Yêu cầu cần đạt

  • Nêu được cơ sở hình thành của các nền văn minh có trên đất nước Việt Nam: văn minh Văn Lang - Âu Lạc (văn minh sông Hồng), văn minh Chăm-pa, văn minh Phù Nam. Trình bày được một số thành tựu tiêu biểu của các nền văn minh cổ.
  • Biết cách sưu tâm và sử dụng tư liệu lịch sử để tìm hiểu về văn mình Văn Lang - Âu Lạc.
  • Nhận biết được và trân trọng giá trị trường tốn của các nền văn minh cổ trên đất nước Việt Nam.
  • Biết vận dụng những hiểu biết về các nền văn mình cố để giới thiệu về đất nước, con người Việt Nam.

Từ hơn 2000 năm trước, trên lãnh thổ Việt Nam đã từng bước hình thành ba trung tâm văn minh gắn với ba quốc gia cổ. Các hiện vật trong Hình 1 là những tư liệu quý giúp các em tìm hiểu về các nền văn minh cổ trên đất nước Việt Nam một cách chân thực và sinh động. Những hiện vật đó gợi cho em liên tưởng đến những nền văn minh nào? Những nền văn minh đó có những thành tựu gì nổi bật?

Với cuộc sống

1. 1.. Trống đồng Ngọc Lũ (Hà Nam)
1. 2.. Đài thờ Trà Kiệu (Quảng Nam)
1.3.. Bình gốm ken-di (thuộc văn hoá Óc Eo)
Hình 1.. Một số hiện vật tiêu biểu của các nền văn minh cổ trên đất nước Việt Nam

Văn minh Văn Lang - Âu Lạc

Văn minh Văn Lang - Âu Lạc (còn gọi là văn minh sông Hồng, văn minh Việt cổ, văn minh Đông Sơn) có nguồn gốc bản địa, chủ nhân là các cộng đồng người Việt cổ, được hình thành và phát triển từ đầu thiên niên kỉ I TCN đến vài thế kỉ đầu Công nguyên ở khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam ngày nay.

Cơ sở hình thành

• Điều kiện tự nhiên

Văn minh Văn Lang - Âu Lạc được hình thành trên lưu vực các dòng sông như sông Hồng, sông Mã, sông Cả,... Khu vực này đất đai màu mỡ, hệ thống sông ngòi dày đặc, khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa,... thuận lợi cho động vật, thực vật sinh sôi, nảy nở, phát triển nông nghiệp, đặc biệt là nghề trồng lúa nước. Khoáng sản có các mỏ đồng, sắt, thiếc, chì,... thuận lợi cho nghề luyện kim phát triển sớm.

EM CÓ BIẾT?

Khảo cổ học liên tiếp phát hiện ra dấu tích các nền văn hoá đóng thau tiền Đông Sơn ở Việt Nam. Điều này đã bác bỏ quan điểm của một số nhà nghiên cứu cho rằng văn hoá Đông Sơn được du nhập từ bên ngoài.

Hình 2.. Sông Hồng – đoạn chảy qua địa phận Hà Nội ngày nay

• Cơ sở xã hội

Văn minh Văn Lang - Âu Lạc có cội nguồn từ văn hoá Phùng Nguyên (khoảng 4000 năm trước), phát triển rực rỡ trong thời kì văn hoá Đông Sơn. Trong hơn hai thiên niên kỉ, sự phát triển của công cụ lao động, các hoạt động sản xuất đã dẫn tới những thay đổi lớn: sự tan rã của xã hội nguyên thuỷ, phân hoá xã hội và sự ra đời của nhà nước.

Em hãy cho biết: Nến văn minh Văn Lang - Âu Lạc được hình thành và phát triển dựa trên những cơ sở nào?

Một số thành tựu tiêu biểu

• Sự ra đời của nhà nước

Nhà nước Văn Lang xuất hiện cách ngày nay khoảng 2 700 năm và tồn tại đến năm 208 TCN; kinh đô là Phong Châu (Việt Trì, Phú Thọ ngày nay). Tổ chức nhà nước Văn Lang còn khá sơ khai.

Sơ đồ tổ chức Nhà nước Văn Lang: Trung ương gồm Hùng Vương (Giúp việc cho Hùng Vương là Lạc hầu) và Bộ (Đứng đầu là Lạc tướng). Địa phương gồm Chiềng, chạ (Đứng đầu là Bộ chính).
Hình 3.. Sơ đồ tổ chức Nhà nước Văn Lang

Tiếp nối Nhà nước Văn Lang là Nhà nước Âu Lạc (208 - 179 TCN); kinh đô ở Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội ngày nay); đứng đầu nhà nước là Thục Phán - An Dương Vương; giúp việc cho vua cũng là Lạc hầu; dưới địa phương vẫn do các Lạc tướng cai quản.

• Hoạt động kinh tế

Trên những điểm tụ cư ở các gò đồi, chân núi, các dải đất cao ven sông, cư dân Văn Lang - Âu Lạc đã khai phá đất đai, mở rộng diện tích trồng lúa nước bằng nhiều hình thức canh tác phù hợp: làm rẫy (vùng đồi núi, địa hình dốc)

EM CÓ BIẾT?

Các nhà khảo có đã tìm được nhiều khuôn đúc, nồi nấu đồng, rót đồng trong các di tích Làng Cả (Phú Thọ); Làng Vạc, Đồng Mõm (Nghệ An) và mảnh khuôn đúc trống đồng ở Luy Lâu (Bắc Ninh) thuộc thời kì Đông Sơn.

và làm ruộng (vùng đồng bằng, đất phù sa màu mỡ, thuận lợi tưới tiêu). Cư dân Văn Lang - Âu Lạc đã có bước tiến lớn về công cụ và kĩ thuật canh tác nông nghiệp. Ngoài ra, các nghề chân nuôi, đánh cá và làm thủ công cũng phát triển.

Thời kì Đông Sơn, một số nghề thủ công (chế tác đá, làm gốm, mộc, dệt, luyện kim,...) phát triển mạnh mẽ. Trong đó, nghề đúc đồng phát triển vượt bậc, với nhiều sản phẩm được chế tác tinh xảo (công cụ lao động, đồ trang sức, vũ khí, trống đồng, thạp đồng....). Cho đến nay, kĩ thuật đúc trống đồng, thạp đồng.... của người Việt cổ vẫn còn nhiều điều bí ẩn.

Hình 4.. Muôi đồng Việt Khê (Hải Phòng)
Hình 5.. Lưỡi cày đồng Cổ Loa (Hà Nội)
EM CÓ BIẾT?

Cho đến nay, đã có gần 300 trống đồng Đông Sơn được phát hiện trên lãnh thổ Việt Nam. Trống đồng Đông Sơn còn được tìm thấy ở nhiều nơi khác như miền Nam Trung Quốc, các nước Đông Nam Á,... Trong đó, Việt Nam là trung tâm xuất hiện, truyền bá sớm và quan trọng.

Hình 6.. Trống đồng Ngọc Lũ (Hà Nam)

• Đời sống vật chất

Thành phần chính trong bữa ăn hằng ngày của người Việt cổ là cơm, rau, cá,... Lương thực chính là lúa gạo; thức ăn gồm các loại rau, củ, quả và các sản phẩm của nghề đánh cá, săn bắt và chăn nuôi.

Về trang phục: Thường ngày, phụ nữ mặc váy và áo yếm, đàn ông đóng khố, ở trần, đi chân đất, tóc để xoã ngang vai hoặc để dài búi tó. Họ thích sử dụng đồ trang sức được làm từ sừng, ngà động vật, đá, kim loại (sắt, đồng)....

Về nhà ở: Cư dân chủ yếu cư trú trong các nhà sàn làm bằng gỗ, tre, nứa, lá (cả miền núi và đồng bằng). Những ngôi nhà quây quần trong một khu vực tạo thành những xóm làng định cư.

Người Việt cổ đi lại chủ yếu bằng đường thuỷ (đường sông, đường biển), phương tiện chính là thuyền, bè,...

7.1.. Hình đôi nam nữ giã gạo trên mặt trống đồng Ngọc Lũ (Hà Nam)
7.2.. Tượng trên cán kiếm ngắn Đông Sơn (Thanh Hoá)
7.4.. Hoa văn hình thuyền trang trí trên thân thạp đồng Đào Thịnh (Yên Bái)
7.3.. Hình nhà sàn mái cong trên mặt trống đồng Hoàng Hạ (Hà Nội)
Hình 7.. Một số hoạ tiết trang trí trên các hiện vật thuộc văn hoá Đông Sơn

• Đời sống tinh thần

Tín ngưỡng: Cư dân Văn Lang - Âu Lạc có tục thờ cúng tổ tiên và những người có công với cộng đồng, thờ các vị thần tự nhiên và tín ngưỡng phồn thực.

Nghệ thuật: Cư dân Văn Lang - Âu Lạc đã đạt đến một trình độ thẩm mĩ khá cao. Những tác phẩm như: trống đồng, thạp đồng, đồ trang sức hay tượng người, chim, thú hoặc trang trí trên các công cụ, vũ khí,... vừa thể hiện trình độ chế tác tinh xảo, kĩ thuật cao, giàu tính nghệ thuật, vừa phản ánh đời sống tinh thần phong phú của cư dân thời kì này.

8.1. Vòng ống tay bằng đồng có gắn lục lạc
8.2. Khuyên tai hình vành khăn làm bằng đá phiến, thuỷ tinh và ngọc
Hình 8. Một số đồ trang sức của cư dân Đông Sơn

Âm nhạc khá phát triển với sự xuất hiện của nhiều loại nhạc cụ và hình thức biểu diễn.

Trống đồng Đông Sơn trước hết là một loại nhạc khí dùng trong các dịp lễ, tết lớn của cộng đồng. Bằng kĩ thuật điêu luyện, cư dân Văn Lang - Âu Lạc đã tạo nên những chiếc trống với âm thanh trầm hùng.

Trên trống đồng, thạp đồng có trang trí hoạ tiết là các giàn trống (từ 2 đến 4 chiếc), giàn công (từ 6 đến 8 chiếc), cảnh tốp nam nữ mặc trang phục đẹp, đầu đội mũ lông chim, vừa múa, hát, vừa sử dụng những nhạc khi khác nhau (khèn, sênh, chuông, phách,...).

TƯ LIỆU 1

Nến văn minh của người Việt cổ với biểu tượng trống đồng Đông Sơn thực chất là một nền văn minh nông nghiệp trống lúa nước dựa trên nền tảng cộng đồng xóm làng và một cơ cấu chính trị nhà nước phôi thai; không những đã vươn tới một trình độ phát triển khá cao, mà còn xác lập lối sống Việt Nam, truyền thống Việt Nam, đặt cơ sở vững chắc cho toàn bộ sự tồn tại và phát triển của quốc gia – dân tộc sau đó.
(Theo Phan Huy Lê (Chủ biên), Lịch sử Việt Nam, Tập 1, Sđd, tr. 173)

Xem bản PDF nguyên trang sách: Lịch sử 10 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 93–98).