Các bản đồ địa lí có nội dung rất phong phú và đa dạng, bao gồm các đối tượng tự nhiên, kinh tế – xã hội. Muốn sử dụng, khai thác bản đồ có hiệu quả, chúng ta phải có những hiểu biết về các phương pháp biểu hiện các đối tượng trên bản đồ. Có những phương pháp nào biểu hiện các đối tượng địa lí trên bản đồ? Các phương pháp đó có gì khác biệt?

Phương pháp kí hiệu

Phương pháp kí hiệu dùng để thể hiện các đối tượng địa lí phân bố theo những điểm cụ thể (đỉnh núi, các mỏ khoáng sản,...) hay những đối tượng tập trung trên những diện tích nhỏ mà không thể biểu hiện trên bản đồ theo tỉ lệ (nhà máy, điểm dân cư, trường học,...).

Trên bản đồ, người ta dùng các dạng kí hiệu bản đồ khác nhau để thể hiện cho từng đối tượng, được đặt chính xác vào vị trí mà đối tượng đó phân bố trên bản đồ.

Phương pháp kí hiệu có khả năng thể hiện về mặt chất lượng, số lượng, cấu trúc, sự phát triển và phân bố của đối tượng thông qua hình dạng, màu sắc, kích thước,... của kí hiệu.

Hình 2.1.. Bản đồ Việt Nam hiển thị các nhà máy điện (nhiệt điện, thủy điện) với các kích thước khác nhau (trên 1000 MW, dưới 1000 MW) và hệ thống trạm, đường dây tải điện (500 KV, 200 KV). Các tỉnh thành được đánh dấu. Có chú thích về biên giới quốc gia, biên giới quốc gia chưa xác định hoặc đang tranh chấp.

2.

Dựa vào thông tin trong mục 1 và hình 2.1, trình bày phương pháp kí hiệu (đối tượng, hình thức và khả năng thể hiện).

Phương pháp kí hiệu đường chuyển động

Phương pháp kí hiệu đường chuyển động dùng để thể hiện sự di chuyển của các đối tượng, hiện tượng tự nhiên, kinh tế – xã hội trên bản đồ.

Trên bản đồ, sự di chuyển của các đối tượng được thể hiện bằng các mũi tên.

Đặc điểm của đối tượng, hiện tượng được thể hiện thông qua màu sắc, độ rộng và hướng của mũi tên.

Hình 2.2.. Bản đồ Việt Nam hiển thị hướng gió mùa đông (mũi tên xanh) và gió mùa hạ (mũi tên đỏ). Các đường đẳng trị bão được thể hiện bằng các đường tròn đồng tâm với các mức độ khác nhau (từ 1 đến 1,3 cơn bão/tháng, từ 1,3 đến 1,7 cơn bão/tháng, trên 1,7 cơn bão/tháng). Các tháng có bão cũng được ghi chú (tháng 10, tháng 12).

3.

Dựa vào thông tin trong mục 2 và hình 2.2, hãy trình bày phương pháp kí hiệu đường chuyển động (đối tượng, hình thức và khả năng thể hiện).

Phương pháp bản đồ – biểu đồ

Phương pháp bản đồ – biểu đồ thể hiện giá trị tổng cộng của đối tượng địa lí theo từng lãnh thổ (đơn vị hành chính) bằng cách đặt các biểu đồ vào phạm vi của các đơn vị lãnh thổ đó. Ví dụ: giá trị xuất khẩu và nhập khẩu của các quốc gia; số dân của một tỉnh, sản lượng lúa của các tỉnh trong quốc gia....

Trên bản đồ, người ta có thể sử dụng các loại biểu đồ khác nhau: biểu đồ cột, biểu đồ tròn.....

Phương pháp này thể hiện được các đặc điểm về số lượng, chất lượng của các đối tượng và thường dùng để thể hiện trên bản đồ kinh tế – xã hội.

Hình 2.3.. Bản đồ Việt Nam hiển thị diện tích và sản lượng lúa cả năm của các tỉnh, thành phố bằng biểu đồ cột đặt trong phạm vi từng tỉnh. Các tỉnh được đánh số từ 1 đến 12. Có chú thích về biên giới quốc gia, biên giới quốc gia chưa xác định hoặc đang tranh chấp.

3.

Dựa vào thông tin trong mục 3 và hình 2.3, hãy trình bày phương pháp bản đồ – biểu đồ (đối tượng, hình thức và khả năng thể hiện).

Phương pháp chấm điểm

Phương pháp chấm điểm biểu hiện các đối tượng phân tán nhỏ lẻ trên lãnh thổ bằng sự phân bố của các điểm chấm trên bản đồ. Mỗi một điểm chấm tương ứng với một số lượng của đối tượng nhất định.

Phương pháp này chủ yếu thể hiện về số lượng của đối tượng.

Hình 2.4.. Bản đồ châu Á hiển thị phân bố dân cư bằng phương pháp chấm điểm. Các điểm chấm có kích thước khác nhau thể hiện đô thị từ 20 triệu người trở lên, từ 10 đến dưới 20 triệu người, từ 5 đến dưới 10 triệu người. Mỗi chấm nhỏ tương ứng 500.000 người. Có chú thích về biên giới quốc gia và biên giới quốc gia chưa xác định hoặc đang tranh chấp.

3.

Dựa vào thông tin trong mục 4 và hình 2.4, hãy trình bày phương pháp chấm điểm (đối tượng, hình thức và khả năng thể hiện).

Phương pháp khoanh vùng

Phương pháp khoanh vùng thể hiện những đối tượng phân bố theo vùng nhưng không đều khắp trên lãnh thổ mà chỉ có ở từng vùng nhất định. Ví dụ: vùng phân bố các dân tộc khác nhau, vùng rừng, đồng cỏ,...

Có nhiều cách khác nhau để khoanh vùng trên bản đồ như dùng các đường nét liền, đường nét đứt, màu sắc, kí hiệu hoặc viết tên đối tượng vào vùng đó.

Hình 2.5.. Hai bản đồ nhỏ minh họa cách khoanh vùng. a) Khoanh vùng có ranh giới rõ rệt: vùng trồng cây thuốc nam được khoanh bằng đường nét liền. b) Khoanh vùng không có ranh giới rõ rệt: vùng trồng cây thuốc nam được khoanh bằng các chấm nhỏ.

3.

Dựa vào thông tin trong mục 5 và hình 2.5, hãy trình bày phương pháp khoanh vùng (đối tượng, hình thức và khả năng thể hiện).

Ngoài các phương pháp thể hiện bản đồ nói trên, còn có các phương pháp khác để thể hiện các đối tượng địa lí lên bản đồ như: phương pháp kí hiệu theo đường, phương pháp đường đẳng trị, phương pháp nền chất lượng, phương pháp bản đồ – mật độ và phương pháp biểu đồ định vị.

1.

Lập bảng để phân biệt một số phương pháp biểu hiện các đối tượng địa lí trên bản đồ (về đối tượng, hình thức, khả năng thể hiện của phương pháp).

2.

Phương pháp nào sẽ được sử dụng khi biểu hiện các đối tượng, hiện tượng sau trên bản đồ? Mỏ khoáng sản Sự di dân từ nông thôn ra đô thị Phân bố dân cư nông thôn Số học sinh các xã, phường, thị trấn Cơ sở sản xuất

Sưu tầm một số bản đồ, tìm hiểu các đối tượng và phương pháp đã được sử dụng để biểu hiện các đối tượng đó trên bản đồ.

Xem bản PDF nguyên trang sách: Địa lí 10 – Kết nối tri thức với cuộc sống (trang 7–11).