấp dưới.
Sau khi đọc
Trả lời câu hỏi
1
Em có thích truyện Thạch Sanh không? Vì sao?
2
Gia cảnh của Thạch Sanh có gì đặc biệt?
3
Truyện Thạch Sanh có những con vật kì ảo nào? Chúng có đặc điểm gì khác thường?
4
Sau khi được Lý Thông kéo lên từ hang của đại bàng và đưa trở lại cung, công chúa đã bị câm. Theo em, điều gì sẽ xảy ra nếu công chúa không bị như vậy?
5
Truyện Thạch Sanh có nhiều đồ vật kì ảo. Hãy kể tên các đồ vật đó và nêu đặc điểm, tác dụng của chúng.
6
Trong truyện, hai nhân vật Thạch Sanh và Lý Thông luôn đối lập nhau về hành động. Lập bảng so sánh để thấy rõ sự đối lập đó. Qua đó, em có nhận xét gì về đặc điểm của hai nhân vật này?
7
Kết thúc truyện, Thạch Sanh được nhà vua gả công chúa và nhường ngôi. Qua cách kết thúc này, tác giả dân gian muốn thể hiện điều gì?
8*
Về kết cục của mẹ con Lý Thông, ở văn bản do Huỳnh Lý và Nguyễn Xuân Lân kể có chi tiết: "Mẹ con Lý Thông về quê đến nửa đường thì bị Thiên Lôi giáng sấm sét đánh chết, rồi bị hoá kiếp làm con bọ hung". Bản của Anh Động (và nhân dân một số vùng Nam Bộ) kể: "Lý Thông được tha nhưng y về dọc đường mưa to, sấm sét đánh tan thây ra từng mảnh, mỗi mảnh hoá thành một con ễnh ương. Cho nên bây giờ mỗi khi có mưa to sấm sét, ễnh ương sợ, kêu lên những tiếng man dã...".Em có nhận xét gì về những cách kết thúc này?
Việt kết nói với đọc
Dũng sĩ là người có lòng dũng cảm, chiến đấu diệt trừ cái ác, bảo vệ cuộc sống của cộng đồng. Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) kể về một dũng sĩ mà em gặp ngoài đời hoặc biết qua sách báo, truyện kể.
Thực hành tiếng Việt
Nghĩa của từ ngữ
1
Khi gặp một từ ngữ mới trong văn bản, trước khi dùng từ điển để tra cứu, có thể dựa vào nghĩa của những yếu tố tạo nên từ ngữ đó để suy đoán nghĩa của nó. Chẳng hạn, nhờ biết được gia là "nhà", tài là "của cải", có thể suy đoán được gia tài là "của cải riêng của một người hay một gia đình".Vận dụng cách trên để suy đoán nghĩa của các từ ngữ sau: gia tiên, gia truyền, gia cảnh, gia sản, gia súc.
2
Khi gặp một từ ngữ mới trong văn bản, có thể dựa vào những từ ngữ xung quanh để suy đoán nghĩa của nó. Chẳng hạn, khi đọc câu "Cô chị rất khéo léo, còn cô em thì rất hậu đậu."
có thể có người không biết hậu đậu nghĩa là gì, nhưng khéo léo thì nhiều người biết. Nhờ biết nghĩa của khéo léo và sự xuất hiện trong câu có ý đối lập hậu đậu với khéo léo, có thể suy đoán được hậu đậu là "không khéo léo", nghĩa là vụng về.
Đọc những đoạn trích sau, vận dụng phương pháp đã được hướng dẫn để suy đoán nghĩa của các từ ngữ in đậm.
a
Thạch Sanh đã xả xác nó ra làm hai mảnh. Trăn tinh hiện nguyên hình là một con trăn khổng lồ và để lại bên mình một bộ cung tên bằng vàng.
b
Hồn trăn tinh và đại bàng lang thang, một hôm gặp nhau bàn cách báo thù Thạch Sanh. Chúng vào kho của nhà vua ăn trộm của cải mang tới quẳng ở gốc đa để vu vạ cho Thạch Sanh. Thạch Sanh bị bắt hạ ngục.
c
Mọi người bấy giờ mới hiểu ra tất cả sự thật. Vua sai bắt giam hai mẹ con Lý Thông lại giao cho Thạch Sanh xét xử. Chàng rộng lượng tha thứ cho chúng về quê làm ăn.
d
Thạch Sanh xin nhà vua đừng động binh. Chàng một mình cầm cây đàn ra trước quân giặc. Tiếng đàn của chàng vừa cất lên thì quân sĩ của mười tám nước bủn rủn tay chân, không còn nghĩ gì được tới chuyện đánh nhau nữa.
3
Giải thích nghĩa của những từ ngữ in đậm trong các trường hợp sau:
a
Một hôm có người hàng rượu tên là Lý Thông đi qua đó, nghĩ ở gốc đa. Thấy Thạch Sanh gánh về một gánh củi lớn, hắn nghĩ bụng: "Người này khoẻ như voi. Nếu nó về ở cùng ta thì lợi bao nhiêu". Lý Thông lân la gọi chuyện rồi gạ cùng Thạch Sanh kết nghĩa anh em.
b
Còn Lý Thông hí hửng đem đầu của con yêu quái vào kinh đô nộp cho nhà vua.
c
Đến cuối hang, chàng thấy có một chiếc cũi sắt. Một chàng trai khôi ngô tuấn tú bị nhốt trong đó, chàng trai đó chính là Thái tử con vua Thuỷ Tề.
d
Về phần nàng công chúa bất hạnh, từ khi được cứu thoát đưa về cung thì bị câm. Suốt ngày nàng chẳng nói, chẳng cười, mặt buồn rười rượi.
4
Trong tiếng Việt có thành ngữ niêu cơm Thạch Sanh. Căn cứ vào truyện Thạch Sanh, hãy suy đoán nghĩa của thành ngữ trên. Em biết những thành ngữ nào khác được hình thành từ nội dung của các truyện kể?
Văn bản 2
Trước khi đọc
Hẳn nhiều em có ước muốn được đặt chân đến một hòn đảo ngoài khơi xa lắc, chưa ai biết đến và thường hình dung ở đó có nhiều điều thú vị, kì diệu chờ được khám phá.
Hãy tưởng tượng em đang ở vào tình huống đó. Em có thể chia sẻ với các bạn những điều kì diệu mà em được chứng kiến.
Đọc văn bản
Cây khế
THEO DÕI Thời gian, địa điểm diễn ra câu chuyện có gì đặc biệt?
Ngày xửa ngày xưa ở một nhà kia có hai anh em, cha mẹ mất sớm. Hai anh em chăm lo làm lụng nên trong nhà cũng đủ ăn. Nhưng từ khi có vợ, người anh sinh ra lười biếng, bao nhiêu công việc khó nhọc đều trút cho vợ chồng em. Hai vợ chồng người em thức khuya, dậy sớm, cố gắng làm lụng. Thấy thế người anh sợ em tranh công, liền bàn với vợ cho hai vợ chồng em ở riêng.Người anh chia cho em được một gian nhà lụp xụp ở trước cửa có một cây khế ngọt. Còn người anh có bao nhiêu ruộng cho làm rẽ(1) và ngồi hưởng sung sướng với vợ. Thấy em không ta thán (2), lại cho là đần độn và không đi lại với em nữa.Những ngày sung sướng nhất của hai vợ chồng người em là những ngày khế chín. Quanh năm hai vợ chồng chăm chút cho nên cây khế xanh mơn mởn, quả lúc lĩu sát đất, trẻ lên ba cũng với tay được.Một buổi sáng, hai vợ chồng ra hái khế đi bán thì thấy trên cây có tiếng rung mạnh như có người. Hai vợ chồng nhìn lên thì thấy có một con chim lớn đang ăn khế chín. Hai người đợi cho chim ăn xong bay đi mới lên cây hái. Từ đó ròng rã một tháng trời, hằng ngày chim cứ đến ăn vào lúc sáng sớm làm quả vợi hẳn đi.Một hôm đứng đợi chim ăn, người vợ nói:- Ông chim ơi, ông ăn như thế còn gì là khế của nhà cháu nữa! Cây khế nhà cháu cũng sắp hết quả rồi đấy, ông ạ!Chim nói:– Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang (3), mang đi mà đựng!Nói đi nói lại ba lần, chim mới vỗ cánh bay đi. Hai vợ chồng nghe lời chim may một túi vải, bề dọc bề ngang vừa đúng ba gang.
DỰ ĐOÁN Điều gì sẽ xảy ra tiếp theo?
Làm rẽ: (người nghèo) nhận đất, ruộng.... để sản xuất sau đó nộp một phần sản phẩm, hoa lợi.... cho người chủ đất.
Ta thán: than thở, than vãn.
Gang (hay gang tay): khoảng cách tối đa giữa đầu ngón tay cái và đầu ngón tay giữa khi bàn tay được căng ra, dùng làm đơn vị đo độ dài, thường khoảng 20 cm.
Sáng hôm sau, hai vợ chồng vừa ăn cơm xong thì thấy gió mù mịt và một con chim rất lớn hạ xuống giữa sân, quay mặt vào nhà kêu mấy tiếng như chào hỏi. Người chồng xách túi ra, chim rạp mình xuống đất cho anh trèo lên lưng rồi vỗ cánh bay lên. Chim bay mãi, bay mãi, qua bao nhiêu là miền, hết đồng ruộng đến rừng xanh, hết rừng xanh đến biển cả... Ra tới giữa biển, chim rẽ vào một cái đảo toàn đá trắng, đá xanh, đá đỏ, đá ngũ sắc (1). Chim bay một vòng quanh đảo, rồi từ từ hạ xuống một cái hang.Chim ra hiệu cho anh vào lấy gì thì lấy. Ngay cửa hang anh thấy toàn những thứ đá trong như thuỷ tinh và hổ phách (2) đủ các màu. Anh thấy hang sâu và rộng nên không dám vào, chỉ dám nhặt ít vàng, kim cương ở ngoài rồi ra hiệu cho chim bay về.Chim lại cất cánh trở về, bay qua hết biển cả đến rừng xanh, hết rừng xanh đến đồng ruộng, tới khi mặt trời đứng bóng thì chim đưa anh về đến nhà. Từ đấy, vợ chồng người em trở nên giàu có.Tiếng đồn người em giàu có đến tai vợ chồng người anh. Hai vợ chồng người anh vội đến chơi hỏi chuyện. Nghe em thật thà kể hết đầu đuôi, người anh gạ đổi gia sản lấy túp lều và cây khế. Người em ưng thuận.
TƯỞNG TƯỢNG Một hang lớn đầy vàng, kim cương.... trông thế nào?
Ngũ sắc: năm màu chính thường được dùng trong trang trí (xanh, đỏ, vàng, đen, trắng).
Hổ phách: nhựa cây (thường là nhựa thông) đã hoá đá, màu vàng nâu, trong suốt, thường dùng làm đồ trang sức, chữa bệnh.
Ngày xửa ngày xưa ở một nhà kia có hai anh em,
cha mẹ mất sớm. Hai anh em chăm lo làm lụng
nên trong nhà cũng đủ ăn. Nhưng từ khi có vợ,
người anh sinh ra lười biếng, bao nhiêu công việc
khó nhọc đều trút cho vợ chồng em. Hai vợ chồng
người em thức khuya, dậy sớm, cố gắng làm lụng. Thấy thế người anh sợ em
tranh công, liền bàn với vợ cho hai vợ chồng em ở riêng.
Thời gian, địa điểm
diễn ra câu chuyện có gi
đặc biệt?
Người anh chia cho em được một gian nhà lụp xụp ở trước cửa có một
cây khế ngọt. Còn người anh có bao nhiêu ruộng cho làm rẽ (1) và ngồi hưởng
sung sướng với vợ. Thấy em không ta thán(2), lại cho là đần độn và không đi
lại với em nữa.
Những ngày sung sướng nhất của hai vợ chồng người em là những ngày
khế chín. Quanh năm hai vợ chồng chăm chút cho nên cây khế xanh mơn
mởn, quả lúc lĩu sát đất, trẻ lên ba cũng với tay được.
Điều gì sẽ xảy ra
tiếp theo?
Một buổi sáng, hai vợ chồng ra hái khế đi bán
thì thấy trên cây có tiếng rung mạnh như có người.
Hai vợ chồng nhin lên thì thấy có một con chim lớn
đang ăn khế chín. Hai người đợi cho chim ăn xong
bay đi mới lên cây hái. Từ đó ròng rã một tháng trời,
hằng ngày chim cứ đến ăn vào lúc sáng sớm làm quả vợi hẳn đi.
Một hôm đứng đợi chim ăn, người vợ nói:
Ông chim ơi, ông ăn như thế còn gì là khế của nhà cháu nữa! Cây khế nhà
cháu cũng sắp hết quả rồi đấy, ông ạ!
Chim nói:
Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang (3), mang đi mà đựng!
Nói đi nói lại ba lần, chim mới vỗ cánh bay đi. Hai vợ chồng nghe lời chim
may một túi vải, bể dọc bề ngang vừa đúng ba gang.
(1) Làm rẽ: (người nghèo) nhận đắt, ruộng.... đề sản xuất sau đó nộp một phần sản phẩm, hoa lợi....
cho người chủ đất.
(2) Ta thân than thở, than vän.
(3) Gang (hay gang tay): khoảng cách tối đa giữa đầu ngón tay cái và đầu ngón tay giữa khi bàn tay
được căng ra, dùng làm đơn vị đo độ dài, thường khoảng 20 cm.
Sáng hôm sau, hai vợ chồng vừa ăn cơm xong thì thấy gió mù mịt và một
con chim rất lớn hạ xuống giữa sân, quay mặt vào nhà kêu mấy tiếng như chào
hỏi. Người chống xách túi ra, chim rạp minh xuống đất cho anh trèo lên lưng
rồi vỗ cánh bay lên. Chim bay mãi, bay mãi, qua bao nhiêu là miền, hết đồng
ruộng đến rừng xanh, hết rừng xanh đến biển cả... Ra tới giữa biển, chim rẽ
vào một cái đảo toàn đá trắng, đá xanh, đá đỏ, đá ngũ sắc(1), Chim bay một
vòng quanh đảo, rồi từ từ hạ xuống một cái hang.
Một hang lòn
đầy vàng kim cương.... tròng
thế nào?
Chim ra hiệu cho anh vào lấy gì thì lấy. Ngay cửa
hang anh thấy toàn những thứ đá trong như thuỷ tinh
và hổ phách(2) đủ các màu. Anh thấy hang sâu và
rộng nên không dám vào, chỉ dám nhặt ít vàng, kim
cương ở ngoài rồi ra hiệu cho chim bay về.
Chim lại cất cánh trở về, bay qua hết biển cả đến rừng xanh, hết rừng xanh
đến đồng ruộng, tới khi mặt trời đứng bóng thì chim đưa anh về đến nhà. Từ
đấy, vợ chồng người em trở nên giàu có.
Tiếng đồn người em giàu có đến tai vợ chống người anh. Hai vợ chồng
người anh vội đến chơi hỏi chuyện. Nghe em thật thà kể hết đầu đuôi, người
anh gạ đối gia sản lấy túp lều và cây khế. Người em ưng thuận.
(1) Ngũ sắc: năm màu chỉnh thường được dùng trong trang tri (xanh, đỏ, vàng, đen, trắng).
(2) Hổ phách nhưa cây (thường là nhựa thông) đã hoá đà, màu vàng nâu, trong suốt, thường dùng
làm đồ trang sức, chữa bệnh.
Hai vợ chồng người anh mừng quýnh dọn đến ở túp lều. Họ chỉ ăn và chờ
ngày chim đến. Một buổi sáng, hai vợ chống thấy luồng gió mạnh nổi lên và
ngọn cây khế rung chuyển. Hai người hớt hải chạy ra thì quả nhiên thấy một
con chim lớn đang ăn khế. Họ vội tru tréo (1) lên:
Cả nhà tôi trông vào cây khế, bây giờ chim ăn ráo ăn tiệt (2) thì tôi cậy
vào đâu.
Chim liền đáp:
Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng!
Rồi bay vụt đi.
Hai vợ chồng cuống quýt bàn cãi may túi. Mới
đầu họ định mang nhiều túi, sau lại sợ chim không
ưng, bèn chỉ mang một túi như em nhưng to gấp ba
lần, thành ra như một cái tay nải (3) lớn.
Cái túi của vợ chồng
người anh sẽ gây ra điều gì?
Sáng hôm sau, chim đến. Người chống tót ngay lên lưng chim, còn người
vợ vái lấy vái để chim thần. Chim cũng bay mãi, bay mãi hết đồng ruộng đến
rừng xanh, hết rừng xanh đến biển cả rồi cuối cùng cũng đưa người anh đến
cái đảo vàng giữa biển.
Trên lưng chim bước xuống, anh ta đã hoa mắt vì của quý. Vào trong
hang, anh ta lại càng mê mẩn tâm thần, quên đói, quên khát, có nhặt vàng và
kim cương cho thật đấy tay nải. Tay nải đã đấy, anh ta còn lấy thêm vàng dồn
cả vào ống tay áo, ống quần đến nỗi nặng quá phải lê mãi mới ra khỏi hang.
Chim chở lâu chốc chốc lại kêu lên mấy tiếng thúc giục. Mãi gắn chiếu anh
ta mới lê được đến chỗ chim đợi. Muốn khỏi rơi, anh ta đặt tay nải dưới cánh
chim rồi lấy dây buộc chặt vào lưng chim và cố mình,
Chim lấy đà mãi mới cất cánh nổi. Trời đã về chiều, chim còn đang bay phía
trên biển cả thì bỗng nổi cơn gió mạnh. Mang nặng, bay ngược gió, chim yếu dần,
hai cánh rũ xuống. Tay nải vàng thốt nhiên (4 bị gió bật mạnh vào cánh chim.
Chim buông xuôi hai cánh đâm bổ xuống biển.
Trong chớp mắt, người anh đã bị ngọn sóng cuốn đi với tay nải vàng và
châu báu đấy người. Còn chim chỉ bị ướt lông, ướt cánh, chim lại vùng lên
bay về núi về rừng.
(Bùi Mạnh Nhị (Chủ biên), Văn học dân gian: những tác phẩm chọn lọc, Sđd, tr. 209-211)
(1) Tru tréo: la hét rất to, để nhiều người cùng biết, có ý ăn vạ.
(2) Ấn rào ăn tiệt ăn hết, không còn gì.
(3) Tay nất túi vài may theo lối xưa, có quai đeo, có dạng như một cái bọc, dùng để đựng đồ đi đường.
(4) Thốt nhiên (như đột nhiên): bất ngờ, bất chợt.
Sau khi đọc
Trả lời câu hỏi
1
Cây khế kể về chuyện gì? Em thích nhất chi tiết nào trong truyện?
2
Hãy tóm tắt truyện Cây khế.
3
Truyện cổ tích thường mở đầu bằng những từ ngữ quen thuộc chì thời gian quá khứ,
không gian không xác định. Hãy tìm các từ ngữ đó trong truyện Cây khế.
4
Con chim đưa hai anh em ra đảo hoang có phải là con vật ki ảo không? Vì sao?
5
Trong lời kể của truyện cổ tích, tác giả dân gian thường xen vào những câu có dáng dấp
ca dao, tục ngữ, lời có vần dễ thuộc, dễ nhớ. Trong truyện này, có câu nói nào như thế?
Nhân vật nào đã nói câu nói đó?
6
Đảo xa nơi con chim đưa người em đến có điều gì kì diệu? Điều kì diệu này đã giúp gi
cho cuộc sống của người em sau đó?
7
Trong truyện, hai nhân vật người anh và người em luôn đối lập nhau về hành động. Hãy
chỉ ra sự đối lập giữa họ và nêu nhận xét về đặc điểm của hai nhân vật này.
8
Từ những kết cục khác nhau đối với người anh và người em, tác giả dân gian muốn gửi
gầm bài học gì trong truyện này?
Việt kết nói với đọc
Tưởng tượng một kết thúc khác cho truyên Cây khế. Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) kể về
kết thúc đó.
Thực hành tiếng Việt
Nghĩa của từ ngữ
1
Giải thích nghĩa của các từ ngữ in đậm trong
những câu sau: 0
những câu sau:
a. Quanh năm hai vợ chồng chăm chút cho nên cây khế xanh mơn mởn, quả lúc lĩu sát
đất, trẻ lên ba cũng với tay được.
b. Từ đó ròng rã một tháng trời, hằng ngày chim cử đến ăn vào lúc sáng sớm làm quả
vợi hẳn đi.
2
So sánh những lời kể về vợ chồng người em và vợ chồng người anh (khi chuẩn bị theo
chim ra đào, khi lấy vàng bạc trên đảo) và thực hiện yêu cầu nêu ở dưới:
Vợ chồng người em | Vợ chồng người anh
Hai vợ chồng nghe lời chim may một
túi vải, bể dọc bề ngang vừa đúng
ba gang. | Hai vợ chồng cuống quýt bàn cãi may
túi. Mới đầu họ định may nhiều túi, sau
lại sợ chim không ưng, bèn chỉ mang một
túi như em nhưng to gấp ba lần, thành ra
như một cái tay nài lớn.
Người chồng xách túi ra, chim rạp mình
xuống đất cho anh trèo lên lưng rồi vỗ
cánh bay lên.
Anh thấy hang sâu và rộng nên không
dám vào, chỉ dám nhật ít vàng, kim
cương ở ngoài rồi ra hiệu cho chim
bay về.
Người chồng tốt ngay lên lưng chim, côn
người vợ vài lầy vải để chim thần.
Trên lưng chim bước xuống, anh ta đã
hoa mắt vì của quỷ. Vào trong hang, anh
ta lại càng mê mẫn tâm thần, quên đói,
quên khát, cổ nhặt vàng và kim cương
cho thật đầy tay nài. Tay nài đã đầy, anh
ta còn lấy thêm vàng dồn cả vào ống tay
áo, ống quần đến nỗi nặng quá phải lê
mãi mới ra khỏi hang.
a
Tìm những động từ hoặc cụm động từ thể hiện rõ sự khác biệt về hành động giữa vợ
chồng người em và vợ chồng người anh.
b
Giải thích nghĩa của những động từ hoặc cụm động từ tìm được ở trên.
Biện pháp tutu
3
Hai câu sau đây có sử dụng cùng một biện pháp tu từ. Chỉ ra biện pháp tu từ đó và nêu
tác dụng của nó.
a. Quân sĩ mười tám nước ăn mãi, ăn mãi nhưng niêu cơm bé xíu cứ ăn hết lại đầy.
b. Chim bay mãi, bay mãi, qua bao nhiêu là miền, hết đồng ruộng đến rừng xanh, hết
rừng xanh đến biển cả.
4
Đặt một câu có sử dụng biện pháp tu từ được chỉ ra ở bài tập 3.
Đọc văn bản Chân trời sáng tạo
Vua chích choè
Nhà vua nọ chỉ có một người con gái. Công chúa đẹp tuyệt trần, nhưng vì
vậy công chúa kiêu ngạo và ngông cuồng, không một ai vừa mắt nàng cả. Nàng
chối từ hết người này đến người khác, không những vậy lại còn chế giễu, nhạo
báng họ. Có một lần, nhà vua cho mời các chàng trai ở khắp các nước xa gần
tới thết tiệc linh đình để chọn phò mã (1), Khách đứng thành hàng theo ngôi
thứ, đứng trên cùng là vua các nước rồi các công tước, các ông hoàng, các
bá tước, các nam tước, cuối cùng là những người dòng dõi quý tộc. Công chúa
được dẫn đi xem mặt. Chẳng ai được công chúa tha, người nào nàng cũng có
(1) Phò mã: con rể của vua.
cớ để giễu cợt. Người thì nàng cho là quá mập, nàng đặt tên là Thùng tô-nô),
người quá mảnh khảnh thì nàng nói: “mảnh khảnh thế thì gió thổi bay",
người thứ ba thì lại lùn, nàng chê: "lùn lại mập thì vụng về lắm", người thứ tư
mặt mày xanh xao, bị đặt tên Nhợt nhạt như chết đuối, người thứ năm mặt đỏ
như gấc, nàng gọi Xung đồng đỏ, người thứ sáu đứng dáng hơi cong, nàng chê
là Cây non sấy lò cong cớn, nhìn ai nàng cũng tìm cách nhạo báng. Nàng lấy
làm khoái chí khi thấy một người có cầm hơi cong như mỏ chim chích choè,
nàng nói giỡn, chả, anh ta có cái cằm chẳng khác gì chim chích choè có mỏ,
khiến cho từ đó trở đi ông vua tốt bụng ấy có tên là Vua chích choè.
Thấy con mình chỉ giễu cợt, nhạo báng, chối từ và chê tất cả mọi người có
mặt trong buổi kén phò mã, nhà vua nổi cơn thịnh nộ (2) và ban truyền: vua sẽ
gả công chúa cho người ăn mày đầu tiên đi qua hoàng cung.
Vài hôm sau, có một người hát rong đi qua, đứng ngây dưới cửa số cất tiếng
hát, mong sẽ được ban thưởng cho vài xu. Nghe thấy vậy nhà vua truyền:
- Hãy gọi tên hát rong vào cung.
Trong bộ quần áo rách, bẩn thỉu, người hát rong đi vào cung vua, hát cho
vua và công chúa nghe, rồi đưa tay xin tiền thưởng. Nhà vua bảo:
- Ta rất thích tiếng hát của ngươi, vì vậy ta gả con gái ta cho ngươi.
(1) Thùng tô-nó thùng lớn hình ống, có đai đóng quanh, phình ở giữa, dùng để chứa chất lỏng.
2) Thịnh nộ nổi giận, giận dữ cao độ.
Công chúa sợ hãi, nhưng nhà vua vẫn nói:
Cha đã thể rằng sẽ gả con cho người ăn mày đầu tiên đi qua cung vua,
cha muốn giữ lời thế đó.
Mọi van xin đều không có ích gi. Linh mục được mời ngay tới để làm
hôn lễ công chúa lấy người hát rong. Hôn lễ cử hành xong, nhà vua bảo:
Theo tục lệ, vợ một người hát rong không được ở lại trong cung vua, giờ
thì con phải theo chồng ra khỏi cung.
Người hát rong cầm tay nàng, cả hai đi ra khỏi cung vua, nàng phải đi bộ
theo chồng. Tới một khu rừng lớn, nàng lên tiếng hỏi:
Chà, rừng đẹp này của ai?
Rừng của Vua chích choè/ Nàng lấy người đó, rừng kia của nàng.
Tôi cô gái dịu hiền đáng thương/ Đáng ra nên lấy ông Vua chích choè.
Một lúc sau họ tới một thảo nguyên, công chúa lại hỏi:
- Thảo nguyên xanh đẹp của ai?
- Thảo nguyên của Vua chích choè/ Nàng lấy người đó, thảo nguyên của nàng.
Tôi cô gái dịu hiến đáng thương/ Đáng ra nên lấy ông Vua chích choè.
Rồi họ tới một thành phố lớn, công chúa lại hỏi:
- Thành phố mĩ lệ này của ai?
- Thành phố mĩ lệ của Vua chích choè/ Nàng lấy người đó, thành kia của nàng.
Người hát rong nói:
Tôi chẳng hài lòng tí nào cả, tại sao nàng lại cứ luôn luôn mong có người
chống khác, thế tôi không xứng đáng hay sao?
Cuối cùng họ tới trước một túp lều nhỏ xíu, công chúa thốt lên:
Trời ơi, nhà gì mà bé ẩm ương(1)/ Nhà ai mà nhỏ, thảm thương thế này?
Người hát rong đáp:
- Nhà của anh, của nàng/ Nơi chàng thiếp sống chung.
Công chúa phải cúi gập người xuống mới đi qua được chiếc cửa ra vào thấp
lè tè. Công chúa hỏi:
- Người hầu của anh đâu?
(1) Am ương dỡ, không bình thường.
Người hát rong đáp:
- Người hầu nào? Muốn làm gì thì tự mình làm lấy. Giờ em hãy nhóm bếp
nấu ăn đi, anh mệt lắm rồi.
Nhưng công chúa đâu có biết nhóm bếp và nấu ăn, người hát rong đành
phải nhúng tay vào làm công việc mới xong. Bữa ăn thật là đạm bạc, ăn xong
cả hai mệt mỏi lăn ra ngủ ngay.
Hôm sau, khi trời mới hừng sáng chồng đã đánh thức vợ dậy để làm việc
nhà. Cứ như vậy họ sống được với nhau mấy ngày thì lương ăn dự trữ hết.
Người chồng nói với vợ:
- Minh ạ, chỉ ngồi ăn không kiếm được thêm gì cả, cứ như thế này mãi
chắc không được lâu. Hay là em đan sọt bán?
Chống vào rừng lấy tre nứa về, vợ chẻ lạt đan sọt. Nhưng bàn tay mềm mại
của nàng bị cạnh sắc của tre nứa cửa rỉ máu. Chống nói:
Thế thì không được, có lẽ dệt vải hợp với em hơn.
Nàng ngồi tập quay sợi, nhưng rồi những ngón tay mềm mại của nàng lại
bị sợi cửa, máu chảy rơi xuống nền nhà. Người chồng nói:
- Em thấy không, em chẳng được việc gì cả, sống với em thật là khổ. Giờ
thì chắc ta phải xoay ra đi buôn nổi và bát đĩa. Em ngói ở chợ và bán hàng.
Nàng nghĩ bụng: "Nếu như người dân nước mình họ tới đây mua bán, nhìn
thấy mình ngói bán hàng ở chợ chắc họ sẽ dè bỉu nhạo báng mình".
Việc không thể tránh được nên nàng đành phải làm, nếu không thì chắc
chắn sẽ chết đói. Thoạt đầu mọi chuyện đều tốt lành, thấy người bán hàng
hiến lành dễ thương nên khách mua đông. Họ trả tiến hàng mà không hề mặc
cả, thậm chí có người trả tiền nhưng không lấy hàng. Với số lời do bán hàng,
hai vợ chồng sống cũng sung túc. Có lần hàng bản hết, chống lấy hàng mới về
cho vợ bán ở chợ. Nàng đang ngồi coi hàng thì có một anh chàng hiệp sĩ 1 từ
xa phi ngựa lao thẳng vào chợ làm cho đồng hàng sành sứ của nàng đổ vỡ hết
cả ra thành hàng nghìn mành lớn nhỏ ngổn ngang ở chợ. Nàng ngồi ôm mặt
khóc nức nở, không biết cuộc đời sẽ ra sao, nàng la khóc:
Trời, khổ thân tôi thế này, còn mặt mũi nào mà nhìn chống nữa?
(1) Hiệp sĩ người đàn ông có tài võ nghệ, có vị trí nhất định trong xã hội xưa. Hiệp sĩ cũng chỉ người
hành động vì nghĩa, bênh vực kẻ yêu thế.
Về nhà, nàng kế cho chồng nghe chuyện chẳng may ấy. Nghe xong chuyện,
chống nói:
- Đời thuở nhà ai lại thế, bản sành sứ mà lại ngồi ngay đầu chợ chỗ người
ta qua lại, khóc làm gì nữa. Anh thấy em chẳng làm gì cho đến đầu đến cuối.
Lúc này anh có đến cung vua hỏi xem nhà bếp có cần người phụ không, họ
hứa sẽ nhận em vào làm và nuôi cơm.
Giờ đây công chúa là một chị phụ bếp, thôi thì thượng vàng hạ cám(1) việc
gì cũng phải làm. Hai bên tạp dề nàng buộc chặt hai chiếc nói con, nàng bỏ
phần cơm của mình vào đó và mang về nhà để hai vợ chồng cùng ăn.
Lần ấy trong cung vua tổ chức hôn lễ của nhà vua, tò mò chị phụ bếp cũng
len vào đứng trước cửa ngó vào. Khi đèn lần lượt được thắp sáng, cảnh đẹp
lộng lẫy trong cung vua mới hiện lên hết, khách lẫn lượt bước vào phòng
đại tiệc, cảnh cũng như người nom thật huy hoàng, tráng lệ, ai thấy cũng phải
vui mắt. Lúc này, chị phụ bếp thấy lòng buồn tủi thay cho số phận của mình,
thắm trách tính kiêu căng, ngông cuồng của mình, cũng chính những tỉnh ấy
đã làm nàng trở nên thấp hèn và khổ cực như bây giờ. Kẻ hầu người hạ ra vào
tới tấp, bưng lên cho khách toàn sơn hào hải vị, mùi thơm nức mũi. Thỉnh
thoảng kẻ hấu người hạ ném cho ít đồ ăn thừa, nàng củi nhặt cho vào nói.
Bỗng nhiên nhà vua bước vào, lụa là châu báu đấy người, cổ đeo dây chuyến
vàng. Nhìn thấy người đẹp đứng ngó bên cửa, nhà vua nắm tay năng, muốn
cùng nàng vui nhảy, nhưng nàng sợ hãi giật tay lại.
Nàng nhận ra đó chính là Vua chích choè, người đã từng muốn làm phò mã
và bị nàng nhạo báng, từ chối. Nàng cố sức giật tay lại nhưng chẳng ăn thua
gì cả, vẫn bị chàng kéo vào tới giữa phòng làm dây buộc nổi đứt, hai cái nổi
rơi xuống đất, súp và bánh mì vung ra khắp nến nhà. Khách khứa và những
người đứng đó thấy cảnh tượng ấy đều bật cười và chêm pha những lời nhạo
bảng. Xấu hổ quả, nàng ước gì độn thổ (2) xuống sâu một ngàn sải tay. Nàng
giật mạnh một cái khỏi tay Vua chích choè, lao thẳng ra phía cửa để chạy trốn,
nhưng mới tới được cầu thang lại bị một người đàn ông lôi lại, khi định thần
lại được, nàng thấy người đó chính là Vua chích choè. Chàng vui vẻ nói nhỏ
vào tai nàng:
Em đừng có sợ hãi, người hát rong sống chung với em trong căn lều lụp
xụp chính là anh. Vì yêu em nên anh đóng giả người hát rong. Chính anh
cũng là kị sĩ cho ngựa chạy đổ vỡ hết hàng sành sứ của em. Tất cả những việc đó
(3) Thượng vàng hạ cám: đủ các thứ, từ cái quý giá đến cái tầm thường.
(2) Độn thổ: trốn, ẩn xuống đất.
chỉ nhằm uốn nắn tính kiêu ngạo của em và để trừng phạt tính ngông cuống
thích nhạo báng người khác của em.
Lúc ấy nàng bật oà lên khóc nức nở và nói:
- Em đã làm những điều sai trái, thật không xứng đáng là vợ của anh.
Chàng đáp:
Em đừng buồn nữa, những ngày cay đắng đã qua, giờ chúng ta hãy làm
đám cưới.
Nàng vào thay quần áo. Toàn thể triều đình đều có mặt, chúc mừng công
chúa kết hôn với Vua chích choè. Nỗi vui mừng thật sự cũng bắt đầu từ đây.
Tôi tin rằng, tôi và bạn đều có mặt trong buổi lễ cưới.
(Truyện cổ Gờ-rim (Grimm), theo Lương Văn Hồng dịch,
NXB Văn học, Hà Nội, 2018, tr. 625-630)
Sau khi đọc
Trả lời câu hỏi
1
Trong bữa tiệc kén chọn phò mã, công chúa đã giễu cợt mọi người ra sao? Điều đó thể
hiện đặc điểm gì của nhân vật?
2
Nhà vua đã dùng hình phạt nào dành cho công chúa? Hình phạt này đã dẫn đến những
thay đồi gi trong cuộc đời của công chúa?
3
Ai đã đóng giả thành "người hát rong"? Người hát rong này đã yêu cầu công chúa làm
những việc gì và mục đích của những yêu cầu đó?
4
Trong nhiều truyện kể, chủ đề của truyện chính là bài học cuộc sống mà nhân vật nhận
ra từ câu chuyện của cuộc đời mình. Theo em, chủ đề của truyện này là gì?
5
Kết thúc truyện, người kể chuyện nói: "Tôi tin rằng, tôi và bạn đều có mặt trong buổi lễ
cưới.". Theo em, điều này có hợp li không? Vì sao?
Viết
Viết bài văn đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích
Một câu chuyện có thể được nhiều người chứng kiến, đánh giá và kể lại theo
những cách khác nhau. Hãy hình dung xem những truyện cổ tích mà em đã đọc có
thể được kể lại như thế nào. Đóng vai một nhân vật trong câu chuyện là một trong
những cách làm cho truyện kể trở nên khác lạ, thú vị và tạo ra hiệu quả bất ngờ.
Em có muốn trải nghiệm những điều khác lạ, thú vị và bất ngờ như vậy không?
Yêu cầu đối với bài văn đóng vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích:
- Được kể từ người kể chuyện ngôi thứ nhất. Người kể chuyện đóng vai một
nhân vật trong truyện.
- Khi kể có tưởng tượng, sáng tạo thêm nhưng không thoát li truyện gốc;
tránh làm thay đồi, biến dạng các yếu tố cơ bản của cốt truyện ở truyện gốc.
- Cần có sự sắp xếp hợp lí các chi tiết và bảo đảm có sự kết nối giữa các phần.
Nên nhấn mạnh, khai thác nhiều hơn các chi tiết tưởng tượng, hư cấu, ki áo.
- Có thể bổ sung các yếu tố miêu tả, biểu cảm để tà người, tà vật hay thể hiện
cảm xúc của nhân vật
Phân tích bài viết tham khảo
Đóng vai nhân vật kể lại một phần truyện Thạch Sanh
Kể lại câu chuyện theo ngôi kể
thứ nhất (xưng "ta", nhập vai
Thạch Sanh sau khi lên ngôi
vua).
Xin chào mọi người! Mọi người có nhận ra ta
không? Bây giờ ta đã là vua, chắc mọi người khó
nhận ra ta vốn là ai. Ta chính là chàng trai nghèo
Thạch Sanh đây. Mọi người vẫn không tin ta sao?
Vậy để ta kể lại một phần cuộc đời ta trước đây cho
mọi người nghe. Nghe xong mọi người sẽ nhận ra ta thôi.
Ta mồ côi từ tấm bé, phải sống một mình trong túp
lều nhỏ dưới gốc đa. Gia tài của ta chỉ có mỗi chiếc
búa cha ta để lại. Thấy ta côi cút, tên Lý Thông đã gạ ta
kết nghĩa anh em với hắn. Ta tưởng hẳn thật lòng nên
vui vẻ nhận lời về sống chung với mẹ con hắn. Nào
ngờ, chẳng bao lâu, Lý Thông đã đấy ta đến nộp mình cho trăn tinh thay cho hắn.
Trân tỉnh là con quái vật đã hoành hành bao nhiêu năm trong vùng, mỗi năm
bắt một mạng người. Nhờ có võ nghệ và phép thần thông, ta đã đánh chết
trăn tỉnh, chặt đầu nó mang về nhà cùng với một bộ cung tên bằng vàng mà
nó để lại. Mẹ con Lý Thông lại tiếp tục lừa ta rằng ta đã giết con vật quý của
nhà vua. Lúc ấy, ta thật thà tin theo nên vội vã trở
lại túp lều cũ để nương thân, không hề biết rằng mẹ
con Lý Thông đã mang đầu trăn tinh vào cung vua
lĩnh thưởng.
Các chi tiết được sắp xếp theo
trình tự thời gian, tập trung vào
các chỉ tiết kì ảo.
Kẻ theo diễn biến chính của
truyện gốc, có sáng tạo thêm
(lời kể, một số chi tiết....).
Một hôm, ta đang ngồi trong lều thì nghe thấy có tiếng kêu khóc trên trời.
Ta nhìn lên thì thấy một con đại bàng khổng lồ đang quấp một cô gái bay
qua. Tức thì, ta dùng cung tên vàng nhắm bắn theo. Con đại bàng bị trúng
tên vào cánh, lảo đảo nhưng vẫn cố gắng bay về hang. Ta lấn theo vết máu
mà tìm được chỗ nó ẩn náu, nhưng hang sâu quá ta không xuống được.
Lúc ấy, ta nghĩ đại bàng bị thương nặng, chắc chưa thể làm hại cô gái nên
đánh dấu chỗ nó trốn rối quay về lêu.
Mấy hôm sau, nghe tin có hội hát xưởng, ta tò mò đến xem, tình cờ gặp lại
Lý Thông. Lúc bấy giờ, ta nghe hắn kể chuyện được
phong Quận công và đang phụ trách việc tìm kiếm
công chúa. Ta thật thà kể lại chuyện bắn đại bàng và
chỗ ở của nó. Lý Thông liền nhờ ta dẫn hẳn và binh
lính đến hang đại bàng.
Tập trung khai thác những
suy nghĩ, hành động cụ thể
của nhân vật được đóng vai
Đến nơi, Lý Thông và binh lính không dám xuống. Ta bèn bảo hắn và
binh lính dòng dây thừng đưa ta xuống. Đến đáy hang, ta gặp ngay đại bàng
đang nằm trị thương trên một tảng đá còn công chúa bị nhốt trong một cái
cũi sắt. Con đại bàng quắc mắt, vùng ngay dậy, đập cánh, giương vuốt sắc lao
đến hòng quắp lấy ta. Ta nhanh chân né được, rút ngay cung tên vàng bắn nó
mù mắt. Nó loạng choạng rớt xuống nến hang. Ta liễn dùng búa chặt đứt bộ
vuốt sắc rối bồ đôi đầu nó ra. Diệt xong con quái vật, ta giải thoát cho công
chúa rồi buộc dây vào người nàng, ra hiệu cho quân lính kéo lên khỏi hang.
Công chúa vừa ra khỏi hang, ta thấy hang bỗng nhiên tối sầm, rồi nghe tiếng
Lý Thông hò hét quân lính lấp thêm đá vào cửa hang. Lúc bấy giờ, ta mới hiểu
Lý Thông đã cố tỉnh hại ta và từ trước đến giờ hẳn đều lừa ta.
Chuyện cũng đã dài mà giờ thì ta đang rất bận rộn chuyện triều chính nên
không có thời gian để kế tiếp. Chuyện sau đó diễn ra thế nào thì hẳn mọi người
cũng đã biết rồi đấy. Ta đã trở lại cung vua, tha tội cho mẹ con Lý Thông, kết
hôn cùng công chúa, giải phóng đất nước khỏi sự bao vây của các nước chư
hấu và kế tục ngôi vua. Vậy nên, ta chỉ muốn nói một điều ta rất tâm đắc:
ở hiến gặp lành, ác giả ác báo!
(Bài làm của học sinh, có chỉnh sửa)
Thực hành viết theo các bước
Trước khi viết
Chọn ngôi kề và đại từ tương ứng
Khi đóng vai nhân vật kể lại câu
chuyện, ngôi kề sẽ là ngôi thứ nhất. Tuy
nhiên, em có thể chọn những từ khác
nhau để chỉ ngôi thứ nhất: ta, tôi, mình,
tó ... phù hợp với địa vị, giới tình....
của nhân vật em đóng vai cũng như bồi
cảnh kể.
Kể lại truyện cổ tích một cách sáng tạo,
sinh động, hấp dẫn để truyền đạt được
nội dung cơ bản của câu chuyện dưới một
hình thức mới.
Thầy cô, bạn bè, người thân và những
người quan tâm đến câu chuyện mà em
kể lại.
Chọn lời kể phú hợp
Khi kể lại truyện trong vai một nhân vật cụ thể, em cần xác định được giới tỉnh, tuổi
tác, địa vị.... của nhân vật đề lựa chọn lời kể phù hợp (cách xưng hô, dùng từ ngữ....).
Tinh chất lời kể (vui, buồn, thân mật, nghiêm trang....) cũng cần phù hợp với nội dung
câu chuyện được kể, bối cảnh kề.
Ghỉ những nội dung chính của câu chuyện
Cần ghi nhớ và tôn trọng những chi tiết đã biết về nhân vật cũng như cốt truyện gốc.
Dự kiến những yếu tố, chi tiết sẽ được sáng tạo thêm.
Có thể tóm tắt các sự kiện, tinh tiết theo thứ tự trước sau để dễ dàng ghi nhớ và kể lại.
Lập dàn ý
Sau khi đã chuẩn bị theo các bước như trên, hãy lập một dàn ý cho bài viết theo gợi ý
dưới đây:
Dàn ý
Mở bài: Đóng vai nhân vật để tự giới thiệu sơ lược về minh và câu chuyện định kề.
Thân bài: Kể lại diễn biến của câu chuyện.
+ Xuất thân của các nhân vật
Hoàn cảnh diễn ra câu chuyện
+ Diễn biến chính:
- Sự việc 1
- Sự việc 2
- Sự việc 3
Kết bài: Kết thúc câu chuyện và nêu bài học được rút ra từ câu chuyện.
Viết bài
Khi viết bài, cần lưu ý:
Nhất quán về ngôi kể: Trong bài này, em sẽ vào vai người kể chuyện ngôi thứ nhất để
kể lại câu chuyện.
Kể lại câu chuyện: Dựa vào truyện gốc (nhân vật, sự kiện, ngôn ngữ....) nhưng
hãy cố gắng sáng tạo ở những chỗ cho phép (chi tiết hoá, cụ thể hoá những chỗ
truyện gốc còn chung chung gia tăng yếu tố kì ảo, tưởng tượng tăng cường bộc
lộ suy nghĩ, cảm xúc, đánh giá của người kể chuyện gia tăng việc miêu tả, bình
luận, liên tường....).
Chính sửa bài viết
Xem lại và chỉnh sửa bài viết theo một số gợi ý sau đây:
Yêu cầu | Gợi ý chỉnh sửa
Được kể từ người kẻ chuyện ngôi thứ
nhất. Người kể chuyện đóng vai một
nhân vật trong truyện. | Rà soát để bảo đảm sự chính xác và
thống nhất về người kể chuyện, ngôi kề,
từ ngữ xưng hô. Nếu chưa chính xác và
thống nhất, cần chỉnh sửa.
Có sự tưởng tượng, sáng tạo thêm
nhưng không thoát li truyện gốc, tránh
làm thay đồi, biến dạng các yếu tố cơ
bản của cốt truyện ở truyện gốc.
Chân
trời | Đánh dấu các diễn biến chính, các chi tiết
được lấy từ truyện gốc, kiểm tra tỉnh chinh
xác của chúng. Nếu chưa chình xác thi
cần sửa lại cho đúng với truyện gốc.
Kiểm tra tính hợp lí, nhất quân giữa các
chi tiết được sáng tạo thêm với truyện
gốc (quan hệ nhân quả, trật tự thời
gian....). Nếu chưa phù hợp, cần sửa lại.
Cần có sự sắp xếp hợp lí các chi tiết và
bảo đảm có sự kết nối giữa các phần. | Rà soát trình tự lô-gic và sự kết nối giữa
các chi tiết, các đoạn, các phần. Chinh
sửa nếu chưa hợp li.
Cần bổ sung các yếu tố miêu tả, biểu
cảm để tả người, tả vật hay thể hiện cảm
xúc của nhân vật | Kiểm tra các yếu tố miêu tả, biểu cảm.
Nếu chưa có hoặc chưa thì cần
bổ sung.
Bảo đảm yêu cầu về chính tả và diễn đạt. | Rà soát lỗi chính tả và diễn đạt (dùng
từ, đặt câu....). Chỉnh sửa nếu phát hiện
có lỗi.
Nói và nghe
Kể lại một truyện cổ tích bằng lời một nhân vật
Sau một thời gian làm việc chăm chỉ, em đã có bài viết kể lại một truyện cổ tích
bằng lời một nhân vật. Nhiệm vụ của em bây giờ là tiếp tục "đóng vai nhân vật
để kể lại câu chuyện bằng giọng nói, cử chỉ, điệu bộ.... phù hợp. Nhưng làm thế
nào để câu chuyện hay hơn, hấp dẫn hơn và nhận được những phản hồi tích cực
từ phía người nghe? Và nếu có những góp ý cho phần trình bày của em, em sẽ
đón nhận và hồi đáp ra sao? Khi nghe bạn trình bày, em cần lắng nghe và phân
hồi như thế nào cho phù hợp, hiệu quả?
Trước khi nói
Chuẩn bị nội dung nói
Em cần đọc lại nhiều lần bài viết
đã có của mình tóm tắt thành đề
cương, đánh dấu những chi tiết, sự
kiện quan trọng không thể bỏ qua
khi nói.
Kể lại một truyện cổ tích bằng lời của một
nhân vật trong truyện, giúp người nghe
hiểu được cốt truyện và nhân vật mà em
đóng vai.
Thầy cô, bạn bè và những người quan tâm
đến câu chuyện em kề.
Tập luyện
Để kề tốt câu chuyện, em có thể tập luyện một mình hoặc cùng bạn bè, người thân.
Tập kẻ như thể em đang kề chuyện thực sự trước lớp. Thử nhiều cách khác nhau đề
tìm ra cách trình bày tốt nhất. Tập luyện nhiều giúp em tự tin hơn. Em có thể lựa chọn
một trong hai hoặc kết hợp cả hai hình thức tập luyện sau:
+ Tập luyện một mình trước khi kể trên lớp.
+ Tập luyện trước nhóm bạn hoặc người thân và nhờ họ nhận xét, góp để hoàn thiện
bài nói.
Một số lưu ý khi tập luyện: xác định giọng kể khi đóng vai nhân vật (thân mật, hồi
trưởng, nghiêm nghị, sôi nổi....); lựa chọn thêm các phương tiện hỗ trợ nếu cần thiết
(bản nhạc, tranh ảnh, bản trình chiếu, đạo cụ....); nắm chắc cốt truyện, sự kiện, chi
tiết hay đối thoại; nhập vai (lên giọng, xuống giọng khi kể, phối hợp sử dụng cử chỉ,
điệu bộ).
Trình bày bài nói
Khi trình bày bài nói, ngoài một số kĩ năng đã được học ở các bài trước, em nên chú
ý một số điều sau:
Tuỳ theo nhân vật mà em đóng vai, nội dung câu chuyện được kẻ mà có cách trinh
bày (giọng kể, cử chỉ ...) phù hợp.
Cố gắng đông vai nhân vật mà em lựa chọn, sử dụng hiệu quả ngôn ngữ cơ thể (động
tác, điệu bộ, khẩu hình, nét mặt,....) để câu chuyện được kể sinh động, hấp dẫn. Tăng
cường tương tác để lôi cuốn người nghe.
- Giọng kể cần thay đổi linh hoạt cho phù hợp với lời người kề chuyện và lời của mỗi
nhân vật nội dung kẻ cần tập trung vào những sự việc, chi tiết độc đáo, thú vị, tránh
cách kể chuyện đều đều, gây cảm giác buồn tẻ.
Sau khi nói
Trao đổi về bài nói theo một số gợi ý sau:
Người nghe | Người nói
- Trao đổi lại với người nói về nội
dung và cách trình bày câu chuyện.
- Nhận xét về bài kể (về nội dung hay
cách thức kể chuyện) và đề xuất
cách giải quyết theo hướng: Nếu là
người nói, em sẽ kề những gì và kể
như thế nào? | • Giải thích thêm về ý tường, cách tổ
chức cốt truyện, cách đóng vai hoặc
cách kể lại câu chuyện của minh;
tiếp thu ý kiến góp ý về bài kề, nêu
những ý tưởng, cách thức mới sau
khi được nghe góp ý.
- Trao đổi lại với các ý kiến nhận xét
của người nghe.
Củng cố, mở rộng
1
Kẻ bảng vào vở theo mẫu sau và điền thông tin về các đặc điểm của truyện cổ tích:
STT | Các yếu tố | Đặc điểm
1 | Chủ đề |
2 | Nhân vật |
3 | Cốt truyện |
4 | Lời kể |
5 | Yếu tố kì ảo |
2
Sưu tầm một số bản kể hoặc các hình thức kể khác (truyện thơ, kịch, phim hoạt hình,...) của các truyện cổ tích Thạch Sanh và Cây khế. So sánh và nêu nhận xét về sự giống nhau và khác nhau giữa các bản kề hoặc các hình thức kể đó.
3
Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) về "thể giới cổ tích theo sự hình dung, tưởng tượng của em.
Thực hành đọc
Khi đọc văn bản dưới đây, em cần chú ý những vấn đề sau:
- Sức hấp dẫn của các yếu tố kì ảo trong câu chuyện.
- Quan hệ giữa ngoại hình và phẩm chất của nhân vật Sọ Dừa.
- Ước mơ của tác giả dân gian qua kết thúc truyện.
Sọ Dừa
Hai vợ chồng nhà nọ đã nghèo lại hiếm (1), mãi về già mới được mụn con(2),
Khốn thay, đứa con ấy lại dị hình dị dạng (3), lọt lòng mẹ chỉ là cục thịt đỏ hồn (4),
có mắt, có mùi, nhưng không có mình mấy, tay chân. Người ta kể, người vợ vào
rừng hải củi. Trời nắng to, bà ta khát nước quá, thấy một cái sọ dừa có đựng ít
nước mưa. Không chần chừ, bà ta bưng lấy uống. Thế rồi về nhà có mang(5)
Thấy con không ra hình người, bà ta buồn lắm, định vứt đi. Nhưng nghĩ
lại cũng thương, dù sao cũng là khúc ruột đứt ra, bà ta cứ để nuôi, đặt tên là
Sọ Dừa.
Lớn lên, Sọ Dừa vẫn không khác lúc nhỏ, cứ lăn lóc trong nhà, chẳng làm
được việc gì. Một hôm bà mẹ than phiến:
(1) Hiếm: (người lập gia đình đã lâu) it con hoặc mãi chưa có con.
(2) Mụn con đùa con (ngắm ý ít con).
(3) Dị hình dị dạng hình dạng khác biệt, không bình thường.
(4) Đỏ hồn: màu đỏ của da đứa trẻ mới sinh.
(5) Có mang có thai.
- Con nhà người ta bằng ấy tuổi đầu đã đi ở chăn bò, lấy tiến về nuôi cha
mẹ, còn mày thì chẳng được tích sự (1) gì!
Sọ Dừa nói:
- Gì chứ chân bỏ thì con cũng chân được. Mẹ cứ xin phú ông (2) cho con
đến ở chăn bò vậy.
Bà mẹ đến xin phú ông, phú ông ngần ngại. Cả đàn bỏ giao cho thằng bé
không ra người không ra ngợm ấy, chăn dắt làm sao? Nhưng mà nuôi nó thì
được cái ít tốn cơm, công sá chẳng bao lăm (3), rẻ hơn đứa khác nhiều. Thôi cứ
thử xem! Thế là Sọ Dừa đến ở.
Sọ Dừa chăn bỏ rất giỏi. Hằng ngày, hắn lăn sau đàn bò ra đóng, tối đến lại
lăn sau đàn bò về chuồng. Bỏ con nào con nấy bụng no căng. Phú ông mừng
lắm. Tiết nông nhàn 4 , phú ông làm trại trên núi thả bò ăn cỏ, bảo Sọ Dừa
ở lại trồng, cơm nước có người đưa lên tận nơi. Phú ông có ba cô con gái
thay phiên nhau đưa cơm cho Sọ Dừa. Hai cô chị xinh đẹp nhưng kiêu kì,
thường hắt hủi Sọ Dừa, còn cô em út hiến lành, tỉnh hay thương người, đối
đãi với Sọ Dừa rất tử tế.
Một hôm, cô ta vừa mang cơm đến dưới chân đối thì nghe tiếng sáo véo
von. Cô ta lấy làm lạ, rón rén bước lên, nấp sau bụi cây, rình xem, thì thấy
(1) Tịch sự việc có ích, việc có thành quả.
2) Phù ông người đàn ông giàu có ở nông thôn thời trước.
(3) Bao lăm: bao nhiêu (dùng trong câu có ý phù định).
(4) Tiết nông nhàn, khoảng thời gian rảnh rỗi của nhà nông trong năm.
3
Viết đoạn văn (khoảng 5 - 7 câu) về “thế giới cổ tích" theo sự hình dung, tưởng tượng của em.
Khi đọc văn bản dưới đây, em cần chú ý những vấn đề sau:
Sức hấp dẫn của các yếu tố kì ảo trong câu chuyện. Quan hệ giữa ngoại hình và phẩm chất của nhân vật Sọ Dừa. Ước mơ của tác giả dân gian qua kết thúc truyện.
Hai vợ chồng nhà nọ đã nghèo lại hiếm (1), mãi về già mới được mụn con(2), Khốn thay, đứa con ấy lại dị hình dị dạng (3), lọt lòng mẹ chỉ là cục thịt đỏ hỏn (4), có mắt, có mũi, nhưng không có mình mấy, tay chân. Người ta kể, người vợ vào rừng hái củi. Trời nắng to, bà ta khát nước quả, thấy một cái sọ dừa có đựng ít nước mưa. Không chần chừ, bà ta bưng lấy uống. Thế rồi về nhà có mang (5),
Hiếm: (người lập gia đình đã lâu) ít con hoặc mãi chưa có con.
Mụn con: đứa con (ngầm ý ít con).
Dị hình dị dạng: hình dạng khác biệt, không bình thường.
Đỏ hỏn: màu đỏ của da đứa trẻ mới sinh.
Có mang: có thai.
Thấy con không ra hình người, bà ta buồn lắm, định vứt đi. Nhưng nghĩ lại cũng thương, dù sao cũng là khúc ruột đứt ra, bà ta cứ để nuôi, đặt tên là Sọ Dừa.
Lớn lên, Sọ Dừa vẫn không khác lúc nhỏ, cứ lăn lóc trong nhà, chẳng làm được việc gì. Một hôm bà mẹ than phiến:
Con nhà người ta bằng ấy tuổi đầu đã đi ở chăn bò, lấy tiến về nuôi cha mẹ, còn mày thì chẳng được tích sự(1) gì!
Gì chứ chăn bò thì con cũng chân được. Mẹ cứ xin phú ông (2) cho con đến ở chăn bò vậy.
Bà mẹ đến xin phú ông, phú ông ngần ngại. Cả đàn bỏ giao cho thằng bé không ra người không ra ngợm ấy, chăn dắt làm sao? Nhưng mà nuôi nó thì được cái ít tốn cơm, công sá chẳng bao lăm (3), rẻ hơn đứa khác nhiều. Thôi cứ thử xem! Thế là Sọ Dừa đến ở.
Sọ Dừa chăn bò rất giỏi. Hằng ngày, hắn lăn sau đàn bò ra đồng, tối đến lại lăn sau đàn bò về chuồng. Bò con nào con nấy bụng no căng. Phú ông mừng lắm. Tiết nông nhàn (4), phú ông làm trại trên núi thả bò ăn cỏ, bảo Sọ Dừa ở lại trồng, cơm nước có người đưa lên tận nơi. Phú ông có ba cô con gái thay phiên nhau đưa cơm cho Sọ Dừa. Hai cô chị xinh đẹp nhưng kiêu kì, thường hắt hủi Sọ Dừa, còn cô em út hiền lành, tỉnh hay thương người, đối đãi với Sọ Dừa rất tử tế.
Một hôm, cô ta vừa mang cơm đến dưới chân đối thì nghe tiếng sáo véo von. Cô ta lấy làm lạ, rón rén bước lên, nấp sau bụi cây, rình xem, thì thấy
Tịch sự: việc có ích, việc có thành quả.
Phú ông: người đàn ông giàu có ở nông thôn thời trước.
Bao lăm: bao nhiêu (dùng trong câu có ý phủ định).
Tiết nông nhàn: khoảng thời gian rảnh rỗi của nhà nông trong năm.
một chàng trai, mặt mũi khôi ngô, đang ngồi trên chiếc võng đào (1) mắc vào hai cành cây, thổi sáo cho đàn bò gặm cỏ. Có tiếng động, chàng trai biến mất, chỉ thấy Sọ Dừa nằm lăn lóc ở đấy. Nhiều lần như thế. Cô gái biết Sọ Dừa không phải người phàm trần (2). Cô đem lòng yêu, có của ngon vật lạ đều giấu đem lên cho.
Cuối mùa ở, Sọ Dừa về, bảo mẹ đến hỏi con phú ông làm vợ. Bà mẹ hết sức sửng sốt, nhưng thấy con năn nỉ, cũng chiếu lòng, đành kiếm buồng cau đến gặp phú ông. Phú ông cười mỉa:
Ừ được! Muốn hỏi con gái tôi, hãy vẽ sảm đủ mười mâm lụa đào, mười con lợn béo, mười vò rượu tăm (3) và một chĩnh vàng cốm (4), đem sang đây làm lễ vấn danh(5)!
Tưởng thách thế cho mẹ con Sọ Dừa bẽ mặt, không ngờ sáng hôm sau, Sọ Dừa mang lễ sang đây đủ. Phú ông lúng túng, nhưng thấy của hoa mắt, mới gọi ba cô con gái lên hỏi xem ý con ra sao. Hai cô chị bĩu môi, nguýt Sọ Dừa một cái rõ dài, rồi đi vào. Cô em út e lệ, cúi mặt xuống, tỏ ý bằng lòng. Thế là thành đôi lứa.
Từ hôm cưới, Sọ Dừa không còn là Sọ Dừa nữa mà hiện thành một chàng trai lịch sự. Vợ chồng ăn ở với nhau rất đầm ấm. Không những thế, Sọ Dừa tỏ ra thông minh khác thường, ngày đêm miệt mài đèn sách, chờ khoa thi. Năm ấy, Sọ Dừa đỗ Trạng nguyên (6). Chẳng bao lâu, có chiếu (7) nhà vua sai quan trạng đi sứ. Khi chia tay, quan trạng đưa cho vợ một hòn đá lửa, một con dao và hai quả trứng gà, dặn phải giảt luôn trong người phòng khi dùng đến.
Từ ngày cô em út lấy được chống Trạng nguyên, hai cô chị sinh lòng ghen ghét, định tâm hại em để thay em làm bà trạng. Nhân quan trạng đi sứ vắng, hai cô chị sang chơi, rủ em chèo thuyền ra biển, rồi đấy em rơi xuống nước. Một con cá kình(8) nuốt chửng vào bụng. Sẵn có con dao, cô em đâm chết cá,
Võng đào: võng nhuộm màu đỏ hồng như hoa đào.
Phàm trần: cõi đời bình thường, thế tục.
Vò rượu tăm: bình chứa rượu ngon, nồng độ cao, khi rót thường sủi tăm.
Chĩnh vàng cốm: hũ bằng gốm sứ, đựng vàng vụn, nhỏ.
Lễ vấn danh: lễ nhà trai sang dạm hỏi nhà gái việc cưới xin theo phong tục xưa.
Trạng nguyên: học vị cao nhất trong hệ thống thi cử thời xưa.
Chiếu: một loại văn bản do vua ban hành.
Cá kình: cá voi.
xác cá nổi lềnh bềnh trên mặt biển rồi dạt vào một hòn đảo. Cô em lại lấy dao khoét bụng cả chui ra, lấy hai hòn đá đánh, bật lửa lên, rồi xẻo thịt cá nướng ăn, sống qua ngày, chờ có thuyến đi qua thì gọi vào cứu. Hai quả trứng cũng nở thành một đôi gà đẹp làm bạn với cô ta giữa cảnh đảo hoang vắng.
Một hôm có chiếc thuyền cắm cờ đuôi nheo lướt qua đảo. Con gà trống thấy, gáy to ba bốn lần:
O... o... o... o
Phải thuyền quan trạng rước cô tôi về.
Quan trạng cho thuyền vào xem. Vợ chồng gặp nhau, mừng mừng tủi tủi. Nghe vợ kể chuyện lại, quan trạng mới hay vợ mình gặp nạn thế ấy, và hai cô chị độc ác thế kia. Về nhà, quan trạng mở tiệc mừng, mời bà con đến chia vui, nhưng lại giấu vợ trong buồng không cho ra mắt. Hai cô chị không hay biết gì hết, khấp khởi mừng thầm, chắc chuyến này được thay em làm bà trạng. Hai cô chị tranh nhau kể chuyện cô em rủi ro rồi khóc nức nở ra chiều thương tiếc lắm. Quan trạng không nói gì. Tiệc xong, quan trạng cho gọi vợ ra. Hai người chị xấu hổ quá, lên ra về lúc nào không ai hay và từ đó bỏ đi biệt xứ (1).
(Trương Chính, Truyện cổ dân gian Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1983, tr. 53–55)
Đọc mở rộng
Tìm đọc một số truyền thuyết và truyện cổ tích. Trao đổi về những cảm nhận, suy nghĩ của em khi đọc những truyền thuyết, truyện cổ tích đó. Tập trung vào những yếu tố cơ bản của mỗi thể loại như chủ đề, cốt truyện, nhân vật, lời kể và yếu tố kì ảo.... Kể lại một truyền thuyết hoặc truyện cổ tích mà em thích.
Đi biệt xứ: đi xa hẳn khỏi nơi sinh sống.
Xem bản PDF nguyên trang sách: Ngữ văn 6 tập 2 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 24–51).
