Yêu cầu cần đạt

  • Vận dụng được những hiểu biết về Nguyễn Trãi để đọc hiểu một số tác phẩm của tác gia này.
  • Nhận biết và phân tích được bối cảnh lịch sử – văn hoá được thể hiện trong văn bản văn học.
  • Nhận biết và phân tích được cách sắp xếp, trình bày luận điểm, lí lẽ, bằng chứng và vai trò của yếu tố biểu cảm trong văn bản nghị luận.
  • Viết được văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội: trình bày rõ quan điểm và hệ thống luận điểm, bài viết có cấu trúc chặt chẽ, sử dụng các bằng chứng thuyết phục.
  • Biết thảo luận về một vấn đề có những ý kiến khác nhau; đưa ra được những căn cứ thuyết phục; tôn trọng người đối thoại.
  • Kính trọng, biết ơn và học tập những nhân vật kiệt xuất đã có đóng góp lớn lao cho lịch sử, văn hoá dân tộc.

Thuật ngữ: Văn học trung đại Việt Nam · Tác giả văn học trung đại Việt Nam · Văn nghị luận Việt Nam thời trung đại · Yếu tố biểu cảm · Thái học sinh · Tư đồ · Đông Quan · Tri ngộ · Tru di tam tộc · Di cảo · Tư tưởng nhân nghĩa · Vuồn · Lục ngôn · Tập đại thành · Bình Ngô · Điếu phạt · Văn hiến · Triệu, Đinh, Lý, Trần · Hán, Đường, Tống, Nguyên · Đế · Hào kiệt · Lưu Cung · Triệu Tiết · Hàm Tử · Toa Đô · Bạch Đằng · Ô Mã · Hồ · Chính sự · Dân đen · Con đỏ · Chim trả · hươu đen · Nam Sơn · Đông Hải · Lam Sơn · Đau lòng nhức óc · Nếm mật nằm gai · Quên ăn · Lược thao · Hưng phế · Đồ hồi · Cờ nghĩa dấy lên · Tuấn kiệt · Bôn tẩu · Duy ác · Tiến về đông · Dành phía tả · Tự ta, ta phải dốc lòng · Linh Sơn · Khôi Huyện · Nhân dân · Dựng cần trúc · Hoà nước sông chén rượu ngọt ngào · Xuất kì · Đại nghĩa · Chi nhân · Bồ Đằng · Trà Lân · Trúc chẻ tro bay · Sĩ khí · Quân thanh · Tuyên Đức · Thạnh, Thăng · Khâu Ôn · Vân Nam · Thủ hiểm · Tiên phong · Chi Lăng · Mã An · Lương Minh · Lý Khánh · Lưỡi dao tung phá · Quay mũi giáo đánh nhau · Sĩ tốt · Vuốt nanh

Đọc

Tri thức ngữ văn

Văn học trung đại Việt Nam hình thành, phát triển trong khoảng thời gian từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX, trong thời kì phong kiến. Văn học trung đại Việt Nam gồm hai bộ phận: văn học viết bằng chữ Hán và văn học viết bằng chữ Nôm. Văn học trung đại Việt Nam có liên hệ mật thiết với nguồn mạch văn học dân gian; đồng thời tiếp thu một cách chọn lọc, sáng tạo tinh hoa của nhiều nền văn học trong khu vực, đặc biệt là văn học cổ điển Trung Hoa.

(*) Câu thơ trích trong bài Tùng, thuộc Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi.

Văn học trung đại Việt Nam luôn gắn bó sâu sắc với vận mệnh của quốc gia, dân tộc, thể hiện rõ tinh thần yêu nước và đề cao các giá trị nhân văn, nhân đạo. Tính quy phạm được xem là đặc trưng nổi bật nhất trong văn học trung đại, theo đó, sáng tác văn học phải tuân theo những quy định chặt chẽ có tính khuôn mẫu, từ quan điểm sáng tác, kiểu tư duy nghệ thuật, hình thức thể loại đến hệ thống thi liệu và các thủ pháp ngôn ngữ,... Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của văn học trung đại Việt Nam và ở sáng tác của nhiều tác giả, một số đặc điểm quy phạm đã bị phá vỡ, thể hiện tính dân tộc và ý thức cá tính trong cả nội dung và hình thức nghệ thuật.

Nền văn học trung đại Việt Nam được tạo dựng bởi các thế hệ trí thức giàu ý thức tự tôn dân tộc. Tác giả văn học trung đại Việt Nam hấp thụ tinh hoa văn hoá dân gian của người Việt và tiếp nhận ảnh hưởng của các hệ tư tưởng Nho, Phật, Đạo theo xu hướng dân tộc hoá. Nhiều tác giả là anh hùng dân tộc có đóng góp to lớn cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước.

Văn nghị luận Việt Nam thời trung đại có thành tựu rất phong phú, được viết theo nhiều thể văn khác nhau như hịch, cáo, chiếu, biểu, thư, trát, luận thuyết, tự, bạt,... Văn nghị luận thời trung đại thường có bố cục mang tính quy phạm với các phần đảm nhiệm những chức năng cụ thể, lời văn chứa nhiều điển tích, điển cố, lập luận chặt chẽ.... Trong đó, hịch, cáo, chiếu, thư là những thể văn tiêu biểu nhất.

Yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận

Văn nghị luận không chỉ thuyết phục người đọc bằng lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén mà còn bằng các yếu tố biểu cảm. Yếu tố biểu cảm trong văn nghị luận thể hiện nhiệt huyết của người viết trong việc bày tỏ và bảo vệ quan điểm. Nhờ các yếu tố biểu cảm như cảm xúc, hình ảnh, giọng điệu, không chỉ chủ kiến của người viết được bộc lộ rõ ràng mà khả năng tác động đến người đọc của văn bản nghị luận cũng được gia tăng.

Văn bản 1

Tác gia Nguyễn Trãi

Bạn hãy kể tên một số tác giả văn học trung đại Việt Nam có đóng góp quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Hãy chia sẻ một vài thông tin về tác giả mà bạn ngưỡng mộ.

i. Tiểu sử

Nguyễn Trãi (1380 – 1442) hiệu Ức Trai, quê gốc ở làng Chi Ngại (nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương), nhưng lớn lên cùng gia đình ở làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây (nay thuộc thành phố Hà Nội). Thân phụ Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh, đỗ Thái học sinh (1) dưới triều Trần; thân mẫu là Trần Thị Thái – con quan Tư đồ (2) Trần Nguyên Đán.

Năm 1400, Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh và làm quan cùng cha dưới triều Hồ. Năm 1407, triều Hồ sụp đổ, giặc Minh bắt Nguyễn Phi Khanh đưa về Trung Quốc và giam lỏng Nguyễn Trãi ở thành Đông Quan (3). Một thời gian sau (khoảng năm 1423), Nguyễn Trãi tìm vào Lam Sơn (Thanh Hoá) theo giúp Lê Lợi, dâng Bình Ngô sách (Sách lược đánh dẹp giặc Minh). Ông được Lê Lợi tin dùng và đã có đóng góp đặc biệt quan trọng trong cuộc kháng chiến chống quân Minh. Năm 1427, cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế và giao cho Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo.

Nguyễn Trãi

Chú ý vai trò của Nguyễn Trãi trong cuộc kháng chiến chống quân Minh.

Trong thời gian Lê Thái Tổ trị vì cũng như đầu triều Lê Thái Tông, nội bộ triều đình nảy sinh xung đột, nhiều bậc công thần bị sát hại, Nguyễn Trãi cũng bị nghi kị.

(1) Thái học sinh: học vị của người đỗ kì thi Hội thời Trần – Hồ, tương đương với học vị Tiến sĩ của các triều đại sau.

(2) Tư đồ: một chức hàm trong Tam Tư (gồm Tư đồ, Tư mã, Tư không), là chức hàm gia phong cho các vị đại thần thuộc hoàng tộc, quyền ngang Tề tướng.

(3) Đông Quan: tên gọi Thăng Long thời thuộc Minh.

Năm 1437, ông xin về ở ẩn tại Côn Sơn (Hải Dương). Năm 1440, vua Lê Thái Tông mời Nguyễn Trãi ra giúp nước. Ông cảm kích nhận ơn tri ngộ (¹): “Thương thần như con ngựa già còn ham rong ruổi; xem thần như thông qua năm rét càng dạn tuyết sương” (Biểu tạ ơn). Năm 1442, Nguyễn Trãi bị bọn gian thần vu cho tội giết vua và phải chịu án “tru di tam tộc” (2), thơ văn bị tiêu huỷ, cấm đoán. Đến tận năm 1464, vua Lê Thánh Tông mới minh oan cho Nguyễn Trãi và năm 1467 ban lệnh tìm kiếm, cho khắc in di cảo (3) của ông.

Năm 1980, Nguyễn Trãi được tổ chức UNESCO vinh danh là “Danh nhân văn hoá thế giới".

II. sự nghiệp sáng tác

Nguyễn Trãi để lại cho hậu thế một di sản văn hoá quý giá, trong đó nổi bật là những sáng tác được viết bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm, thuộc nhiều lĩnh vực: quân sự, chính trị, lịch sử, địa lí, văn học. Tác phẩm chữ Hán gồm: Ức Trai thi tập, Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo, Lam Sơn thực lục, Dư địa chí, Chí Linh sơn phú và Băng Hồ di sự lục; sáng tác chữ Nôm có: Quốc âm thi tập.

Nội dung thơ văn

Thơ văn Nguyễn Trãi phong phú, đa dạng về đề tài, cảm hứng; giàu giá trị tư tưởng và đậm tính trữ tình. Nổi bật trong các tác phẩm của ông là tư tưởng nhân nghĩa (4), tình yêu thiên nhiên và những ưu tư về thế sự.

Tư tưởng nhân nghĩa có nguồn gốc từ Nho giáo nhưng đã được Nguyễn Trãi tiếp thu một cách chọn lọc, sáng tạo. Với Nguyễn Trãi, nhân nghĩa trước hết là thương dân; lấy cuộc sống bình yên, no ấm của nhân dân làm mục tiêu cao nhất: Vì dân lo trước, dạ khôn nguôi (Mạn hứng, bài 2). Nguyễn Trãi luôn khẳng định vai trò và sức mạnh của nhân dân: Lật thuyền mới biết dân như nước (Quan hải – Ức Trai thi tập). Đặc biệt, ông không chỉ thương dân mà còn biết tôn trọng dân, biết ơn dân. Tư tưởng trọng dân, ơn dân bao trùm, xuyên suốt sáng tác của Nguyễn Trãi:

Chú ý nội dung cơ bản của tư tưởng nhân nghĩa trong thơ văn Nguyễn Trãi.

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.

(Bình Ngô đại cáo)

(1) Tri ngộ: gặp gỡ nhau, biết rõ, thấu hiểu tấm lòng.

(2) Tru di tam tộc: hình phạt thảm khốc thời phong kiến, xử tử nhiều người; tuỳ từng trường hợp, “tam tộc” có thể gồm ba họ (họ cha, họ mẹ, họ vợ) hoặc ba đời (đời mình, đời con, đời cháu).

(3) Di cảo: bản thảo tác phẩm của người chết để lại.

(4) Tư tưởng nhân nghĩa: tư tưởng Nho học, có nội dung chính là thương yêu con người, coi trọng dân chúng, xây dựng nền chính trị ổn định dựa trên cơ sở lấy “tam cương, ngũ thường” làm gốc. Trong các sáng tác của mình, Nguyễn Trãi nhấn mạnh mục đích, hành động thực tiễn của lí tưởng nhân nghĩa là yên dân và trừ bạo. Tư tưởng nhân nghĩa đã được Nguyễn Trãi phát triển sâu sắc ở nhiều phương diện.

Ăn lộc đều ơn kẻ cấy cày.

(Bảo kính cảnh giới, bài 19 – Quốc âm thi tập)

Là một nhà Nho, lí tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi dĩ nhiên gắn liền với tư tưởng trung quân: Quân thân chưa báo lòng canh cánh (Ngôn chí, bài 7 - Quốc âm thi tập); với giấc mơ về một triều đại vua sáng, tôi hiền. Nhưng xét đến cùng, nội dung cốt lõi trong tư tưởng yêu nước của Nguyễn Trãi là tình yêu dành cho nhân dân, là khát vọng xây dựng một đất nước độc lập, thái bình, hưng thịnh.

Tình yêu thiên nhiên là nguồn cảm hứng lớn trong thơ văn Nguyễn Trãi (đặc biệt là thơ). Ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập chứa đựng cả một thế giới thiên nhiên đa dạng, vừa mĩ lệ vừa bình dị, gần gũi. Có thể tìm thấy trong kho báu thiên nhiên “đầy qua nóc” ấy khung cảnh tráng lệ của cửa biển Bạch Đằng, Vân Đồn, Thần Phù, Vọng Doanh; vẻ hùng vĩ, nguyên sơ của Yên Tử, Côn Sơn; chốn thôn quê bình dị, dân dã, thân thuộc với những đất cày ngõ ái, giậu mùng tơi, lành mùng, bè muống,... Tâm hồn Nguyễn Trãi rộng mở, tinh tế, lãng mạn – nâng niu từng vẻ đẹp, từng khoảnh khắc giao hoà cùng thiên nhiên:

Cây rợp tán che am mát;
Hồ thanh nguyệt hiện bóng tròn.
Rùa nằm hạc lẫn nên bẩy bạn;
Ủ ấp cùng ta làm cái con.

(Ngôn chí, bài 20 – Quốc âm thi tập)

Biểu hiện của tình yêu thiên nhiên và nỗi niềm thế sự.

Một đời ôm mối “ưu dân, ái quốc” nên hồn thơ Ức Trai trĩu nặng suy tư trước thế sự đen bạc. Thơ ông có nhiều chiêm nghiệm buồn về nhân tình thế thái; có cả những cay đắng, thất vọng, đau đớn trước một thực tại hỗn độn, bất công, ngang trái:

Phượng những tiếc cao, điều hãy liệng;
Hoa thì hay héo, cỏ thường tươi.

(Tự thuật, bài 9 – Quốc âm thi tập)

Nguyễn Trãi đã đối diện với thục tại ấy bằng tâm thế, tư thế của cây tùng, cây bách: Một mình lạt thuở ba đông (Tùng - Quốc âm thi tập), bằng cốt cách của hoa cúc, hoa sen: Sen nào có bén trong lầm (Thuật hứng, bài 25 – Quốc âm thi tập). Ông lựa chọn quan niệm sống, triết lí sống thanh cao, cứng cỏi, kiêu hãnh và lí tưởng cao cả:

Chớ cậy sang mà ép nề.
Lời chăng phải vuẫn (1) khôn nghe.

(Trần tình, bài 8 – Quốc âm thi tập)

- Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược;
Có nhân, có trí, có anh hùng.

(Bảo kính cảnh giới, bài 5 – Quốc âm thi tập)

(1) Vuồn: âm cổ của vẫn, chỉ tình trạng hay sự thể nào đó cứ tiếp diễn như trước.

Đặc điểm nghệ thuật

Thơ văn Nguyễn Trãi kết tinh nhiều thành tựu nghệ thuật đặc sắc; góp phần quan trọng vào sự phát triển, hoàn thiện một số thể loại văn học trung đại Việt Nam: văn chính luận, thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm.

Đóng góp quan trọng của Nguyễn Trãi ở từng thể loại: văn chính luận, thơ chữ Hán, thơ chữ Nôm.

Văn chính luận của Nguyễn Trãi, đặc biệt là những thư từ bút chiến, văn kiện ngoại giao với nhà Minh luôn đạt đến trình độ mẫu mực. Nguyễn Trãi đã vận dụng một cách triệt để và sắc sảo các mệnh đề tư tưởng, đạo đức của Nho giáo và chân lí khách quan của đời sống để tạo dựng nền tảng chính nghĩa vững chắc cho những luận điểm lớn được nêu lên. Nhiều văn bản được mở đầu bằng triết lí nhân nghĩa: “Mưu tính việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, hoàn thành công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu.” (Lại thư trả lời Phương Chính – Quân trung từ mệnh tập) hoặc bằng những quy luật tất yếu: “Tôi nghe: Trời không che riêng ai, đất không chở riêng ai, mặt trời mặt trăng không chiếu riêng ai.” (Lại thư cho Vương Thông - Quân trung từ mệnh tập).

Súc thuyết phục của văn chính luận Nguyễn Trãi còn được tạo nên nhờ khả năng bám sát từng đối tượng và tình hình thời sự, chiến sự sự kết hợp giữa lí lẽ sắc bén với dẫn chúng xác đáng; cách lập luận và bố cục chặt chẽ; ngôn ngữ hàm súc, kết hợp nhiều phong cách ngôn ngữ và nhiều phương thức biểu đạt, giọng điệu truyền cảm. Lê Quý Đôn từng ca ngợi Nguyễn Trãi là cây bút viết thư, thảo hịch tài giỏi hơn hết mọi thời.

Thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi hầu hết được sáng tác bằng các thể thơ Đường luật, đạt tới sự nhuần nhuyễn, điêu luyện; ngôn ngữ cô đúc; nghệ thuật tả cảnh, tả tình tinh tế, tài hoa. Nghệ thuật trữ tình vẫn mang nét trang nhã, hàm súc “ý tại ngôn ngoại" của thơ cổ phương Đông nhưng không theo hướng cầu kì, khuôn thước. Ý tình trong nhiều bài thơ vừa in đậm dấu ấn cá nhân vừa có giá trị tư tưởng sâu sắc (Loạn hậu đáo Côn Sơn cảm tác, Chu trung ngẫu thành, Tự thán, Thanh minh,...). Hình tượng thiên nhiên trong Ức Trai thi tập khi thì phóng khoáng, hùng vĩ, diễm lệ, khi thì thanh sơ, thơ mộng (Thần Phù hải khẩu, Đề Yên Tử sơn Hoa Yên tự, Vân Đồn, Tức hứng, Mộ xuân tức sự, Trại đầu xuân độ,...).

Thơ chữ Nôm của Nguyễn Trãi được đánh giá là đỉnh cao của dòng thơ quốc âm (tiếng Việt) thời trung đại. Trong Quốc âm thi tập, ông dường như đã có ý thức sáng tạo một thể thơ riêng khi đưa câu thơ lục ngôn (1) xen vào bài thơ thất ngôn ở các vị trí đa dạng, linh hoạt, đồng thời rất chú ý Việt hoá nhiều đề tài, thi liệu mượn từ văn học Trung Quốc.

(1) Lục ngôn: sáu tiếng.

Ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Trãi giản dị, đậm đà tính dân tộc; sử dụng nhiều từ láy, thành ngữ, tục ngữ và lời ăn tiếng nói của dân chúng:

Tay ai thì lại làm nuôi miệng.
Làm biếng ngồi ăn lở núi non.

(Bảo kính cảnh giới, bài 22 – Quốc âm thi tập)

Thơ văn Nguyễn Trãi xứng đáng là tập đại thành (¹) của năm thế kỉ văn học trung đại Việt Nam tính đến mốc thế kỉ XV. Ông là tác gia có đóng góp đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng nền văn học Đại Việt sau thời gian nước ta bị quân xâm lược nhà Minh đô hộ và thi hành chính sách huỷ diệt văn hoá.

Vị trí của Nguyễn Trãi trong nền văn học trung đại Việt Nam.

Trả lời câu hỏi

1

Dựa vào những thông tin trong văn bản, hãy nêu ấn tượng sâu sắc nhất của bạn về cuộc đời và con người Nguyễn Trãi.

2

Điều gì đã tạo nên giá trị đặc sắc trong tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi?

3

Nêu cảm nhận của bạn về tâm hồn Nguyễn Trãi qua những bài thơ viết về thiên nhiên.

4

Đọc những vần thơ Nguyễn Trãi viết về nỗi niềm thế sự, bạn hình dung như thế nào về con người tác giả?

5

Văn chính luận của Nguyễn Trãi đã từng thể hiện sức tác động mạnh mẽ như thế nào? Những yếu tố nào đã làm nên sức mạnh đó?

6

Hãy kể tên những tác phẩm văn học, nghệ thuật mà bạn biết nói về cuộc đời và sự nghiệp của danh nhân Nguyễn Trãi.

Kết nối đọc – viết

Sưu tầm một bài thơ chữ Hán hoặc chữ Nôm của Nguyễn Trãi và viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) giới thiệu bài thơ đó.

(1) Tập đại thành: thành tựu lớn, có ý nghĩa tổng hợp, kết tinh nhiều phương diện giá trị.

Văn bản 2

Bình Ngô đại cáo

(Đại cáo bình Ngô(*))

Nguyễn Trãi

Bạn đã từng học, từng đọc những áng văn cổ Việt Nam nào được mệnh danh là “hùng văn”? Hãy chia sẻ thông tin khái quát về một trong số các tác phẩm ấy.

Theo bạn, một tác phẩm được nhìn nhận là bản tuyên ngôn độc lập của một dân tộc thường ra đời trong hoàn cảnh nào và có những đặc điểm gì?

Từng nghe:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điếu phạt (1) trước lo trừ bạo.
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xung nền văn hiến (2) đã lâu.
Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Tù Triệu, Đinh, Lý, Trần (3) bao đời gây nên độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên (4) mỗi bên xưng đế (5) một phương.

Chú ý tư tưởng thực thi nhân nghĩa xuyên suốt tác phẩm.

Chủ quyền quốc gia được thể hiện ở những phương diện cơ bản nào?

(*) Bình Ngô: dẹp tan giặc Ngô (bình: dẹp bằng, phá tan, làm cho yên ổn; Ngô: chỉ giặc Minh, từng sang xâm lược và cai trị nước ta). Người sáng lập nhà Minh (Trung Quốc) là Chu Nguyên Chương (1328 – 1398), tức Minh Thái Tổ, lúc dấy nghiệp ở đất Ngô, tự xưng là Ngô vương. Do đó, sách lịch sử cũng thường gọi nhà Minh là Ngô.

(1) Điếu phạt: rút gọn cụm từ “điều dân phạt tội” trong Kinh thư (tức Thượng thư), nói việc vua Thang, vua Vũ vì thương xót (điều) nhân dân mà trừng trị (phạt) kẻ có tội là vua Kiệt, vua Trụ.

(2) Văn hiến: ở đây chỉ chung nền văn hoá lâu đời, có nhân vật anh hùng, có sử sách ghi chép lại quá trình hình thành và phát triển của dân tộc (văn: tư liệu lịch sử, văn hoá thành văn; hiến: hiền tài).

(3) Triệu, Đinh, Lý, Trần: các thời kì, triều đại nối tiếp nhau xây dựng nền tự chủ Đại Việt: Triệu (207 – 111 trước Công nguyên), Đinh (968-979), Lý (1010-1224), Trần (1125 – 1399). Một số bộ sử cũ đã xem nhà Triệu là một triều đại của lịch sử Việt Nam và xếp triều đại này vào thời kì tự chủ.

(4) Hán, Đường, Tống, Nguyên: các triều đại trong lịch sử Trung Quốc, gần tương ứng với các thời kì, triều đại trong lịch sử Việt Nam ở trên: Hán (204 trước Công nguyên - 220), Đường (618-907), Tống (960 – 1279), Nguyên (1280 - 1378).

(5) Đế: quốc gia độc lập, tự chủ, vua xưng là đế hay hoàng đế. Từ sau khi nhà Tần (Trung Quốc) thống nhất Trung Quốc và xưng Tần Thuỷ hoàng đế, chữ đế dần có hàm nghĩa phân biệt với vương, chỉ vua chư hầu. Trong nguyên văn, chữ đế được sử dụng như động từ, thể hiện tư tưởng xác lập thể chế nhà nước tự chủ.

Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,
Song hào kiệt (1) đời nào cũng có.
Vậy nên:
Lưu Cung (2) tham công nên thất bại,
Triệu Tiết (3) thích lớn phải tiêu vong.
Cửa Hàm Tử (4) bắt sống Toa Đô (5),
Sông Bạch Đằng (6) giết tươi Ô Mã (7).
Việc xưa xem xét,
Chúng có còn ghi.

Vừa rồi:

Nhân họ Hồ (8) chính sự phiền hà,
Để trong nước lòng dân oán hận.
Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ,
Bọn gian tà bán nước cầu vinh.
Nướng dân đen (10) trên ngọn lửa hung tàn,
Vùi con đỏ (11) xuống dưới hầm tai vạ.
Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế,
Gây binh kết oán trải hai mươi năm.

Tâm trạng phẫn uất của tác giả trước tội ác của kẻ thù đã được thể hiện như thế nào?

(1) Hào kiệt: chỉ chung những bậc anh hùng xuất chúng, có công trạng lớn đối với quốc gia (hào: tài trí hơn người; kiệt: giỏi giang, kiệt xuất).

(2) Lưu Cung: vua Nam Hán, sai con là Lưu Hoằng Thao đem quân sang xâm lược nước ta, bị Ngô Quyền đánh bại và giết chết ở sông Bạch Đằng.

(3) Triệu Tiết: tướng nhà Tổng, từng mang quân xâm lược nước ta, bị Lý Thường Kiệt đánh bại.

(4) Hàm Tử: một địa điểm trên sông Hồng, nay thuộc huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Trần Nhật Duật phối hợp cùng Trần Quốc Toản đã đại phá quân Toa Đô ở đây.

(5) Toa Đô: tưởng nhà Nguyên, mang quân xâm lược nước ta, bị quân dân nhà Trần đánh bại. Theo nhiều tài liệu sử học thì Toa Đô bị giết chết ở trận Tây Kết (Hưng Yên) chứ không phải ở Hàm Tử.

(5) Bạch Đằng: sông chảy giữa Quảng Ninh và Hải Phòng. Sông Bạch Đằng gắn liền với nhiều chiến công của quân dân Đại Việt chống kẻ thù xâm lược phương Bắc trong lịch sử.

(7) Ô Mã: tức Ô Mã Nhi, tưởng nhà Nguyên, bị quân dân nhà Trần đánh bại ở trận Bạch Đằng.

(8) Hồ: tên một triều đại trong lịch sử Việt Nam (1400 – 1407). Sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Trần, Hồ Quý Ly lên ngôi, lập ra triều Hồ và đồi quốc hiệu Đại Việt thành Đại Ngu. Năm 1406, nhà Minh mượn có “phù Trần diệt Hồ” kéo quân sang xâm lược nước ta.

(9) Chính sự: việc chính trị, các chính sách và chế độ quản lí đất nước của một quốc gia.

(10) Dân đen: dịch chữ thương sinh (dân sống dưới bầu trời xanh), chỉ người dân bình thường.

(11) Con đỏ: dịch chữ xích tử, ý nói con mới đẻ ra còn đỏ, cần nâng niu, nuôi nấng. Lấy ý câu trong sách Thượng thư. "Người làm vua phải bảo vệ nhân dân như bảo vệ con đỏ của mình".

Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập, thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu, nước độc.
Vét sản vật, bắt chim trả (1), chốn chốn lưới chăng,
Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen (2), nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán;
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa.
Nặng nề những nỗi phu phen,
Tan tác cả nghề canh củi.
Độc ác thay, trúc Nam Sơn (3) không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải (4) không rửa sạch mùi.
Lẽ nào trời đất dung tha,
Ai bảo thần nhân chịu được?

Chú ý giọng văn đầy cảm xúc của tác giả khi nói về những nỗi cực khổ mà nhân dân ta phải chịu đựng.

Ta đây:

Núi Lam Sơn (5) dấy nghĩa,
Chốn hoang dã nương mình.
Ngắm thù lớn há đội trời chung,
Căm giặc nước thể không cùng sống.
Đau lòng nhức óc (6), chốc đà mười mấy năm trời;
Nếm mật nằm gai (7), há phải một hai sớm tối.

Chủ tướng Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn đã có suy nghĩ và hành động gì trước tội ác của giặc Minh?

(1), (2) Chim trả, hươu đen: các loài vật quý hiếm.

(3), (4) Nam Sơn, Đông Hải: Nam Son là một ngọn núi cao, Kinh thi có câu: Tiết bị Nam Sơn (núi Nam kia cao vòi vọi). Đông Hải: biển ở phía đông. Cả hai câu trên mượn chữ và ý trong bài hịch của Ngỗi Hưu và Lương Nguyên kể tội Tuỳ Dượng đế: Khánh Nam Sơn chỉ trúc thư tội vô cùng, quyết Đông Hải chi ba lưu ác nan tận (Chặt hết trúc Nam Sơn, chép không hết tội; vét cạn nước Đông Hải, rửa chẳng sạch ác).

(5) Lam Sơn: tên một vùng thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá; là vùng rừng núi nơi Lê Lợi dấy quân khởi nghĩa, lịch sử vẫn gọi là khởi nghĩa Lam Sơn.

(6) Đau lòng nhức óc (nguyên văn: thống tâm tật thủ): chữ mượn từ sách Tả truyện, ý nói căm giận vô cùng.

(7) Nếm mật nằm gai (nguyên văn: thường đảm ngoạ tân): nếm mật đắng, nằm trên gai, dẫn điển vua nước Việt đời Đông Chu là Câu Tiễn bị vua nước Ngô là Phù Sai cướp nước, bèn nuôi chỉ phục thù, trước khi ăn thì nếm mật đắng, khi ngủ thì nằm trên gai để không quên mối thù cũ.

Quên ăn (1) vì giận, sách lược thao (2) suy xét đã tinh;
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế (3) đắn đo càng kĩ.
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi (4).
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên (5),
Chính lúc quân thù đương mạnh.
Lại ngặt vì:
Tuấn kiệt (6) như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu.
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần,
Nơi duy ác (8) hiếm người bàn bạc.
Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về đông (9),
Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chăm còn dành phía tả (10).
Thế mà:
Trông người người càng vắng bóng, mịt mù như nhìn chốn bể khơi,
Tự ta, ta phải dốc lòng (11), vội vã hơn cứu người chết đuối.
Phần thì giận hung đồ ngang dọc,

Những khó khăn gì của nghĩa quân Lam Sơn buổi đầu dấy binh được chú ý nhấn mạnh?

(1) Quên ăn (nguyên văn: phát phẫn vong thực): mượn chữ trong sách Luận ngữ, nói về việc khi chỉ ham học nổi lên thì quên cả ăn. Cả câu này ý nói về chỉ miệt mài nghiền ngẫm binh thư để tìm kế sách đánh giặc cứu nước.

(2) Lược thao: phép tắc và mưu chước dụng binh, đây là cách gọi ghép hai từ lục thao và tam lược. Lục thao là tên một cuốn sách dạy về quân sự tương truyền do Lã Vọng đời Chu soạn, gồm sáu thiên; tam lược là tên một cuốn sách do Hoàng Thạch Công soạn, gồm ba phần.

(3) Hưng phế: sự nổi lên (hưng) và mất đi (vong, phế) của các triều đại.

(4) Đồ hồi: mưu tính khôi phục lại cơ đồ cũ (đồ: mưu tỉnh; hồi: quay trở lại).

(5) Cờ nghĩa dấy lên: phất cờ hiệu triệu nhân dân đứng lên đấu tranh bảo vệ chính nghĩa.

(6) Tuấn kiệt: nhân tài, hào kiệt, chỉ các bậc anh hùng tài giỏi. Ý cả hai câu này: bậc anh hùng xuất hiện ít (như sao buổi sớm), người tài giỏi hiếm hoi (như lá trên cành vào mùa thu).

(7) Bôn tẩu: bôn ba, chạy vạy lo toan công việc (bôn: đi vội vã; tẩu: chạy).

(8) Duy ác: ngày xưa, tưởng chỉ huy ra trận thường quây màn làm nơi bàn luận và quyết định chiến sự, do đó duy ác được dùng để chỉ bộ chỉ huy.

(9) Tiến về đông: mượn chữ từ một câu nói của Lưu Bang (Hán Cao tổ) với Tiêu Hà khi bị Hạng Vũ ép dồn về phía Tây: “Dư diệc dục đông hĩ, an năng uất uất cửu cư ư thử” (Ta cũng muốn tiến về phía đông chứ sao có thể rầu rĩ ở mãi chốn này được). Ở đây, tác giả dùng chữ trên tỏ ý muốn (từ phía tây – Lam Sơn) tiến về Đông Đô – Thăng Long, lúc này đang bị giặc Minh chiếm đóng.

(10) Dành phía tả: dẫn điền Tín Lăng Quân nước Nguỵ thời Đông Chu, nghe tiếng Hầu Doanh là hiền sĩ liền đem xe đi đón, tự ngồi bên phải giữ cương ngựa, dành chỗ bên trái là chỗ tôn quý đề Hầu Doanh ngồi.

(11) Tự ta, ta phải dốc lòng: dịch cụm từ do kỉ chi thành (do lòng thành thực của mình), ý nói lòng thành thực muốn làm điều nhân, dẫn ý câu trong Luận ngữ: “vì nhân do kì nhi do nhân hồ tai” (làm điều nhân phải do mình chứ đâu phải do người khác).

Phần thì lo vận nước khó khăn.
Khi Linh Sơn (1) lương hết mấy tuần,
Khi Khôi Huyện (2) quân không một đội.
Trời thử lòng trao cho mệnh lớn,
Ta gắng chí khắc phục gian nan.
Nhân dân (3) bốn cõi một nhà, dựng cần trúc (4) ngọn cờ phấp phới;
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào (5),
Thế trận xuất kì (6), lấy yếu chống mạnh;
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.

Tinh thần đồng cam cộng khổ của tướng sĩ được thể hiện qua những chi tiết, hình ảnh nào?

Trọn hay:

Đem đại nghĩa (7) để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân (8) để thay cường bạo.
Trận Bồ Đằng (9) sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân (10) trúc chẻ tro bay (11).
Sĩ khí (12) đã hăng,
Quân thanh (13) càng mạnh.

Ý câu văn "Đem đại nghĩa... thay cường bạo" có mối liên hệ như thế nào với chủ trương “mưu phạt tâm công” và tư tưởng nhân nghĩa?

(1) Linh Sơn: tức núi Chí Linh, nay thuộc huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá.

(2) Khôi Huyện: tên một huyện ở đầu thế kỉ XV (huyện Khôi), nay thuộc vùng giáp ranh của ba tỉnh Thanh Hoá, Ninh Bình và Hoà Bình.

(3) Nhân dân (nguyên văn: manh lệ): chỉ chung dân chúng khốn cùng tụ họp dưới ngọn cờ nghĩa, (manh: dân nghèo bị tước mất ruộng đất phải tha phương cầu thực; lệ: nô lệ). Ý văn thể hiện sâu sắc quan niệm về “dân” của Nguyễn Trãi.

(4) Dựng cần trúc: dịch cụm từ yết can vi kì (giơ gậy lên làm cờ), mượn tích Hoàng Sào lúc mới dấy binh khởi nghĩa không kịp làm cờ phải giơ sào lên thay; bài Quá Tần luận của Giả Nghị đời Hán cũng có câu: “trảm mộc vi binh, yết can vi kì” (chặt gỗ làm khí giới, giơ sào lên làm cờ).

(5) Hoà nước sông chén rượu ngọt ngào: dịch cụm từ đầu giao hướng sĩ (đồ rượu ngọt xuống sông để khao quân). Dẫn điền xưa nói việc nước Tấn và nước Sở đánh nhau, có người dâng vua Sở một bình rượu ngon, vua Sở sai đổ rượu xuống sông để quân sĩ đón dòng mà uống, sau Sở đánh thắng Tấn. Câu này ý tác giả muốn nói, tướng lĩnh và nghĩa binh Lam Sơn có lòng thương yêu nhau như cha với con (tướng sĩ một lòng phụ tử).

(6) Xuất kì: bất thình lình, bất ngờ, chỉ việc bày quân mai phục đề bất ngờ tiến đánh.

(7), (8) Đại nghĩa: nghĩa lớn. Chi nhân: lòng nhân ái tột bậc. Ý hai câu này thể hiện tư tưởng nhân nghĩa của một đội quân chính nghĩa.

(9) Bồ Đằng: tên một ngọn núi, còn gọi là Bồ Liệp hay Bồ Cứ thuộc huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Năm 1425, Lê Lợi đánh thắng quân Minh ở đây.

(10) Trà Lân: còn có tên là Trà Long, nay thuộc hai huyện Tương Dương và Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Năm 1424, nghĩa quân Lam Sơn tiến vào Nghệ An và cuối năm ấy hạ thành Trà Long, đây là chiến thắng lớn đầu tiên.

(11) Trúc chẻ tro bay: dịch cụm từ trúc phá hồi phi, ý nói bị tơi bời, tan tác một cách dễ dàng. Thành ngữ thường nói “thế như chẻ tre”, ý nói tre bị chè ở một đầu rồi thì cả cây sẽ bị chè ra dễ dàng. Trong thơ văn cổ, hôi phi hay phi hôi (tro bay) thường có nghĩa là dễ dàng, đơn giản, nhanh chóng.

(12) Sĩ khí: khí thế của binh sĩ, quân đội.

(13) Quân thanh: thanh thể của quân đội.

Bởi thế:

Thằng nhãi con Tuyên Đức (1), động binh không ngừng;
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng (2), đem dầu chữa cháy.
Đinh Mùi tháng Chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn (3) tiến lại;
Năm ấy tháng Mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam (4) tiến sang.
Ta trước đã điều binh thủ hiểm (5), chặt mũi tiên phong (6);
Ta sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực.
Ngày mười tám, trận Chi Lăng (7), Liễu Thăng thất thế,
Ngày hai mươi, trận Mã An (8), Liễu Thăng cụt đầu,
Ngày hăm lăm, Bá tước Lương Minh (9) bại trận tử vong,
Ngày hăm tám, Thượng thư Lý Khánh (10) cùng kế tự vẫn.
Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá (11),
Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau (12),
Lại thêm quân bốn mặt vây thành,
Hẹn đến giữa tháng Mười diệt giặc.
Sĩ tốt (13) kén người hùng hổ,
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh (14),

Hành động lật lọng, bội ước của kẻ thù sẽ dẫn đến kết cục như thế nào?

(1) Tuyên Đức: tức vua Tuyên Tông nhà Minh, lên ngôi năm 1425, lấy hiệu là Tuyên Đức.

(2) Thạnh, Thăng: Mộc Thạnh và Liễu Thăng. Mộc Thạnh là đại thần của nhà Minh, cai quản vùng Vân Nam, được giữ chức Chình Nam tướng quân, đem năm vạn quân sang nước ta cứu viện Vương Thông theo ngà Lào Cai. Liễu Thăng tước An viễn hầu, được giao làm Tổng binh chỉ huy đạo viện binh mười vạn quân sang nước ta theo đường Lạng Sơn, bị nghĩa quân Lam Sơn giết ở núi Đảo Mã, nay thuộc tỉnh Lạng Sơn.

(3) Khâu Ôn: một địa danh nay thuộc phía bắc tỉnh Lạng Sơn, giáp biên giới Việt Nam - Trung Quốc.

(4) Vân Nam: một tình của Trung Quốc, giáp với tỉnh Lào Cai của Việt Nam.

(5) Thủ hiểm: trấn giữ nơi hiểm trở.

(6) Tiên phong: đội quân đi trước, có nhiệm vụ vừa đánh vừa thăm dò lực lượng đối phương.

(7) Chi Lăng: tên một cửa ải hiểm trở thuộc tỉnh Lạng Sơn, nơi từng ghi dấu nhiều chiến công hiển hách của quân dân Đại Việt chống kẻ thù xâm lược phương Bắc.

(8) Mã An: tức núi Đảo Mã, thuộc tỉnh Lạng Sơn. Theo sách Minh sử, Liễu Thăng đem viện binh sang nước ta, có ý kiêu căng, đến dốc Đảo Mã cùng 100 kị binh qua cầu, cầu sập, phục bình bốn phía nổi dậy, Liễu Thăng sa vào bùn rồi bị trúng thương mà chết.

(9) Lương Minh: tướng giặc, được phong tước Bảo Định bá, giữ chức Tà phó Tổng binh của Liễu Thăng, tử trận cùng ngày với Liễu Thăng.

(10) Lý Khánh: giữ chức Binh bộ Thượng thư của nhà Minh, sang nước ta đảm nhiệm phụ trách quân vụ và kiêm chức ngự sử. Minh sử cho biết Lý Khánh tử trận liền sau ngày Lương Minh và Liễu Thăng tử trận.

(11) Lưỡi dao tung phá: dịch cụm từ nghênh nhận nhi giải (đón lưỡi dao mà tự vỡ ra). Truyện Đỗ Dự trong sách Tấn thư có câu: “nay bình uy đã vang dậy, thế như chẻ tre, đã chẻ được mấy đốt thì cứ đưa dao đi đến đâu là tre vỡ đến đấy". Ý muốn nói quân ta thừa cơ tiến đánh làm cho giặc tan rã như tre bị chẻ.

(12) Quay mũi giáo đánh nhau: dịch cụm từ đảo qua tương công (quay ngược ngọn giáo lại đâm nhau). Thiên Vũ Thành sách Thượng thư có câu: "... quân trước quay giáo lại đâm quân sau mà thua”, tả việc tiền quân của Trụ quay giáo tự đánh lẫn nhau mà thua Chu Vũ Vương.

(13) Sĩ tốt: binh lính nói chung.

(14) Vuốt nanh: chỉ người giỏi chiến đấu được tập hợp quanh thủ lĩnh để tạo thêm sức mạnh.

Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
Lý An, Phương Chính ) nín thở cầu thoát thân.
Thừa thắng ruổi dài, Tây Kinh 5) quân ta chiếm lại;
Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô) đất cũ thu về.
Ninh Kiều) máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm;
Tốt Động 5) thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.
Phúc tâm ( ) quân giặc, Trần Hiệp (10) đã phải bêu đầu;
Mọt gian kẻ thù, Lý Lượng (11) cũng đành bỏ mạng.
Vương Thông (12) gỡ thế nguy, mà đám lửa cháy lại càng cháy;
Mã Anh 13) cứu trận đánh, mà quân ta hăng lại càng hăng.
Bó tay để đợi bại vong, giặc đã trí cùng lực kiệt;
Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt, tâm công (14),
Tưởng chúng biết lẽ ăn năn, nên đã thay lòng đổi dạ;
Ngờ đâu vẫn đương mưu tính, lại còn chuốc tội gây oan.
Giữ ý kiến một người, gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác;
Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế gian.

(1) (2) Trần Tri, Son Thọ: Trần Trí là một viên tổng bình của quân Minh Sơn Thọ là nội quan của nhà Minh,
được Minh Nhân Tông lệnh mang sắc sang phong Lê Lợi làm Tri phủ Thanh Hoá để hòng mua chuộc.
(3), (4) Lý An, Phương Chính: Lý An là tướng giặc Minh, được giao đóng giữ thành Nghệ An; Phương Chính
là Đô đốc của nhà Minh, đóng quân ở Thanh Hoá. Cả hai viên tưởng này đều bị quân ta đánh bại
nhiều lần.
(5) Tây Kinh: chỉ thành nhà Hồ, còn gọi là thành Tây Giai, nay thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá.
(6) Đông Đô: tên gọi của thành Thăng Long từ năm 1397 (thời Trần Phế Đế) tới năm 1430 (thời Lê Thái Tổ),
để phân biệt với kinh đô mới ở Thanh Hoá (gọi là Tây Đô). Thời thuộc Minh, Đông Đô còn gọi là Đông Quan.
(7) Ninh Kiều: một địa điểm có sông Ninh Giang chảy qua, nay thuộc huyện Chương Mỹ, thành phố
Hà Nội. Năm 1429, nghĩa quân Lam Sơn tiến ra Đông Đô, đặt phục bình ở Chúc Động, Tốt Động tiêu
diệt phần lớn sinh lực trong đạo viện binh của Vương Thông đóng ở Ninh Kiều, giết được Thượng thư
Trần Hiệp và Nội quan Lý Lượng, bắt sống hơn một vạn quân giặc.
(8) Tốt Động có sách chép là Tuy Động, thuộc huyện Mỹ Lương, tỉnh Hà Đông cũ (nay là huyện Chương Mỹ,
thành phố Hà Nội). Tháng Mười năm Bính Ngọ (1426), giặc Minh thua to ở đây.
(9) Phúc tâm: kẻ thân tín (phúc: bụng tâm: tim, lòng).
(10). (11) Trần Hiệp, Lý Lượng: Trần Hiệp là Thượng thư nhà Minh; Lý Lượng là Nội quan nhà Minh.
(12). (13) Vương Thông, Mã Anh: các viên tướng nhà Minh. Vương Thông được giao chức Tổng binh, cùng
Tham tưởng Mã Anh đem năm vạn quân sang Đại Việt cứu viện để thay Tham tướng Trần Trị và Đô
đốc Phương Chính chỉ huy quân Minh đánh nước ta.
(14) Mưu phạt, tâm công. đánh bằng mưu lược, đánh bằng tấm lòng nhân nghĩa.

Bởi thế:
Thằng nhãi con Tuyên Đức ( ), động binh không ngừng;
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng(2), đem dầu chữa cháy.
Đinh Mùi tháng Chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn ) tiến lại;
Năm ấy tháng Mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam (4) tiến sang.
Ta trước đã điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong (6);
Ta sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực.
Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế,
Ngày hai mươi, trận Mã Anh, Liễu Thăng cụt đầu,
Ngày hăm lăm, Bá tước Lương Minh bại trận tử vong,
Ngày hăm tám, Thượng thư Lý Khánh(10) cùng kế tự vẫn.
Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá(11),
Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau (12),
Lại thêm quân bốn mặt vây thành,
Hẹn đến giữa tháng Mười diệt giặc.
Sĩ tốt (13) kén người hùng hổ,
Bể tôi chọn kẻ vuốt nanh (14),

Chú ý các chi tiết, hình
ảnh thể hiện tinh thần và
khí thế chiến thắng hào
hùng của nghĩa quân.

(1) Tuyên Đức: tức vua Tuyên Tông nhà Minh, lên
ngôi năm 1425, lấy hiệu là Tuyên Đức.
(2) Thạnh, Thăng: Mộc Thạnh và Liễu Thăng. Mộc
Thạnh là đại thần của nhà Minh, cai quản vùng
Vân Nam, được giữ chức Chinh Nam tướng
quân, đem năm vạn quân sang nước ta cứu viện
Vương Thông theo ngà Lào Cai. Liễu Thăng
tước An viễn hầu, được giao làm Tổng bình chỉ
huy đạo viện binh mười vạn quân sang nước ta
theo đường Lạng Sơn, bị nghĩa quân Lam Sơn
giết ở núi Đảo Mã, nay thuộc tỉnh Lạng Sơn.
(3) Khâu Ôn: một địa danh nay thuộc phía bắc tỉnh
Lạng Sơn, giáp biên giới Việt Nam – Trung Quốc.
(4) Vân Nam: một tình của Trung Quốc, giáp với tỉnh
Lào Cai của Việt Nam.
(5) Thủ hiểm: trấn giữ nơi hiểm trở.
(6) Tiên phong: đội quân đi trước, có nhiệm vụ vừa
đánh vừa thăm dò lực lượng đối phương.
(7) Chi Lăng tên một cửa ải hiểm trở thuộc tỉnh
Lạng Sơn, nơi từng ghi dấu nhiều chiến công
hiển hách của quân dân Đại Việt chống kẻ thù
xâm lược phương Bắc.
(5) Mã An: tức núi Đảo Mã, thuộc tỉnh Lạng Sơn.
Theo sách Minh sử, Liễu Thăng đem viện binh
sang nước ta, có ý kiêu căng, đền dốc Đảo Mã
cùng 100 kị binh qua cầu, cầu sập, phục binh
bốn phía nổi dậy, Liễu Thăng sa vào bùn rồi bị
trúng thương mà chết.
(9) Lương Minh tướng giặc, được phong tước Bảo
Định bả, giữ chức Tả phó Tổng binh của Liễu
Thăng, từ trận cùng ngày với Liễu Thăng.
(10) Lý Khánh: giữ chức Binh bộ Thượng thư của
nhà Minh, sang nước ta đảm nhiệm phụ trách
quân vụ và kiêm chức ngự sử. Mình sử cho biết
Lý Khánh từ trận liền sau ngày Lương Minh và
Liễu Thăng tử trận.
(11) Lưỡi dao tung phá: dịch cụm từ nghênh nhận nhi
giải (đón lưỡi dao mà tự vỡ ra). Truyện Đỗ Dự
trong sách Tấn thư có câu: "nay bình uy đã vang
dậy, thế như chẻ tre, đã chẻ được mấy đốt thì cử
đưa dao đi đến đâu là tre vỡ đến đấy". Ý muốn
nói quân ta thừa cơ tiến đánh làm cho giặc tan rã
như tre bị chẻ.
(12) Quay mũi giáo đánh nhau. dịch cụm từ đảo qua
tương công (quay ngược ngọn giáo lại đâm
nhau). Thiên Vũ Thành sách Thượng thư có
câu: "... quân trước quay giáo lại đâm quân sau
mà thua", tả việc tiên quân của Trụ quay giáo tự
đánh lẫn nhau mà thua Chu Vũ Vương.
(13) Sĩ tốt: binh lính nói chung.
(14) Vuốt nanh: chỉ người giỏi chiến đấu được tập
hợp quanh thủ lĩnh để tạo thêm sức mạnh.

Gươm mài đá, đá núi cũng mòn,
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Đánh một trận, sạch không kình ngạc (1),
Đánh hai trận, tan tác chim muông.
Nổi gió to trút sạch lá khô,
Thông tổ kiến phá toang đê vỡ(2).
Đô đốc Thôi Tụ³) lê gối dâng tờ tạ tội,
Thượng thư Hoàng Phúc (4) trói tay để tự xin hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường;
Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước.
Ghê gớm thay sắc phong vân phải đổi,
Thảm đạm thay ánh nhật nguyệt phải mờ.

Sự hèn nhát và cảnh
thảm bại của kẻ thù
được thể hiện qua các
chi tiết cụ thể nào?

Bị ta chẹn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật;
Thua quân ta ở Cần Trạm (10), quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân.
Suối Lãnh Câu máu chảy trôi chày (11), nước sông nghẹn ngào tiếng khóc;
Thành Đan Xá (12) thây chất thành núi, cỏ nội đầm đìa máu đen.

(1) Đánh một trận, sạch không kình ngạc Đảnh hai (9) Lê Hoa: một cửa ải xưa nằm giữa tỉnh Lào Cai
trận, tan tác chim muông nội dung hai câu diễn
(Việt Nam) và tỉnh Vân Nam (Trung Quốc).
tả sức mạnh bão táp của quân khởi nghĩa (kình:
cá voi, ngạc: cá sấu).
(2) Thông tổ kiến phá toang đê vỡ (nguyên văn:
quyết hội nghĩ ư băng đê): tổ kiến hồng bị cuốn
trôi lúc con đê đã vỡ. Câu này đối với câu trên,
nói tình thế giặc như lá khô trước
cơn cơn gió gió
mạnh, như tổ kiến bị quét đi khi đê vỡ.
(3), (4) Thôi Tụ, Hoàng Phúc: Đô đốc Thôi Tụ làm
Hữu tham tướng của Liễu Thăng, cùng với
Công bộ Thượng thư Hoàng Phúc đều bị bắt
sống. Sau khi thua ở Chi Lăng, bọn Hoàng
Phúc, Thôi Tụ phải thu quân về Xương Giang
nhưng thành này đã bị hạ, chúng phải đóng
quân ở giữa cánh đồng, đắp luỹ tự vệ, nhưng
rốt cục đại bại.
(10) Cần Trạm: vùng ở gần Kép
Bắc Giang,
nằm giữa ải Chi Lăng và thành Xương Giang.
Mộc Thạnh đóng ở Lê Hoa cho Liễu Thăng đánh
vào Chi Lăng. Thăng chết trận, phó tướng là
Lương Mình đưa tàn binh tiến vào Cần Trạm rồi
chết ở đây.
(11) Máu chảy trôi chày (nguyên văn: huyết chử phiêu):
rút ý từ thành ngữ huyết lưu phiêu chử, có xuất
xứ tử Kinh thư, diễn đạt sự thảm khốc của chiến
tranh. Chỉ trong nguyên văn bài cáo thường được
giải thích có hai nghĩa: (1) cái chày để giã gạo
hoặc cháy để đập giặt quần áo; (2) một loại vũ khi
thời xưa hoặc cái mộc, cái khiên của binh linh.
Trong trường hợp này, nghĩa thứ hai phù hợp với
văn bản hơn.
(5) Lạng Giang nay là một huyện thuộc tình (12) Lãnh Câu, Đan Xả: những địa điểm gần Lê Hoa,
Bắc Giang, tiếp giáp với tỉnh Lạng Sơn.
(6) Xương Giang, Binh Than: Xương Giang nay
thuộc địa phận thành phố Bắc Giang; Bình Than
là tên một bãi sông lớn ở phía dưới bến đò
Phả Lại ngày nay.
(7) Phong vân: gió (phong) và mây (vân).
(8) Nhật nguyệt mặt trời (nhật) và mặt trăng (nguyệt).
Cao Trại, Thuỷ Vĩ xưa, đều thuộc địa bàn tỉnh
Lào Cai, giáp ranh giữa tỉnh Vân Nam và nước
ta. Lãnh Câu, Đan Xá là nơi từng xảy ra những
cuộc huyết chiến giữa nghĩa quân Lam Sơn (do
các tưởng Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả,... lãnh đạo)
và giặc Minh (do Mộc Thạnh chỉ huy).

Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp;
Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng.
Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng;
Thần vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh ( ).
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến bể mà vẫn
hồn bay phách lạc;
Vương Thông, Mã Anh(4), phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn
tim đập chân run.
Họ đã tham sống sợ chết, mà hoà hiếu thực lòng;
Ta lấy toàn quân là hơn), để nhân dân nghỉ sức.
Chẳng những mưu kế kì diệu,
Cũng là chưa thấy xưa nay.
Xã tắc (6 từ đây vững bền,
Giang sơn từ đây đổi mới.
Kiền khôn bĩ rồi lại thái ,
Nhật nguyệt hối rồi lại mình( ),
Muôn thuở nền thái bình vững chắc,
Ngàn thu vết nhục nhã sạch làu.
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông khôn thiêng ngầm giúp đỡ mới được như vậy().

Chú ý tư thế của người
phát ngôn khi tuyên bố
về thắng lợi của cuộc
kháng chiến và về sự
bắt đầu một thời kì mới
của đất nước.

(1) Thần vũ chẳng giết hại: uy vũ như thánh như
thần mà không chém giết, mượn chữ từ câu
trong Kinh dịch: "Cổ chi thông minh duệ trí thần
vũ nhi bắt sát giả phù" (Các bậc anh hùng thông
minh sáng suốt đời xưa có uy võ như thần mà
chẳng giết hại người vậy).
(2) Hiểu sinh: thương yêu con người và loài vật.
Kính thư có câu: "Hiểu sinh chi đức hiệp vu dân
tâm" (Đức hiểu sinh của trời hợp với lòng dân).
(3), (4) Mã Kỳ, Mã Anh: các tướng lĩnh của nhà Minh,
chịu đầu hàng Lê Lợi. Sau chiến thắng
Chi Lăng, quân giặc các nơi khiếp sợ đầu hàng,
Vương Thông xin hẹn ngày rút quân. Thuỷ binh
do Phương Chính, Mã Kỳ thống lĩnh được Lê Lợi
cấp 500 chiến thuyền đề về nước, bộ binh do
Vương Thông, Mã Anh, Sơn Thọ, Hoàng Phúc
thống lĩnh cũng được Lê Lợi cấp lương thực
và ngựa.
(5) Toàn quân là hơn (dịch cụm từ toàn quân vi
thượng): bảo toàn quân đội địch mà bắt chúng
thua là thượng sách. Tư tưởng này được
Nguyễn Trãi tiếp thu từ sách Tôn Tử (thiên
Mưu công).
C
(6) Xã tắc: chỉ quốc gia, đất nước (xã: nơi tế thần
đất tắc: vốn là tên Thần Nông (Hậu Tắc), sau
dùng chỉ nơi tế Thần Nông đề cầu cho mùa màng
tươi tốt). Nước nhà muốn thịnh vượng phải làm
cho dân an cư lạc nghiệp, vì vậy khi dựng nước
trước hết phải lập xã tắc, cũng vì thế mà xã tắc
tượng trưng cho quốc gia.
(7) Kiến (cản), khôn, bĩ, thái tên các quẻ trong
Kinh dịch. Quẻ kiến chỉ trời, khi dương; quẻ khôn
chỉ đất, khí âm. Kiền và khôn ghép với nhau để
chỉ chung trời đất. Quẻ bĩ có hình tượng khí
dương đè nén khí âm, biểu thị ý nghĩa không
được tự do phát triển, bể tắc, không thông thuận;
quê thái có hình tượng khí âm trỗi vượt lên trên
khí dương, biểu thị ý nghĩa không bị đè nén,
được tự do phát triển, thông thuận. Ý cả câu: trời
đất đang tắc nghẽn lại được hanh thông.
(8) Hồi, minh tối tăm (hồi) và sáng sủa (minh).
(9) câu này trong nguyên văn như sau: có được
thắng lợi này cũng là nhờ khi thiêng trời đất
âm thầm giúp đỡ, anh linh tổ tông ngầm phù trợ.

Than ôi!
Một cỗ nhung y ) chiến thắng, nên công oanh liệt ngàn năm;
Bốn phương biển cả thanh bình, ban chiếu duy tân 2 khắp chốn.
Xa gần bá cảo
Ai nấy đều hay.
(Bản dịch của Bùi Ki, in trong Ngữ văn 10, tập hai,
NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2021, tr. 17 - 22)

Cuối năm 1427, cuộc kháng
chiến chống giặc Minh của nhân dân
ta kết thúc thắng lợi, Nguyễn Trãi
thừa lệnh Lê Lợi viết Bình Ngô
đại cáo. Tác phẩm được ban bố
vào tháng Chạp năm Đinh Mùi
(đầu năm 1428 dương lịch). Có thể
xem đây là văn kiện chính trị tổng
kết đầy đủ nhất về quá trình kháng
chiến oanh liệt chống giặc Minh và
toàn bộ tư tưởng về chủ quyền đất
nước, về nền độc lập dân tộc. Vì thế,
tác phẩm mang tính chất của một
bản tuyên ngôn mở đầu cho một
triều đại mới, một kỉ nguyên mới của
đất nước.

Image of an old text with Chinese characters, likely a historical document.

Phần đầu văn bản Bình Ngô đại cáo
trong Hoàng Việt văn tuyển

Cáo là một thể văn hành chính cổ, có nguồn gốc từ Thượng thư (Trung Quốc), do nhà vua
hoặc chủ tướng ban bố một mệnh lệnh, chủ trương, chính sách,... cho toàn dân chúng được biết.
Căn cứ vào nội dung, mục đích, phạm vi ban bố, thể văn cáo có thể phân thành nhiều loại, nhưng
nhìn chung, đều có ý nghĩa tuyên bố về một sự kiện trọng đại của quốc gia. Cáo có thể viết bằng
văn xuôi, văn vần, biền văn (văn biền ngẫu). Tác phẩm cáo nói chung thường có lập luận chặt chẽ,
bố cục rõ ràng, ý tứ hùng hồn, hàm ý mệnh lệnh.
Bình Ngô đại cáo là tác phẩm chính luận quan trọng, có giá trị lớn về văn hoá, lịch sử, chính trị,
quân sự, văn học, ngôn ngữ.... được mệnh danh là áng “thiên cổ hùng văn”. Tác phẩm đạt
đến trình độ mẫu mực của nghệ thuật ngôn từ, với lập luận chặt chẽ, âm hưởng hào hùng, ý tứ

(1) Nhung y áo giáp, áo mặc khi ra trận. Một cỗ nhung y chiến thắng (nhất nhung đại định) xuất xứ từ câu trong
thiên Vũ Thành, sách Thượng thư. nhất nhung y nhi thiên hạ đại định (chỉ một chiếc áo giáp mà bình định
được cả thiên hạ).
(2) Duy tân: theo cái mới. Thiên Văn Vương trong Kinh thi có câu: “Chu tuy cựu bang, ki mệnh duy tân"
(nhà Chu tuy là nước cũ (nhưng đến Văn Vương) mệnh trời mới thật là mới).

biện luận sâu xa.... Sự kết hợp nhuần nhuyễn nhiều bút pháp phong cách ngôn ngữ như chính
luận, tự sự, biểu cảm; sự hoà quyện giữa tỉnh chân thực lịch sử với chất sử thi anh hùng ca,... đã
làm nên tính hấp dẫn vượt thời đại của tác phẩm.
Bình Ngô đại cáo được viết theo thể biển văn, theo kiểu văn tứ lục biến cách (thể văn tứ lục: dùng
các câu ngắt quãng 4/6 chữ để nổi nhau; văn tử lục có thể biến cách thành các kiểu đối 4/4 - 4/4 hoặc
6/6-6/6;...). Tác phẩm được viết với bút pháp đa dạng, sử dụng nhiều biện pháp tu từ, ngôn ngữ
giàu hình ảnh, có tỉnh biểu cảm cao. Vì vậy, Bình Ngô đại cáo không chỉ ảnh hưởng sâu xa đến tư
tưởng, ý thức mà còn tác động mạnh mẽ đến tình cảm, cảm xúc của người tiếp nhận.
Văn bản Bình Ngô đại cáo được truyền chép trong nhiều tư liệu. Tuy giữa các bản chép có những
sai biệt nhất định về câu chữ, nhưng tỉnh chân thực, sự trọn vẹn về nội dung của văn bản vẫn được
thể hiện rõ.

Trà lời câu hỏi

1

Căn cứ vào nội dung bài học và hiểu biết của mình, hãy cho biết: tư cách phát ngôn
của Nguyễn Trãi khi viết Bình Ngô đại cáo, sự kiện lịch sử được tái hiện và bàn luận
trong tác phẩm, mục đích viết và đối tượng tác động của bài cáo.

2

Xác định luận đề của văn bản và nêu lí do vì sao bạn xác định như vậy.

3

Theo bạn, trong đoạn 1 của văn bản, câu văn nào thể hiện rõ nhất mục đích của việc
thực thi lí tưởng nhân nghĩa?

4

Hãy khái quát nội dung của các đoạn từ 2 đến 5 và cho biết chức năng của mỗi đoạn
trong mạch lập luận.

5

Nêu nhận xét chung về nghệ thuật lập luận của tác giả trong toàn tác phẩm.

6

Hãy chỉ ra yếu tố biểu cảm trong văn bản. Theo bạn, yếu tố này có thể đem lại
hiệu quả gì trong việc thuyết phục người đọc, người nghe?

7

Bình Ngô đại cáo được đánh giá là một áng hùng văn. Theo bạn, những căn cứ chính
của đánh giá đó là gì?

8

Nêu khái quát ý nghĩa của Bình Ngô đại cáo đặt trong bối cảnh lịch sử – văn hoá
cụ thể của nước ta ở đầu thế kỉ XV.

Kết nối đọc – viết

Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) về một trong hai vấn đề sau:
Mối quan hệ giữa tư tưởng nhân nghĩa và luận đề chính nghĩa thể hiện trong
đoạn 1 của văn bản.
Tinh thần độc lập, ý thức về chủ quyền dân tộc được thể hiện trong Bình Ngô
đại cáo.

Văn bản 3

Bảo kính cảnh giới

(Gương báu răn mình)

(Bài 43)

Nguyễn Trãi

Hãy kể tên một vài bài thơ viết theo thể Đường luật mà bạn đã
học hoặc đã đọc.

Chỉ ra một số đặc điểm hình thức giúp bạn nhận diện được
thể loại của các bài thơ đó.

Rồi (1) hóng mát thuở ngày trường(2).
Hoè (3) lục (4) đùn đùn tán rợp trương.
Thạch lựu 5) hiên còn phun thúc(6) đỏ,
Hồng liên trì đã tịn mùi hương.
Lao xao chợ cá làng ngư phủ;
Dắng dỏi cầm vedo lâu tịch dương (1)
Lẽ có 12) Ngu cấm(13) đần một tiếng, SONG
Dân giàu đủ khắp đòi phương (14).

Chú ý các động từ, tính từ, các
từ láy và câu thơ sáu tiếng.

Hình dung về bức tranh
cuộc sống.

(Viện Sử học, Nguyễn Trãi toàn tập,
NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr. 453)

(1) Rồi rỗi rãi, thư nhàn.
(2) Trường dài.
(3) Hoẻ: loại cây thân gỗ, hoa màu vàng, nở vào
mùa hè.
(4) Lục: màu xanh lá cây.
(5) Thạch lựu: cây lựu, hoa màu đỏ, nở vào mùa hè.
(6) Thức: màu, dáng vẻ.
(7) Hồng liên: sen hồng.
(8) Tịn (từ cổ, có bản chép tiễn, tạn): hết, đến hết.
(9) Dắng dỏi từ láy tượng thanh, tả âm thanh trong,
cao, rộn rã.
(10) Cẩm ve: tiếng ve kêu như tiếng đàn.
(11) Tịch dương bóng chiều, ảnh hoàng hôn.
(12) Lẽ có (có bản phiên dễ có): mong được có,
lẽ nên có.
(13) Ngu cấm: đàn của vua Ngu Thuần. Tương
truyền vua Thuẩn được vua Nghiêu ban cho
cây đàn, khi rỗi rãi thường gây khúc Nam
phong: "Gió Nam mát mẻ/ Làm cho dân ta bớt
ưu phiền/ Gió Nam thổi đúng lúc/ Làm cho
dân ta ngày thêm nhiều của cải".
(14) Đôi phương. nhiều nơi, khắp nơi.

Bảo kính cảnh giới là chùm thơ gồm 61 bài trong tổng số 254 bài của Quốc âm thi tập. Hầu
hết các bài trong chùm thơ này đều mang nội dung giáo huấn và chứa đựng nhiều trăn trở, suy
tư về thế sự. Chùm thơ cũng ghi lại những khoảnh khắc thư nhàn khi tác giả lánh xa chốn quan
trường, hoà mình với thiên nhiên và nhịp sống bình dị, bình yên nơi thôn dã: Chân mềm ngại bước
dặm mây xanh / Quê cũ tìm về cảnh cũ thanh (bài 31); Đĩa thanh, cá lội, in vầng nguyệt/ Cây tĩnh,
chim về, rợp bóng xuân (bài 38);...
Chùm thơ Bảo kính cảnh giới không chỉ thể hiện tư tưởng, nhân cách của một bậc lương thần
chưa bao giờ nguôi nỗi lo dân, nước mà còn phản chiều những vẻ đẹp phong phú của một tâm hồn
nghệ sĩ.
Thơ Nôm Đường luật là loại thơ được sáng tác theo thể Đường luật, viết bằng chữ Nôm, hình
thành vào khoảng thế kỉ XIII. Có thể xem đây là một “lối thơ riêng do các tác giả trung đại Việt
Nam sáng tạo dựa trên mô hình của thơ Đường luật, trong đó có nhiều cách tân về đề tài, thi liệu,
cảm hứng, bút pháp, ngôn ngữ thơ.
Qua các chặng đường phát triển, thơ Nôm Đường luật đã đạt được những thành tựu lớn,
góp phần quan trọng vào việc tạo nên diện mạo của nền thơ trung đại Việt Nam. Quốc âm thi tập
của Nguyễn Trãi là một đình cao của thơ Nôm Đường luật, đánh dấu bước khởi đầu đẹp đẽ của nền
thơ tiếng Việt thời trung đại.

Trà lời câu hỏi

1

Xác định thể loại và nêu bố cục của bài thơ.

2

Câu thơ mở đầu cho biết điều gì về cuộc sống và tâm trạng của nhân vật trữ tình?

3

Phân tích một số từ ngữ, hình ảnh được tác giả sử dụng để miêu tả cảnh sắc mùa
hè. Từ đó, chỉ ra những nét đặc sắc trong cách cảm nhận thiên nhiên và bút pháp tả
cảnh của tác giả.

4

Cuộc sống của con người được nhà thơ tái hiện qua những âm thanh, hình ảnh nào?
Phân tích mối liên hệ giữa khung cảnh ấy với ước nguyện của nhân vật trữ tình trong
hai câu thơ cuối.

5

Nhận xét về vị trí và giá trị của các câu lục ngôn trong bài thơ.

6

Đọc bài thơ, bạn cảm nhận được điều gì về vẻ đẹp tâm hồn, tư tưởng của tác giả?

Kết nối đọc viết

Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích một yếu tố "phá cách" trong Bảo kính
cảnh giới, bài 43.

(1) Mây xanh: ẩn dụ chỉ chốn công danh, chốn quan trường (từ Hán Việt là thanh vân).

Văn bản 4

Dục Thuý sơn

(Núi Dục Thuý("))

Nguyễn Trãi

Hãy kể tên một vài địa danh của đất nước từng khơi nguồn
cảm hứng cho thơ ca.

Chia sẻ ngắn gọn ấn tượng của bạn về một bài thơ thể hiện
cảm hứng ấy.

Phiên âm

Hải khẩu hữu tiên san;
Tiên niên lũ văng hoàn.
Liên hoa phù thuỷ thượng;
Tiên cảnh truy trần gian.
Tháp ảnh trâm thanh ngọc;
Ba quang kính thuỷ hoàn.
Hữu hoài Trương Thiếu bảo;
Bi khắc tiển hoa ban.

Dịch nghĩa

Cửa biển có ngọn núi tiên;
TRỊ THỨC
nước;
Dáng núi như đoá hoa sen nổi trên mặt nước;
Tưởng như là cõi tiên rơi xuống trần gian.
Bóng tháp trên núi soi xuống mặt nước giống như cái trâm ngọc xanh;
Ánh sáng của sóng nước phản chiếu ngọn núi như đang soi mái tóc biếc.
Chạnh nhớ Trương Thiếu bảo );
Bia đá khắc thơ văn của ông nay đã lốm đốm rêu.

Núi Dục Thuỷ. còn có tên gọi là núi Non Nước
ở tỉnh Ninh Bình; tên Dục Thuý là do Trương
Hàn Siêu đặt, dựa trên liên tưởng dáng núi trong
khung cảnh sông nước giống như con chim
trả (bói cá) đang tắm (dục: tắm; thuỷ: chim trả;
thuỷ còn có nghĩa khác là màu xanh biếc). Núi
Dục Thuỷ từng được mệnh danh là "núi thơ" vì
đã khơi nguồn cảm hứng cho nhiều thi nhân:
Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trãi,
Lê Thánh Tông, Nguyễn Du, Thiệu Trị, Tự Đức,
Cao Bá Quát, Tản Đà ...
(1) Trương Thiếu bảo: tức Trương Hán Siêu
(?−1354) tự Thăng Phủ, người Trường Yên,
tỉnh Ninh Bình; là danh sĩ đời Trần, được nhiều
đời vua Trần trọng dụng làm quan trải nhiều
chức vụ, khi mất, được truy tặng chức Thái bảo
và được thờ ở Văn Miếu (Hà Nội); tác giả của
bài Bạch Đằng giang phú (Bài phú sông Bạch
Đằng) nổi tiếng.

Dịch thơ

Cửa biển có non tiên;
Từng qua lại mấy phen.
Cảnh tiên rơi cõi tục;
Mặt nước nổi hoa sen.
Bóng tháp hình trâm ngọc;
Gương sông ánh tóc huyền.
Nhớ xưa Trương Thiếu bảo;
Bia khắc dấu rêu hoen.

Lưu ý các yếu tố
cơ bản của thể loại.

Chú ý các chi tiết
miêu tả, các hình
ảnh so sánh, ẩn dụ.

(Khương Hữu Dụng dịch, in trong Văn học 10, tập một,
NXB Giáo dục, Hà Nội, 2001, tr. 131)

Nguyễn Trãi có nhiều bài thơ viết về các danh lam thắng cảnh của đất nước như Yên Tử,
Côn Sơn, Bạch Đằng, Thần Phù, Vân Đồn,... Trong những tác phẩm này, nhà thơ không chỉ khám
phá, ngợi ca vẻ đẹp của núi sông nước Việt, tự bộc lộ tâm hồn phóng khoáng, lãng mạn của mình mà
còn gửi gắm nhiều suy tư, triết lí về lịch sử, về thế sự.
Dục Thuý sơn có thể được sáng tác vào thời điểm sau cuộc kháng chiến chống giặc Minh và trước
khi Nguyễn Trãi lui về ở ẩn tại Côn Sơn. Bài thơ được sưu tầm và xếp vào Ức Trai thì tập.
Dục Thuỷ son được viết theo thể ngũ ngôn luật thi, gọi tắt là ngũ luật – một thể của thơ Đường luật.

Trả lời câu hỏi

1

Nêu một vài điểm khác biệt đáng chú ý giữa bản dịch nghĩa và bản dịch thơ.

2

Xác định đặc điểm kết cấu của Dục Thuý sơn.

3

Bức tranh toàn cảnh về vẻ đẹp của núi Dục Thuý được miêu tả như thế nào?

4

Nêu những chi tiết miêu tả cận cảnh núi Dục Thuý. Những liên tưởng xuất hiện khi
say ngắm thiên nhiên cho thấy nét đẹp nào của tâm hồn Nguyễn Trãi?

5

Trong phần kết của những bài thơ viết về đề tài "đăng cao", "đăng sơn", thi nhân xưa
thường thể hiện chí khi hào hùng, khát vọng lớn lao, hoặc nhấn mạnh sự nhỏ bé, cô
đơn của con người trước núi sông kì vĩ. Theo bạn, trong hai câu kết của Dục Thuý sơn,
Nguyễn Trãi muốn gửi gắm những nỗi niềm chung ấy hay muốn bày tỏ suy ngẫm riêng
của mình?

Kết nối đọc viết

Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích một nét đẹp của tâm hồn Nguyễn Trãi
thể hiện trong bài thơ Dục Thuý sơn.

Thực hành tiếng Việt

Sử dụng từ Hán Việt (tiếp theo)

1

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,
Quân điều phạt trước lo trừ bạo.
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng để một phương.
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,
Song hào kiệt đòi nào cũng có.
(Nguyễn Trãi, Bình Ngô đại cáo)
a. Tìm và giải nghĩa một số từ Hán Việt có trong đoạn trích chưa được chú thích ở
văn bản Bình Ngô đại cáo.
b. Nêu tác dụng biểu đạt của hệ thống từ Hán Việt trong đoạn trích.
c. Đặt câu với các từ: nhân nghĩa, văn hiến, hào kiệt.

2

Đọc lại đoạn 3 của văn bản Bình Ngô đại cáo (từ "Ta đây:" đến "Dùng quân mai phục,
lấy ít địch nhiều."), lập bảng hoặc vẽ sơ đồ liệt kê các điển tích và nêu tác dụng biểu đạt
của chúng theo gợi ý sau:

STT | Điển tích | Tác dụng biểu đạt
1 | |

3

Hầu hết các từ có yếu tố “nghĩa" trong nguyên tác Bình Ngô đại cáo đã được dùng lại
nguyên vẹn, không dịch ra tiếng Việt (ví dụ: nhân nghĩa). Hãy liệt kê và giải thích ý nghĩa
của các từ đó.

4

Tìm một số từ Hán Việt có yếu tố “nhân” được dùng với nghĩa như trong từ nhân nghĩa.
Giải nghĩa các từ đó.

Viết

Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội

Bàn luận về các vấn đề xã hội đã trở thành một nhu cầu phổ biến, tất yếu của
con người hiện đại. Khi bàn luận, chúng ta không chỉ thể hiện ý kiến cá nhân mà còn
muốn thuyết phục người khác đồng tình với quan điểm của mình qua đó, góp phần tạo
nên những thay đổi tích cực trong cộng đồng và đóng góp cho sự phát triển của xã hội.

Yêu cầu
Giới thiệu được vấn đề xã hội cần bàn luận.
Nêu rõ lí do lựa chọn và quan điểm cá nhân về vấn đề xã hội cần bàn luận.
. Chứng minh quan điểm của mình bằng hệ thống luận điểm chặt chẽ, hợp lí; sử dụng
các lí lẽ thuyết phục và bằng chứng chính xác, đầy đủ.
. Biết sử dụng yếu tố biểu cảm để tăng sức thuyết phục của văn bản.
Khẳng định ý nghĩa của vấn đề cần bàn luận.

Bài viết tham khảo

Sống đơn giản – xu thế của thế kỉ XXI

Chương Thâu

Vài năm lại đây, ở phương Tây xuất hiện một trào lưu sống
mới gọi là sống đơn giản: mọi người tự nguyện đơn giản hoá
cuộc sống của mình.

Giới thiệu vấn đề cần
bàn luận.

Nêu quan điểm của
người viết về vấn đề.

Như thế nào gọi là sống đơn giản? Theo quan niệm của
những người đề xướng ra trào lưu này, sống đơn giản không
đồng nghĩa với cuộc sống khổ hạnh và nghèo đói, mà là một
cuộc sống được lựa chọn sau một quá trình nghiên cứu kĩ
lưỡng; một cuộc sống hoà đồng với thiên nhiên, tìm kiếm sự
cân bằng trong mối quan hệ động tĩnh; một cuộc sống hồn
nhiên, vô tư, không lo lắng, siêu phàm và thoát tục,... Sống đơn giản chính là tự mình lắng
nghe tiếng nói của lòng mình, xem rõ điều mình thật sự cần thiết là cái gì? Là sống một
cuộc sống thực sự là của bản thân mình chứ không phải là bắt chước theo lối sống của
người khác hoặc sống theo yêu cầu của người khác.

Triển khai vấn đề thành
các luận điểm.

Để có thể sống đơn giản cần phải có sức sáng tạo và lòng
quyết tâm lớn, phải thực sự hoà mình vào cuộc sống để cảm
nhận. Nếu như bạn muốn mua một căn nhà, bạn cần phải
nghĩ đến cả cái lợi và cái hại của nó, có lợi ắt cũng sẽ có hại,
cái được và mất luôn đi liền với nhau, bất cứ lựa chọn nào
cũng đều có mặt trái của nó. Một căn nhà rộng rãi đẹp đẽ tất sẽ đem đến sự thoải mái
dễ chịu cho người ở và cả những lời khen ngợi của những người khác; nhưng, để có
tiền chi trả cho nó, bạn buộc phải làm việc cật lực và có thể còn phải từ bỏ một số thứ
khác trong cuộc sống của bạn nữa. Sau khi mua nhà vài tháng hoặc vài năm, có thể sẽ
có lúc bạn nghĩ rằng không hiểu vì sao bạn phải sống một cuộc sống khổ sở vất vả, một
cuộc sống hết sức đơn điệu nhàm chán chỉ để có tiền trả cho một căn nhà như thế này nhỉ?

Kết hợp các yếu tố
nghị luận, biểu cảm,...

Muốn có được một cuộc sống thoải mái, sung sướng là một
nhu cầu hoàn toàn chính đáng của con người. Chúng ta cần
phải ăn, ở, đi lại,... chúng ta cũng cần phải có những công việc
có thù lao và cả những công việc không có thù lao. Là con
người, chúng ta không thể không có thứ gì, chúng ta có nhu
cầu theo đuổi cái hay cái đẹp ở mức độ nhất định. Nhưng, chúng ta lại thường không biết
dùng lại đúng lúc vì lòng tham của con người là vô đáy. Lòng tham đó sẽ đẩy chúng ta
vào cảnh nợ nần, mệt mỏi và cùng quẫn, từ đó tâm hồn chúng ta sẽ trở thành chai sạn,
trơ lì.
Sống đơn giản là sống sâu sắc hơn, quan tâm đến nhau hơn, thân thiết với nhau hơn.
Cần phải thiết lập một mối quan hệ thân mật gần gũi với con người và cảnh vật trong
môi trường sống của chúng ta hơn. Trong cuộc sống hãy dành một khoảng thời gian và
không gian sống của mình để tìm hiểu, gần gũi và yêu quý những con người sống xung
quanh chúng ta. Hãy tự mình sống một cuộc sống chân thực và tạo dựng xung quanh
mình một cuộc sống hoàn toàn chân thực đối với mình. Chỉ có khi nào bạn thực sự cảm
thấy nhẹ nhàng, bắt đầu sống an nhàn, có ý nghĩa thì bạn mới có thể phát hiện ra tinh hoa
của cuộc sống này,...
Dựa vào nguyên tắc của cuộc sống đơn giản, tiêu chuẩn tối thiểu của cuộc sống là: đáp
úng đầy đủ những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống như ăn, mặc, ở, đi lại. Tất nhiên, để
đạt được điều đó, bạn phải bỏ ra một số công sức và thời gian nhất định. Nhưng, điều
quan trọng ở đây là, ngoài tất cả những thứ đó, trong thời gian còn lại, việc mà bạn cần
làm là biến mình thành một con người nhàn nhã và bình yên, không hao phí thời gian và
công sức vào những việc làm vô bổ. Hiện nay, xu thế sống đơn giản vẫn chưa được thực
sự chú ý ở Việt Nam chúng ta. Nhưng thực ra, lối sống này đã được cha ông chúng ta rất
coi trọng từ xưa và đã trở thành một trong những giá trị văn hoá truyền thống của người
Việt. Không chỉ do người Việt Nam chúng ta chịu ảnh hưởng của các tư tưởng triết học,
tôn giáo phương Đông như Nho, Phật, Đạo nên có xu hướng về một cuộc sống an nhàn

tự do tự tại mà ở thời đại nào chúng ta cũng có những con người biết cách sống nhàn
nhưng không phải là lẩn tránh cuộc sống thực tế mà là sống một cách có ích cho đời.
Có thể kể ra ở đây rất nhiều danh nhân của đất Việt đã từng có cuộc sống như vậy:
Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Chí Minh,...
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, con người luôn trong
trạng thái phải chịu đựng một áp lực quá tải do cuộc sống
mang lại. Ngay từ khi đang còn là một đứa trẻ, người ta đã bị
cuốn theo một nhịp sống gấp gáp của thời đại. Chính vì vậy, đã
nảy sinh những căn bệnh mang tính thời đại như bệnh stress,
làm tổn thương đến cuộc sống của biết bao con người. Trong một hoàn cảnh như vậy, việc
xây dựng cho mình một cuộc sống đơn giản một cuộc sống nhàn nhã theo đúng nghĩa:
nhàn tâm, làm việc có khoa học, biết dừng lại ở mức đủ, biết mình biết người, có thái độ
ứng xử đúng đắn, văn hoá – là việc làm có ích cho mỗi người. Điều này không những phù
hợp với xu thế văn minh của thời đại mà cũng rất phù hợp với truyền thống văn hoá của
dân tộc Việt Nam chúng ta.

Khẳng định ý nghĩa của
vấn đề cần bàn luận.

(Chương Thâu, báo Văn nghệ, số Tết 2002, in trong Ngữ văn 11, tập một,
NXB Giáo dục Việt Nam, 2018, tr. 15-17)

1

Nhận xét về cách đặt nhan đề bài viết.

2

Vấn đề đã được người viết triển khai bằng những luận điểm nào?

3

Chỉ ra các yếu tố làm nên sức thuyết phục của văn bản.

Thực hành viết

Chuẩn bị viết

  • Đề tài cho bài nghị luận về một vấn đề xã hội rất phong phú, đa dạng. Có thể lựa chọn

những vấn đề mang tính thời sự đang được nhiều người bàn luận; cũng có thể lựa chọn
những vấn đề mình từng có quá trình suy ngẫm lâu dài.
Gợi ý: Bạn có thể viết về tình yêu tuổi học trò, sự lựa chọn thần tượng của giới trẻ,
cách sử dụng thời gian rảnh rỗi, tinh thần trách nhiệm và thái độ hợp tác trong công việc,
hiện tượng biến đổi khí hậu, ảnh hưởng của đại dịch đối với đời sống xã hội,...

Tìm ý, lập dàn ý

Tìm ý

Để tìm ý, bạn có thể dựa vào các câu hỏi gợi ý như:

  • Vì sao bạn muốn bàn luận về vấn đề này? Vấn đề đó có ý nghĩa như thế nào với

cá nhân và cộng đồng?
Bạn có quan điểm như thế nào về vấn đề? Nếu có quan điểm nào khác thì bạn
đồng tình hay phản đối?
Bạn cần đưa ra những lí lẽ, bằng chứng gì để chứng minh quan điểm của mình là
đúng đắn và thuyết phục người khác đồng tình với mình?

Lập dàn ý

Để lập dàn ý, bạn sử dụng kết quả của phần Tìm ý nhằm tổ chức, sắp xếp các ý theo trật tự
hợp lí. Dàn ý cần thể hiện được những nội dung cơ bản mà bài viết phải triển khai:

Mở bài:

Có thể theo lối trực tiếp như trong bài viết tham khảo Sống đơn giản – xu thế của
thế kỉ XXI (Chương Thâu) hoặc theo lối gián tiếp như trong văn bản Yêu và đồng cảm của
Phong Tử Khải (Bài 3: Nghệ thuật thuyết phục trong văn nghị luận), nhưng phải giới thiệu
được vấn đề xã hội cần bàn luận và gây được ấn tượng với người đọc.

Thân bài:

Nêu ý nghĩa của vấn đề đối với đời sống xã hội.

  • Trình bày quan điểm cá nhân: Bạn lựa chọn góc nhìn nào? Cách nhìn nhận, đánh giá

vấn đề của bạn là gì? Vấn đề xã hội tác động như thế nào đối với cá nhân và cộng đồng?...
Trình bày những cơ sở về nhận thức và thực tiễn cho phép người viết đề xuất
quan điểm nhìn nhận, đánh giá về vấn đề xã hội như vậy.
Nêu lí lẽ, phân tích bằng chứng để chứng minh quan điểm của bạn và thuyết phục
người đọc, người nghe đồng tình.

Kết bài:

Khẳng định ý nghĩa của vấn đề xã hội vừa bàn luận.
Nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm của cá nhân, cộng đồng trong việc giải quyết vấn đề đó.

Viết

Khi viết bài, cần bám sát dàn ý đã lập; đảm bảo trật tự của các ý lớn, ý nhỏ (tuy vậy, đôi
khi, chính quá trình viết khiến ta thấy cần phải thay đồi dàn ý cho hợp lí hơn); kết hợp lí lẽ
và bằng chứng; có thể soi chiếu vấn đề từ những góc nhìn khác nhau. Chú ý trọng tâm của
bài viết: thuyết phục người đọc đồng tình với cách nhìn nhận, đánh giá vấn đề của bạn.
Văn phong cần mạch lạc, sáng rõ, phù hợp với đối tượng tiếp nhận và nội dung vấn đề.

Chỉnh sửa, hoàn thiện

Đọc lại bài viết, đối chiếu với các yêu cầu của kiều bài và dàn ý đã lập để phát hiện các
nội dung cần bổ sung, các lỗi cần chỉnh sửa nhằm hoàn thiện bài viết.
Lưu ý mức độ đạt yêu cầu của bài viết trên các mặt:
Vấn đề cần bàn luận đã được triển khai thành các luận điềm rành mạch, thể hiện rõ
quan điểm cá nhân của người viết.
Các luận điểm được sắp xếp hợp lí; các lí lẽ, bằng chứng được sử dụng một cách
hiệu quả.
Văn phong, giọng điệu được lựa chọn phù hợp với mục đích viết và đối tượng cần
thuyết phục.

  • Bài viết đảm bảo tuân thủ các quy định về chính tả, không mắc lỗi dùng từ và đặt câu.

Nói và nghe

Thảo luận về một vấn đề xã hội có ý kiến khác nhau

Yêu cầu
. Xác định rõ vấn đề xã hội được thảo luận.
. Nêu được nhận xét, đánh giá về ý kiến của những người khác.

  • Trình bày được ý kiến của bản thân về vấn đề (góc nhìn riêng và những phân tích,

đánh giá cụ thể).
VỚI CUỘC SỐNG
. Tôn trọng người đối thoại để cùng tìm tiếng nói chung về vấn đề.

Chuẩn bị thảo luận

Chuẩn bị nói

Lựa chọn đề tài

  • Đề tài thảo luận có thể được khai thác từ đề tài của các bài viết đã thực hiện; cũng có

thể là một đề tài mới.
Thực tế luôn có những vấn đề xã hội thu hút sự quan tâm của nhiều người; được
nhìn nhận, đánh giá từ những quan điểm khác nhau. Song, nên lựa chọn vấn đề gần gũi,
có ý nghĩa thiết thực, phù hợp với môi trường học đường. Ví dụ: tình yêu tuổi học trò;
xu hướng sống đơn giản; việc dùng xen tiếng nước ngoài trong giao tiếp thông thường....

Tìm ý và sắp xếp ý

  • Đề tài thảo luận là một vấn đề xã hội có ý kiến khác nhau nên người nói không chỉ

bày tỏ quan điểm cá nhân mà còn phải nắm được một số cách nhìn nhận, đánh giá khác.
Việc nắm bắt đúng những ý kiến, quan điểm khác nhau là cơ sở để thúc đẩy cuộc trao đổi,
thảo luận, đối thoại thành công.

  • Có thể trả lời một số câu hỏi gợi ý sau để hình thành nội dung của ý kiến thảo luận: Vì sao

bạn quan tâm đến vấn đề xã hội này? Vấn đề đã được nhìn nhận, đánh giá từ những góc nhìn,
những quan điểm khác nhau như thế nào? Quan điểm của bạn đối với vấn đề xã hội này là
gì? Vì sao bạn có quan điểm như vậy? Bạn muốn trao đổi, thảo luận gì với những người có
ý kiến khác?...

Xác định từ ngữ then chốt

Để thảo luận về một vấn đề xã hội có ý kiến khác nhau, cần chú ý sử dụng các từ ngữ
then chốt như: theo quan điểm của tôi, cách tiếp cận vấn đề, góc nhìn khác biệt, quan điểm
chung....

Phương tiện hỗ trợ

Có thể chuẩn bị một số phương tiện hỗ trợ cho việc trình bày ý kiến như: tranh ảnh, trích
đoạn ngắn từ phim tài liệu, biểu đồ,... có liên quan trực tiếp và có tác dụng minh hoạ cho
vấn đề cần thảo luận.

Chuẩn bị nghe

  • Tìm hiểu đề tài, nội dung của vấn đề xã hội được đưa ra thảo luận; xác định quan điểm

cá nhân trong cách nhìn nhận, đánh giá vấn đề.

  • Suy đoán về ý kiến có thể có liên quan đến vấn đề xã hội được thảo luận; hình dung

xem các ý kiến đó dựa trên những lí lẽ gì.
những lí lẽ gì JỘC SỐNG

Thảo luận

Người nói
Giới thiệu được vấn đề cần thảo luận.
Tóm lược những ý kiến khác nhau về vấn đề; trình
bày ý kiến cá nhân, sử dụng lí lẽ và bằng chứng
để chứng minh cho quan điểm của mình trao đổi,
thảo luận với những người có ý kiến khác,...
Khái quát những điểm chung có thể thống nhất, nhấn
mạnh tác dụng của cuộc thảo luận đối với cách nhìn
nhận, đánh giá vẫn đề xã hội. | Người nghe
Lắng nghe, ghi chép lại
những ý kiến muốn trao
đồi với người nói.
Chuẩn bị nội dung trao đổi.

Để việc thảo luận có hiệu quả, người nói, người nghe cần tự đánh giá và đánh giá về ý kiến
trao đổi theo các nội dung trong bảng sau:

STT | Nội dung đánh giá
Bám sát vấn đề xã hội được thảo luận và nêu được
ý kiến xác đáng.
| Kết quả
Đạt | Chưa đạt
2 | Có nhận xét, đánh giá thoả đáng về các ý kiến khác.
| |
3
4
Hướng về người cùng thảo luận để trao đổi ý kiến;
thể hiện thái độ tôn trọng, tinh thần cầu thị.
Biết sử dụng hiệu quả các phương tiện phi
ngôn ngữ; biết điều chỉnh nội dung, giọng điệu cho
phù hợp với không khi thảo luận.
| |

Củng cố, mở rộng

1

Từ những hiểu biết về tác phẩm Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, hãy nêu các yếu tố
cơ bản làm nên sức thuyết phục của một văn bản chính luận.

2

Các văn bản đọc (Tác gia Nguyễn Trãi, Bình Ngô đại cáo, Bảo kính cảnh giới – bài 43,
Dục Thuý sơn) đã giúp bạn có thêm hiểu biết gì về đóng góp của Nguyễn Trãi cho nền
văn học, văn hoá dân tộc?

3

Tìm đọc một số tác phẩm của Nguyễn Trãi thuộc các mảng sáng tác khác nhau: văn chính
luận, thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm. Chỉ ra đặc điểm cơ bản về thể loại của một tác phẩm
tự chọn.

4

Học thuộc lòng một số đoạn trong bản dịch Bình Ngô đại cáo và các bài thơ của
Nguyễn Trãi có trong bài học này (Bảo kính cảnh giới – bài 43, Dục Thuý sơn).

5

Hãy chọn viết về một đề tài xã hội mà bạn quan tâm. Dựa vào bài viết này để lập dàn cho
một bài thuyết trình và tập thuyết trình trên cơ sở dàn ý đó.

  • Có thể trả lời một số câu hỏi gợi ý sau để hình thành nội dung của ý kiến thảo luận: Vì sao bạn quan tâm đến vấn đề xã hội này? Vấn đề đã được nhìn nhận, đánh giá từ những góc nhìn, những quan điểm khác nhau như thế nào? Quan điểm của bạn đối với vấn đề xã hội này là gì? Vì sao bạn có quan điểm như vậy? Bạn muốn trao đổi, thảo luận gì với những người có ý kiến khác?...
  • Suy đoán về ý kiến có thể có liên quan đến vấn đề xã hội được thảo luận; hình dung xem các ý kiến đó dựa trên những lí lẽ gì.

STT
Nội dung đánh giá
Kết quả
Đạt
Chưa đạt
1
Bám sát vấn đề xã hội được thảo luận và nêu được ý kiến xác đáng.
2
Có nhận xét, đánh giá thoả đáng về các ý kiến khác.
3
Hướng về người cùng thảo luận để trao đổi ý kiến; thể hiện thái độ tôn trọng, tinh thần cầu thị.
4
Biết sử dụng hiệu quả các phương tiện phi ngôn ngữ; biết điều chỉnh nội dung, giọng điệu cho phù hợp với không khi thảo luận.

5

Hãy chọn viết về một đề tài xã hội mà bạn quan tâm. Dựa vào bài viết này để lập dàn ý cho một bài thuyết trình và tập thuyết trình trên cơ sở dàn ý đó.

Thực hành đọc

Một số điều cần lưu ý khi đọc văn bản:

Đề tài, thi liệu, thể loại của văn bản.

  • Hình tượng thiên nhiên và tâm trạng của nhân vật trữ tình.

. Các yếu tố nghệ thuật đặc sắc.

  • Vẻ đẹp tư tưởng, tâm hồn của tác giả.

Ngôn chí (*)

(Bài 3)

Nguyễn Trãi

Am trúc hiện mai ngày tháng qua.
Thị phi nào đến cõi yên hà(2),
Cơm ăn dầu có dưa muối;
Áo mặc nài chi gấm là(4).
Nước dưỡng(5) cho thanh, trì thưởng nguyệt;
Đất cày ngõ ải, lảnh ương hoa.
Trong khi húng động vừa đêm tuyết,
Ngâm được câu thần dặng dăng ca.

*

Ngôn chí: chùm thơ gồm 21 bài trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi. Ở đây, nhan đề Ngôn chi không giới hạn “nói chỉ” trong phạm vi hẹp ( chí, chí khí, chỉ nam nhi) mà hàm chứa cả chỉ lẫn tình của nhà thơ.

1

Hiên mai: chỉ nơi ở yên tĩnh của người ẩn dật (hiên: mái hiên; mai: hoa mai, cây mai).

2

Thị phi: điều phải và điều trái, ý nói dư luận của người đời.

3

Yên hà: chỉ chốn thiên nhiên thanh tĩnh, cách xa cuộc sống xô bồ (yên: khói sương, khỏi sóng; hà: ráng trời, ảnh rực rỡ của bầu trời lúc bình minh hoặc hoàng hôn).

4

Là: một loại vải the mỏng.

5

Dưỡng: nuôi dưỡng, giữ gìn.

6

Tri: ao.

7

Ngõ ái gần được ái (ái đất trồng trọt sau khi đã được cày cuốc, được phơi nắng thành khô và tơi, bở).

8

Hứng động: cảm hứng, thì hứng được khơi dậy.

9

Dặng dặng: cất tiếng mà ngâm, ca.

Một số điều cần lưu ý khi đọc văn bản:

Đề tài, thì liệu, thể loại của văn bản.

. Cảm hứng lịch sử và cảm hứng thế sự trong văn bản.

. Niềm tự hào về mảnh đất chiến địa, từng lưu dấu nhiều chiến công hiển hách của cha ông.

Sự suy ngẫm sâu sắc của tác giả về lịch sử.

Bạch Đằng hải khẩu

(Cửa biển Bạch Đằng)

Nguyễn Trãi

Phiên âm

Sóc phong xuy hải khí lăng lăng,
Khinh khỏi ngâm phàm quá Bạch Đằng.
Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc,
Qua trẩm kích chiết ngạn tằng tằng.
Quan hà bách nhị do thiên thiết,
Hào kiệt công danh thủ địa tằng,
Vãng sự hồi đầu ta đã ,
Lâm lưu phủ cảnh ý nan thăng.

Dịch nghĩa

Gió bấc thổi trên biển, khí nổi cuốn cuộn,
Nhẹ giương cánh buồm thơ lướt qua cửa biển Bạch Đằng.
Như cá sấu bị chặt, cá kình bị mổ, núi uốn lượn quanh co,
Như cây giáo bị chìm, như chiếc kích bị gãy, bờ xếp chồng lởm chởm.
Hình thế núi sông hiểm yếu(1) do trời bày đặt,
Đây từng là nơi các bậc anh hùng hào kiệt lập công danh(2).
Việc cũ ngoái đầu nhìn lại, ôi đã qua rồi,
Tới bên dòng ngắm cảnh, ý khôn nói xiết.

1

Núi sông hiểm yếu: nguyên văn là: "quan hả bách nhị", dẫn chữ trong Sử ki của Tư Mã Thiên, ý nói dựa vào địa hình núi sông hiểm trở nên hai người có thể địch nổi trăm người.

2

Câu thơ muốn nhắc đến các anh hùng dân tộc từng lập nên kì tích trên sông Bạch Đằng: Ngô Quyền với chiến công đánh đuổi quân Nam Hán năm 938, Trần Hưng Đạo với cuộc đại phá quân Nguyên năm 1288,...

Dịch thơ

Biển rung gió bấc thế bừng bừng,
Nhẹ cất buồm thơ lướt Bạch Đằng.
Kình ngạc băm vằm non mấy khúc,
Giáo gươm chìm gầy bãi bao tầng.
Quan hà hiểm yếu trời kia đặt,
Hào kiệt công danh đất ấy từng,
Việc trước quay đầu ôi đã vắng,
Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng.

(Nguyễn Đình Hồ dịch, Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi,
NXB Văn hoá – Viện Văn học, Hà Nội, 1962, tr. 27-28)

Xem bản PDF nguyên trang sách: Ngữ văn 10 tập 2 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 4–36).